Hư thai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hư thai
Phân loại và tư liệu bên ngoài
[[Tập tin:{{{Image}}}|frameless|upright=1|alt=]]
ICD-10 O03
ICD-9 634

Trong y học, hư thai là trạng thái bào thai bị hoại và ngưng phát triển trước khi sanh. Đối với người cha mẹ đang trông chờ đứa con ra đời, hư thai là một biến cố đau buồn trầm trọng. Trung bình, một trong năm bào thai đang phát triển sẽ bị hư trước tuần lễ thứ 20. Ngoài ra, vì nhiều người phụ nữ không biết mình có thai khi thai bị hư trước 5 tuần và bị thải ra như một kỳ trễ kinh, người ta ước lượng tỉ lệ hư thai lên gần 50%.

Trong một cuộc thăm dò tại Úc, 75% người bị hư thai nghĩ rằng họ không được chăm sóc đàng hoàng; và 25% cần tiếp tục gặp chuyên viên y tế sau cuộc khủng hoảng này.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đại đa số các trường hợp hư thai không có nguyên nhân. Vì không thể tìm ra lý do, người mẹ thường có mặc cảm và nhiều khi sai lầm tự trách mình đã làm điều gì đó đưa đến hỏng thai. Đôi khi lại tin vào những thông tin không đúng đắn từ những người khác (như hư thai là do đi guốc cao gót, leo thang lầu, uống nước lạnh, v.v...).

Một số rất ít thai hư là do sự phát triển bất bình thường của bào thai như rối loạn nhiễm sắc thể (hội chứng Down), thiếu hoặc không có bộ phận quan trọng trong cơ thể (không có não, tim không chia thất v.v...)

Ngoài ra, thai có thể hư khi bị động chạm quá mạnh, như tai nạn xe cộ, té từ cao, hay bị bạo động. Một số hư thai do bác sĩ gây nên (như tai biến khi chọc ống hút nước ối).

Những yếu tố làm tăng cơ hội hư thai ở người mẹ: tuổi trên 35, có bệnh chuyển hoá hay nội tiết (như bệnh về giáp trạng, đái tháo đường), hoặc bị nhiễm trùng.

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Người phụ nữ đang có thai có thể bị hư thai nếu các các triệu chứng như đau bụng, âm đạo ra huyết, hoặc bớt cảm giác mình có thai (ngực hết căng và hết đau, bớt buồn ói, đôi khi có linh cảm sẩy thai).

Chẩn đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu điều kiện cho phép, nên rà siêu âm để xét nghiệm tình hình của thai và để giải đáp những lo âu của người mẹ cha. Siêu âm có thể cho nhiều thông tin về thai. Thấy được nhịp tim là điều đáng khích lệ. Tuy vậy, nếu tiếp tục ra huyết, cơ hội hư thai vẫn khoảng 50%. Khi thấy bọc thai mà không thấy thai là hiện tượng thai rỗng. Đôi khi ra huyết là do nhau bị rách một phần làm chảy máu, nhưng thai vẫn có thể phát triển bình thường. Nếu tử cung trống có thể là sẩy thai đã hoàn tất hoặc thai còn quá nhỏ không thấy được bọc thai. Siêu âm cũng được dùng để tính tuổi của thai. Nếu tính theo ngày có kinh cuối cùng, thụ thai đã lâu mà siêu âm cho thấy bọc thai quá nhỏ, không chia đầu đuôi và không thấy nhịp tim, thì có lẽ thai đã hỏng, không phát triển từ lâu.

Siêu âm cũng có thể cho biết nếu bị trường hợp thai ngoài dạ con. Đây là hiện trạng thụ thai bất thường khi thai đậu trong ống dẫn trứng thay vì trong tử cung. Khi phát triển ngoài tử cung, thai sẽ vỡ, làm chảy máu trong vùng chậu bụng. Nếu không kịp giải phẫu chữa trị cơ hội tử vong cho người mẹ rất cao.

Trong trường hợp ra huyết nhưng kết quả siêu âm không rõ ràng, có thể thử lượng hormone beta-HCG trong máu vào hai ngày cách nhau khoảng một tuần. Nếu nồng độ tăng lên gấp 3-4 lần có nghĩa là thai vẫn phát triển. Nếu tăng nhưng không tăng nhiều có thể là do thai ngoài dạ con. Nếu giảm là do thai hư.

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Không phải người nào có nguy cơ hư thai cũng phải vào bệnh viện. Nếu không bị đau bụng, không ra huyết nhiều, bệnh nhân có thể được khám tại phòng mạch bác sĩ và xét nghiệm máu, siêu âm trong vài ngày.

Khi người mẹ mất máu nhiều, trường hợp nên được xem như cấp cứu và cần vào bệnh viện. Tuy nhiên, nhân viên y tế nên dành chút thời giờ giải thích và trấn an người mẹ, người cha trong lúc họ đang hoang mang về sự sống còn của đứa con chưa ra đời. Nếu có thể, nên cho vào phòng xét nghiệm nào riêng biệt, kín đáo, ít ồn ào trong khu cấp cứu.

Cấp cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mất máu nhiều người mẹ có thể bị sốc ví thế nên được chăm sóc trong phòng cấp cứu. Y sĩ lấy máu để thử nghiệm loại máu, hemoglobinbeta-HCG. Nước biển truyền theo kim lớn để tránh huyết áp hạ quá thấp trong khi chờ đợi kết quả về bào thai và loại máu. Ít nhất 4 bịch máu nên được chuẩn bị phòng khi cần nếu ra huyết quá nhiều. Nếu người mẹ có máu nhóm Rh Trừ cần được tiêm anti-D để tránh hiện tượng hoại huyết của thai nhi trong những thai tương lai.

Nếu người mẹ bị đau quá, nên cho thuốc chống đau như morphine. Trong một vài trường hợp bệnh nhân đau quá, mặt nhợt nhạt, vã mồ hôi, hạ áp, có thể là do thai đang bị tống ra nhưng kẹt tại cổ tử cung tạo phản xạ hạ huyết áp. Y sĩ nên dùng dụng cụ mỏ vịt khám cổ tử cung - nếu thấy thai kẹt, nên dùng kìm kéo ra sẽ giúp giảm đau và bình thường hóa huyết áp.

Xét nghiệm cổ tử cung: Nếu cổ tử cung mở rộng, cần phải nạo thai. Nếu cổ tử cung kín, nên xác định có thai ngoài dạ con hay không.

Nạo tử cung[sửa | sửa mã nguồn]

Bác sĩ chuyên sản khoa sẽ quyết định nạo thai hay không tùy theo kết quả nhiều yếu tố. Nếu siêu âm cho thấy tử cung trống rỗng, không còn thai hay nhau bên trong và bệnh nhân không bị ra máu nhiều, hư thai coi như hoàn tất và không cần điều trị gì hơn là khuyên nhủ, chia buồn và giải thích vấn đề chấn thương tâm lý. Nạo tử cung lấy nhau và xác thai được tiến hành nếu máu vẫn ra nhiều, thai hỏng khi đã khá lớn và còn nhau trong tử cung. Nếu không nạo, nhau và thai sẽ hư thối trong tử cung có thể gây nhiễm trùng nội mạc và đưa đến nhiều biến chứng nguy kịch như nhiễm trùng huyếtvô sinh.

Theo dõi[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)

(tiếng Anh)

  • Miscarriage Professor Robert Jansen University of Sydney