Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Thai ngoài tử cung”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
fix ref
Dòng 15: Dòng 15:
}}
}}


'''Thai ngoài tử cung''' là một biến chứng thai kỳ, trong đó phôi thai làm tổ bên ngoài [[tử cung]].<ref>{{chú thích sách |author=Page EW, Villee CA, Villee DB |title=Human Reproduction, 2nd Edition |publisher= W. B. Saunders, Philadelphia, 1976| isbn=0-7216-7042-3 |page=211}}</ref> Các dấu hiệu và triệu chứng cổ điển bao gồm đau bụng và chảy máu âm đạo. Ít hơn 50 phần trăm phụ nữ có cả hai triệu chứng trên. Cơn đau có thể được mô tả như là rát bỏng, nhẹ nhàng, hoặc quặn thắt. Cơn đau cũng có thể lan đến vai nếu có chảy máu vào trong ổ bụng.<ref name="Crochet2013">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Chảy máu ồ ạt có thể dẫn đến [[nhịp tim nhanh bất thường]], [[ngất xỉu]], hoặc sốc.<ref name="kirk2013">{{Chú thích tạp chí}}</ref><ref name="Crochet2013">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Trong hầu hết các trường hợp [[bào thai]] không thể sống sót.<ref>{{Chú thích tạp chí}}</ref>
'''Thai ngoài tử cung''' là một biến chứng thai kỳ, trong đó phôi thai làm tổ bên ngoài [[tử cung]].<ref>{{chú thích sách |author=Page EW, Villee CA, Villee DB |title=Human Reproduction, 2nd Edition |publisher= W. B. Saunders, Philadelphia, 1976| isbn=0-7216-7042-3 |page=211}}</ref> Các dấu hiệu và triệu chứng cổ điển bao gồm đau bụng và chảy máu âm đạo. Ít hơn 50 phần trăm phụ nữ có cả hai triệu chứng trên. Cơn đau có thể được mô tả như là rát bỏng, nhẹ nhàng, hoặc quặn thắt. Cơn đau cũng có thể lan đến vai nếu có chảy máu vào trong ổ bụng.<ref name=Crochet2013/> Chảy máu ồ ạt có thể dẫn đến [[nhịp tim nhanh bất thường]], [[ngất xỉu]], hoặc sốc.<ref name=kirk2013/><ref name=Crochet2013/> Trong hầu hết các trường hợp [[bào thai]] không thể sống sót.<ref>{{cite journal|last1=Zhang|first1=J|last2=Li|first2=F|last3=Sheng|first3=Q|title=Full-term abdominal pregnancy: a case report and review of the literature.|journal=Gynecologic and obstetric investigation|date=2008|volume=65|issue=2|pages=139–41|pmid=17957101|doi=10.1159/000110015}}</ref>


