Trạng cờ Quý Tỵ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trạng cờ Quý Tỵ là một game show truyền hình chuyên biệt của Việt Nam do Đài Truyền hình kỹ thuật số VTCLiên đoàn cờ Việt Nam phối hợp tổ chức năm 2013.[1] Đây là trò chơi truyền hình về cờ tướng đầu tiên ở Việt Nam.[2] Phạm Quốc Hương trở thành Trạng cờ sau khi vượt qua Nguyễn Anh Quân 1,5-0,5 ở trận chung kết.

Thể thức thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Tại game show này, các kỳ thủ, không phân biệt chuyên nghiệp hay nghiệp dư, đều được đăng ký tham dự. Các kỳ thủ có thể đăng ký theo câu lạc bộ hoặc tự do. Kỳ thủ thi đấu tranh giải cá nhân gồm 2 vòng:[1]

Vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại chia ra hai bảng đấu khu vực phía Bắc và phía Nam, thi đấu theo hệ Thụy Sĩ. Dựa vào số lượng kỳ thủ, ở phía Bắc với 288 kỳ thủ thi đấu 11 ván, phía Nam 68 kỳ thủ thi đấu 9 ván. Các ván đấu cờ nhanh, mỗi bên 25 phút không có lũy tiến. Vòng loại chọn ra 16 đấu thủ chính thức và 4 đấu thủ dự bị ở khu vực phía Bắc và 16 đấu thủ ở khu vực phía Nam vào vòng chung kết.

Vòng chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Bốc thăm và thi đấu loại trực tiếp giữa 32 kỳ thủ đã qua vòng loại. Vòng 1/32, mỗi trận gồm 2 ván cờ nhanh, mỗi bên 25 phút. Nếu hòa nhau thì sẽ bốc thăm chọn màu quân cho 2 đấu thủ thi đấu một ván cờ chớp, bên đi trước có 6 phút, bên đi sau 5 phút. Bên đi sau là người giành chiến thắng nếu kết quả hòa hoặc thắng ván cờ này. Các trận đấu ở vòng chung kết sẽ được ghi hình trực tiếp tại Đài truyền hình VTC vào hai ngày cuối tuần. Từ vòng 1/16 trở đi, mội trận chỉ gồm 1 ván cờ nhanh 25 phút không lũy tiến. Hai kỳ thủ bốc thăm chọn tiên hậu. Nếu hòa sẽ đánh 1 ván cờ chớp 6 phút, 5 phút, kỳ thủ đi sau ở ván cờ nhanh được quyền chọn tiên hậu ở ván cờ chớp. Nếu vẫn hòa thì kỳ thủ đi sau ở ván cờ chớp chiến thắng và lọt vào vòng sau.

Nhà vô địch sẽ được tôn vinh tấn phong "Trạng cờ". các kỳ thủ hạng nhì và hạng ba lần lượt được nhận danh hiệu Bảng nhãn và Thám hoa.

Danh sách kỳ thủ[sửa | sửa mã nguồn]

32 kỳ thủ lọt vào vòng chung kết ở hai bảng phía Bắc và phía Nam (xếp theo thứ tự thành tích vòng loại).[1]

Phía Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trần Văn Ninh
  2. Phạm Quốc Hương
  3. Đào Cao Khoa
  4. Nguyễn Hoàng Chiến
  5. Nguyễn Khánh Ngọc
  6. Trần Trung Kiên
  7. Đinh Quang Hưng
  8. Phùng Quang Điệp
  9. Hoàng Văn Linh
  10. Lê Linh Ngọc
  11. Trần Quyết Thắng
  12. Đỗ Như Khánh
  13. Nguyễn Văn Quảng
  14. Võ Văn Hùng
  15. Nguyễn Anh Quân
  16. Phạm Đình Huy

Phía Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ngô Ngọc Minh
  2. Võ Minh Nhất
  3. Trần Cẩm Long
  4. Trần Thanh Tân
  5. Tôn Thất Nhật Tân
  6. Nguyễn Anh Hoàng
  7. Diệp Khai Nguyên
  8. Phan Phúc Trường
  9. Nguyễn Trần Đỗ Ninh
  10. Nguyễn Thanh Tùng
  11. Nguyễn Hữu Hùng
  12. Nguyễn Hoàng Lâm
  13. Lê Minh Trí
  14. Nguyễn Phúc Lợi
  15. Lê Minh
  16. Nguyễn Phùng Xuân

Vòng chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tại vòng chung kết, ván đấu cờ nhanh thứ hai và ván đấu cờ chớp (nếu có) sẽ được tường thuật trực tiếp, với một bình luận viên của đài, một bình luận viên chuyên môn và một bình luận viên văn hóa (nhà văn Nguyễn Khắc Phục,[2] nhà báo Nguyễn Lưu...). Hai kỳ thủ thi đấu với trang phục truyền thống, bối cảnh chốn bồng lai tiên cảnh có cỏ, cây, hoa, lá... trên một bàn cờ lớn rộng 4m², có các "tiên nữ" hỗ trợ đi cờ.[3] Từ vòng thứ hai trở đi các cặp đấu chỉ có 1 ván cờ nhanh, bốc thăm người đi trước. Nếu hòa thì người đi sau có quyền chọn màu quân trong ván cờ chớp (hòa thì người đi sau trong ván cờ chớp thắng chung cuộc).

Vòng đấu đầu tiên của vòng chung kết diễn ra từ 20 tháng 7 đến 8 tháng 9. 32 kỳ thủ vào vòng chung kết có kết quả bốc thăm và thi đấu như sau.[4][5]

Vòng một Vòng hai Tứ kết Bán kết
Kỳ thủ xếp trên
đi tiên ván 1
Kỳ thủ xếp trên
đi tiên ván cờ nhanh
Kỳ thủ xếp trên
đi tiên ván cờ nhanh
Kỳ thủ xếp trên
đi tiên ván cờ nhanh
                           
3 tháng 8            
  Nguyễn Hoàng Lâm   0
22 tháng 9
  Phạm Quốc Hương   2  
  Phạm Quốc Hương  
8 tháng 9
    Đinh Quang Hưng   ½  
  Đinh Quang Hưng   2
19 tháng 10
  Nguyễn Văn Quảng   1  
  Phạm Quốc Hương   1
17 tháng 8
    Trần Cẩm Long   0  
  Trần Thanh Tân   2
28 tháng 9
  Lê Minh Trí   0  
  Trần Thanh Tân   ½
28 tháng 7
    Trần Cẩm Long    
  Tôn Thất Nhật Tân   1
2 tháng 11
  Trần Cẩm Long   2  
  Phạm Quốc Hương  
27 tháng 7
    Nguyễn Trần Đỗ Ninh   ½
  Nguyễn Trần Đỗ Ninh   2
29 tháng 9
  Lê Linh Ngọc   1  
  Nguyễn Trần Đỗ Ninh   1
1 tháng 9
    Phan Phúc Trường   0  
  Phan Phúc Trường  
26 tháng 10
  Phạm Đình Huy   ½  
  Nguyễn Trần Đỗ Ninh   1
4 tháng 8
    Trần Văn Ninh   0  
  Trần Văn Ninh   2
15 tháng 9
  Phùng Quang Điệp   0  
  Trần Văn Ninh   1
21 tháng 7
    Võ Minh Nhất   0  
  Võ Minh Nhất  
  Nguyễn Khánh Ngọc   ½  
10 tháng 8            
  Võ Văn Hùng   2
29 tháng 9
  Nguyễn Phùng Xuân   0  
  Võ Văn Hùng   1
25 tháng 8
    Nguyễn Phúc Lợi   0  
  Hoàng Văn Linh   0
27 tháng 10
  Nguyễn Phúc Lợi   2  
  Võ Văn Hùng   ½
20 tháng 7
    Nguyễn Anh Quân    
  Nguyễn Hoàng Chiến   ½
14 tháng 9
  Nguyễn Anh Quân    
  Nguyễn Anh Quân   1
7 tháng 9
    Trần Trung Kiên   0  
  Trần Trung Kiên   2
3 tháng 11
  Lê Minh   1  
  Nguyễn Anh Quân   1
31 tháng 8
    Trần Quyết Thắng   0
  Đỗ Như Khánh   0
28 tháng 9
  Diệp Khai Nguyên   2  
  Diệp Khai Nguyên   1
24 tháng 8
    Ngô Ngọc Minh   0  
  Nguyễn Anh Hoàng   ½
20 tháng 10
  Ngô Ngọc Minh    
  Diệp Khai Nguyên   ½
18 tháng 8
    Trần Quyết Thắng    
  Nguyễn Thanh Tùng   ½
21 tháng 9
  Đào Cao Khoa    
  Đào Cao Khoa   0
11 tháng 8
    Trần Quyết Thắng   1  
  Trần Quyết Thắng   2
  Nguyễn Hữu Hùng   0  
Chung kết
Phạm Quốc Hương
Nguyễn Anh Quân ½

Tranh giải ba :Nguyễn Trần Đỗ Ninh 1 : 0 Trần Quyết Thắng

Kết quả chung cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Kỳ thủ
1 Trạng cờ Phạm Quốc Hương
2 Bảng nhãn Nguyễn Anh Quân
3 Thám hoa Nguyễn Trần Đỗ Ninh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]