Yếu tố nguy cơ cho thai ngoài tử cung bao gồm: bệnh viêm vùng chậu, thường là do [[bệnh Chlamydia]],
Yếu tố nguy cơ cho thai ngoài tử cung bao gồm: bệnh viêm vùng chậu, thường là do [[bệnh Chlamydia]],
hút thuốc lá, phẫu thuật ống dẫn trứng trước, bệnh sử [[vô sinh]], và việc sử dụng các [[Hỗ trợ sinh sản|công nghệ hỗ trợ sinh sản]]. Những người trước đây đã từng có thai ngoài tử cung có nguy cơ tái diễn thai ngoài cao hơn nhiều. Hầu hết các thai ngoài tử cung (90%) xảy ra trong ống dẫn trứng (Fallopian) được gọi là thai ngoài ống tử cung.<ref name="Cec2014">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Cấy thai cũng có thể xảy ra ở cổ tử cung, [[buồng trứng]], hoặc bên trong [[Bụng|ổ bụng]].<ref name="Crochet2013">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Phát hiện mang thai ngoài tử cung thường là bằng cách xét nghiệm máu cho gonadotropin màng đệm người (hCG) và [[siêu âm]]. Điều này có thể yêu cầu xét nghiệm nhiều hơn một lần. Siêu âm làm việc tốt nhất khi được thực hiện từ bên trong âm đạo. Các nguyên nhân khác có triệu chứng tương tự bao gồm: [[hư thai]], xoắn buồng trứng, và [[Viêm ruột thừa|viêm ruột thừa cấp tính]].<ref name="Crochet2013">{{Chú thích tạp chí}}</ref>
hút thuốc lá, phẫu thuật ống dẫn trứng trước, bệnh sử [[vô sinh]], và việc sử dụng các [[Hỗ trợ sinh sản|công nghệ hỗ trợ sinh sản]]. Những người trước đây đã từng có thai ngoài tử cung có nguy cơ tái diễn thai ngoài cao hơn nhiều. Hầu hết các thai ngoài tử cung (90%) xảy ra trong ống dẫn trứng (Fallopian) được gọi là thai ngoài ống tử cung.<ref name=Cec2014/> Cấy thai cũng có thể xảy ra ở cổ tử cung, [[buồng trứng]], hoặc bên trong [[Bụng|ổ bụng]].<ref name="Crochet2013">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Phát hiện mang thai ngoài tử cung thường là bằng cách xét nghiệm máu cho gonadotropin màng đệm người (hCG) và [[siêu âm]]. Điều này có thể yêu cầu xét nghiệm nhiều hơn một lần. Siêu âm làm việc tốt nhất khi được thực hiện từ bên trong âm đạo. Các nguyên nhân khác có triệu chứng tương tự bao gồm: [[hư thai]], xoắn buồng trứng, và [[Viêm ruột thừa|viêm ruột thừa cấp tính]].<ref name=Crochet2013/>


Phòng bệnh bằng cách giảm các yếu tố nguy cơ như viêm nhiễm chlamydia qua sàng lọc và điều trị.<ref name="Nama2009">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Trong khi một số thai ngoài tử cung sẽ giải quyết mà không cần điều trị, phương pháp này đã không được nghiên cứu như tính đến năm 2014. Việc sử dụng thuốc methotrexate tỏ ra hiệu quả cũng như phẫu thuật trong một số trường hợp. Cụ thể nó hoạt động tốt khi beta-HCG thấp và kích thước của thai ngoài tử cung là nhỏ. Phẫu thuật vẫn thường được đề nghị nếu ống đã bị vỡ, có nhịp tim của thai nhi, hoặc các dấu hiệu sinh tồn của bào thai là không ổn định.<ref name="Cec2014">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Phẫu thuật có thể được phẫu thuật nội soi hoặc thông qua một vết rạch lớn hơn, được gọi là phẫu thuật mở bụng.<ref name="kirk2013">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Kết quả thường là tốt với điều trị.<ref name="Cec2014">{{Chú thích tạp chí}}</ref>
Phòng bệnh bằng cách giảm các yếu tố nguy cơ như viêm nhiễm chlamydia qua sàng lọc và điều trị.<ref name=Nama2009/> Trong khi một số thai ngoài tử cung sẽ tự giải quyết mà không cần điều trị, phương pháp này đã không được nghiên cứu như tính đến năm 2014. Việc sử dụng thuốc methotrexate tỏ ra hiệu quả cũng như phẫu thuật trong một số trường hợp. Cụ thể nó hoạt động tốt khi beta-HCG thấp và kích thước của thai ngoài tử cung là nhỏ. Phẫu thuật vẫn thường được đề nghị nếu ống đã bị vỡ, có nhịp tim của thai nhi, hoặc các dấu hiệu sinh tồn của bào thai là không ổn định.<ref name=Cec2014/> Phẫu thuật có thể được phẫu thuật nội soi hoặc thông qua một vết rạch lớn hơn, được gọi là phẫu thuật mở bụng.<ref name=kirk2013/> Kết quả thường là tốt với điều trị.<ref name=Cec2014>{{cite journal|last1=Cecchino|first1=GN|last2=Araujo Júnior|first2=E|last3=Elito Júnior|first3=J|title=Methotrexate for ectopic pregnancy: when and how.|journal=Archives of gynecology and obstetrics|date=September 2014|volume=290|issue=3|pages=417–23|pmid=24791968|doi=10.1007/s00404-014-3266-9}}</ref>


Tỷ lệ mang thai ngoài tử cung là khoảng 1 và 2% của ca sinh tự nhiên tại các nước đang phát triển, mặc dù nó có thể cao tới 4% trong số những người sử dụng [[Hỗ trợ sinh sản|công nghệ hỗ trợ sinh sản]].<ref name="kirk2013">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong trong thời gian [[Thai nghén|3 tháng đầu tiên của thai kỳ]] với tỷ lệ khoảng 10% ca tử vong.<ref name="Cec2014">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Trong các [[nước công nghiệp]] tỷ lệ này đã được cải thiện trong khi ở các nước đang phát triển tỷ lệ này vẫn còn cao.<ref name="Nama2009">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Nguy cơ tử vong ở sản phụ trong thế giới phát triển là giữa 0,1 và 0,3 % trong khi ở các nước đang phát triển nó là từ 1 đến 3%.<ref>{{Chú thích web|author=Mignini L|title=Interventions for tubal ectopic pregnancy|url=http://apps.who.int/rhl/gynaecology/lmcom2/en/|website=who.int|publisher=The WHO Reproductive Health Library|accessdate=12 March 2015|date=26 September 2007}}</ref> Mô tả đầu tiên được biết đến của thai ngoài tử cung là do Albucasis thực hiện trong thế kỷ 11.<ref name="Nama2009">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Từ tiếng Anh của nó, "ectopic" có nghĩa là "sai vị trí".<ref>{{Chú thích sách}}</ref>
Tỷ lệ mang thai ngoài tử cung là khoảng 1 và 2% của ca sinh tự nhiên tại các nước đang phát triển, mặc dù nó có thể cao tới 4% trong số những người sử dụng [[Hỗ trợ sinh sản|công nghệ hỗ trợ sinh sản]].<ref name=kirk2013>{{cite journal |vauthors=Kirk E, Bottomley C, Bourne T | title = Diagnosing ectopic pregnancy and current concepts in the management of pregnancy of unknown location | journal = Hum. Reprod. Update | volume = 20 | issue = 2 | pages = 250–61 | year = 2014 | pmid = 24101604 | doi = 10.1093/humupd/dmt047 }}</ref> Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong trong thời gian [[Thai nghén|3 tháng đầu tiên của thai kỳ]] với tỷ lệ khoảng 10% ca tử vong.<ref name=Cec2014/> Trong các [[nước công nghiệp]] tỷ lệ này đã được cải thiện trong khi ở các nước đang phát triển tỷ lệ này vẫn còn cao.<ref name=Nama2009>{{cite journal|last1=Nama|first1=V|last2=Manyonda|first2=I|title=Tubal ectopic pregnancy: diagnosis and management.|journal=Archives of gynecology and obstetrics|date=April 2009|volume=279|issue=4|pages=443–53|pmid=18665380|doi=10.1007/s00404-008-0731-3}}</ref> Nguy cơ tử vong ở sản phụ trong thế giới phát triển là giữa 0,1 và 0,3 % trong khi ở các nước đang phát triển nó là từ 1 đến 3%.<ref>{{Chú thích web|author=Mignini L|title=Interventions for tubal ectopic pregnancy|url=http://apps.who.int/rhl/gynaecology/lmcom2/en/|website=who.int|publisher=The WHO Reproductive Health Library|accessdate=12 March 2015|date=26 September 2007}}</ref> Mô tả đầu tiên được biết đến của thai ngoài tử cung là do Albucasis thực hiện trong thế kỷ 11.<ref name=Nama2009/> Từ tiếng Anh của nó, "ectopic pregnancy" có nghĩa là "thai sai vị trí".<ref>{{cite book|last1=Cornog|first1=Mary Wood|title=Merriam-Webster's vocabulary uilder|date=1998|publisher=Merriam-Webster|location=Springfield, Mass.|isbn=9780877799108|page=313|url=https://books.google.ca/books?id=cyD059eY2RYC&pg=PA313}}</ref>


==Nguyên nhân==
==Nguyên nhân==


Có rất nhiều nguyên nhân gây ra thai ngoài tử cung đứng hàng đầu là nguyên nhân làm viêm nhiễm vòi trứng, trong đó nạo phá thai nhiều lần,viêm nhiễm vùng chậu là nguyên nhân thường gặp nhất. Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khácnhư: khối u phần phụ như u nang buồng trứng, những phẫu thuật được thực hiện trước đó đến vòi trứng..
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra thai ngoài tử cung đứng hàng đầu là nguyên nhân làm viêm nhiễm vòi trứng, trong đó nạo phá thai nhiều lần,viêm nhiễm vùng chậu là nguyên nhân thường gặp nhất. Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khácnhư: khối u phần phụ như u nang buồng trứng, những phẫu thuật được thực hiện trước đó đến vòi trứng.


==Tham khảo==
==Tham khảo==

Phiên bản lúc 05:45, ngày 18 tháng 10 năm 2016

Thai ngoài tử cung
Ectopic by Reinier de Graaf
Chuyên khoamidwifery, bệnh phụ khoa
ICD-10O00
ICD-9-CM633
DiseasesDB4089
MedlinePlus000895
eMedicinemed/3212 emerg/478 radio/231
Patient UKThai ngoài tử cung
MeSHD011271

Thai ngoài tử cung là một biến chứng thai kỳ, trong đó phôi thai làm tổ bên ngoài tử cung.[1] Các dấu hiệu và triệu chứng cổ điển bao gồm đau bụng và chảy máu âm đạo. Ít hơn 50 phần trăm phụ nữ có cả hai triệu chứng trên. Cơn đau có thể được mô tả như là rát bỏng, nhẹ nhàng, hoặc quặn thắt. Cơn đau cũng có thể lan đến vai nếu có chảy máu vào trong ổ bụng.[2] Chảy máu ồ ạt có thể dẫn đến nhịp tim nhanh bất thường, ngất xỉu, hoặc sốc.[3][2] Trong hầu hết các trường hợp bào thai không thể sống sót.[4]

Yếu tố nguy cơ cho thai ngoài tử cung bao gồm: bệnh viêm vùng chậu, thường là do bệnh Chlamydia, hút thuốc lá, phẫu thuật ống dẫn trứng trước, bệnh sử vô sinh, và việc sử dụng các công nghệ hỗ trợ sinh sản. Những người trước đây đã từng có thai ngoài tử cung có nguy cơ tái diễn thai ngoài cao hơn nhiều. Hầu hết các thai ngoài tử cung (90%) xảy ra trong ống dẫn trứng (Fallopian) được gọi là thai ngoài ống tử cung.[5] Cấy thai cũng có thể xảy ra ở cổ tử cung, buồng trứng, hoặc bên trong ổ bụng.[2] Phát hiện mang thai ngoài tử cung thường là bằng cách xét nghiệm máu cho gonadotropin màng đệm người (hCG) và siêu âm. Điều này có thể yêu cầu xét nghiệm nhiều hơn một lần. Siêu âm làm việc tốt nhất khi được thực hiện từ bên trong âm đạo. Các nguyên nhân khác có triệu chứng tương tự bao gồm: hư thai, xoắn buồng trứng, và viêm ruột thừa cấp tính.[2]

Phòng bệnh bằng cách giảm các yếu tố nguy cơ như viêm nhiễm chlamydia qua sàng lọc và điều trị.[6] Trong khi một số thai ngoài tử cung sẽ tự giải quyết mà không cần điều trị, phương pháp này đã không được nghiên cứu như tính đến năm 2014. Việc sử dụng thuốc methotrexate tỏ ra hiệu quả cũng như phẫu thuật trong một số trường hợp. Cụ thể nó hoạt động tốt khi beta-HCG thấp và kích thước của thai ngoài tử cung là nhỏ. Phẫu thuật vẫn thường được đề nghị nếu ống đã bị vỡ, có nhịp tim của thai nhi, hoặc các dấu hiệu sinh tồn của bào thai là không ổn định.[5] Phẫu thuật có thể được phẫu thuật nội soi hoặc thông qua một vết rạch lớn hơn, được gọi là phẫu thuật mở bụng.[3] Kết quả thường là tốt với điều trị.[5]

Tỷ lệ mang thai ngoài tử cung là khoảng 1 và 2% của ca sinh tự nhiên tại các nước đang phát triển, mặc dù nó có thể cao tới 4% trong số những người sử dụng công nghệ hỗ trợ sinh sản.[3] Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong trong thời gian 3 tháng đầu tiên của thai kỳ với tỷ lệ khoảng 10% ca tử vong.[5] Trong các nước công nghiệp tỷ lệ này đã được cải thiện trong khi ở các nước đang phát triển tỷ lệ này vẫn còn cao.[6] Nguy cơ tử vong ở sản phụ trong thế giới phát triển là giữa 0,1 và 0,3 % trong khi ở các nước đang phát triển nó là từ 1 đến 3%.[7] Mô tả đầu tiên được biết đến của thai ngoài tử cung là do Albucasis thực hiện trong thế kỷ 11.[6] Từ tiếng Anh của nó, "ectopic pregnancy" có nghĩa là "thai sai vị trí".[8]

Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra thai ngoài tử cung đứng hàng đầu là nguyên nhân làm viêm nhiễm vòi trứng, trong đó nạo phá thai nhiều lần,viêm nhiễm vùng chậu là nguyên nhân thường gặp nhất. Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khácnhư: khối u phần phụ như u nang buồng trứng, những phẫu thuật được thực hiện trước đó đến vòi trứng.

Tham khảo

  1. ^ Page EW, Villee CA, Villee DB. Human Reproduction, 2nd Edition. W. B. Saunders, Philadelphia, 1976. tr. 211. ISBN 0-7216-7042-3.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  2. ^ a b c d Chú thích trống (trợ giúp)
  3. ^ a b c Kirk E, Bottomley C, Bourne T (2014). “Diagnosing ectopic pregnancy and current concepts in the management of pregnancy of unknown location”. Hum. Reprod. Update. 20 (2): 250–61. doi:10.1093/humupd/dmt047. PMID 24101604.
  4. ^ Zhang, J; Li, F; Sheng, Q (2008). “Full-term abdominal pregnancy: a case report and review of the literature”. Gynecologic and obstetric investigation. 65 (2): 139–41. doi:10.1159/000110015. PMID 17957101.
  5. ^ a b c d Cecchino, GN; Araujo Júnior, E; Elito Júnior, J (tháng 9 năm 2014). “Methotrexate for ectopic pregnancy: when and how”. Archives of gynecology and obstetrics. 290 (3): 417–23. doi:10.1007/s00404-014-3266-9. PMID 24791968.
  6. ^ a b c Nama, V; Manyonda, I (tháng 4 năm 2009). “Tubal ectopic pregnancy: diagnosis and management”. Archives of gynecology and obstetrics. 279 (4): 443–53. doi:10.1007/s00404-008-0731-3. PMID 18665380.
  7. ^ Mignini L (26 tháng 9 năm 2007). “Interventions for tubal ectopic pregnancy”. who.int. The WHO Reproductive Health Library. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  8. ^ Cornog, Mary Wood (1998). Merriam-Webster's vocabulary uilder. Springfield, Mass.: Merriam-Webster. tr. 313. ISBN 9780877799108.

Liên kết ngoài