Đại học vật lý kỹ thuật Moskva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại học Vật lý kỹ thuật Moskva
Tên tiếng anh Moscow Institute of Physics and Technology
Những thông tin cơ bản về trường
Năm thành lập 1946/1951
Thể loại Đại học Kỹ thuật
Hiệu trưởng Giáo sư, TSKH Kudryavtsev Nicolay Nicolayevich.
Sinh viên Đại học Khoảng 33.000
Học viên sau Đại học hơn 1000 học viên cao học và gần 600 nghiên cứu sinh
Khoa 10 Khoa đào tạo kỹ sư, 5 khoa hỗ trợ đào tạo
Địa chỉ Thành phố Moskva, Dolgoprudny, Zhukovsky
Thành phố Moskva
Địa chỉ web http://www.mipt.ru

Đại học Vật lý kỹ thuật Moskva là một trong 5 trường đại học kỹ thuật hàng đầu của Nga. Trường có các cơ sở tại thủ đô Moskva và các vùng phụ cận: Dolgoprudny, Zhukovsky. Trường nổi tiếng với hệ thống Fizteh với mục đích đào tạo ra các kỹ sư, nhà khoa học trong các ngành, lĩnh vực mới: vật lý thực nghiệm và lý thuyết, toán ứng dụng. Hiện nay trường cũng đang đào tạo các chuyên gia về lĩnh vực hệ thống phân tích và điều khiển, kỹ thuật tin học và tính toán, bảo mật thông tin. Năm 2009, trường mở thêm hướng nghiên cứu mới: toán tin ứng dụng.

Lịch sử thành lập trường[sửa | sửa mã nguồn]

Trường được thành lập năm 1946, do 3 viện sỹ Nga, và đã từng đoạt giải thưởng Nobel vật lý là Pyotr Kapitsa, Nikolay Nikolayevich Semyonov, Lev Davidovich Landau với mục đích là thành lập trung tâm nghiên cứu, đào tạo các nhà khoa học cho lĩnh vực quốc phòng theo hệ thống Fizteh.

Trường được tách ra từ khoa Vật lý của Đại học Quốc gia Moskva.

Hệ thống đào tạo Fizteh[sửa | sửa mã nguồn]

Pyotr Kapitsa - một trong những người thành lập trường, đã nói về hệ thống Fizteh trong bức thư gửi cho Stalin năm 1946 như sau:

  1. Đào tạo sinh viên theo các chuyên ngành và được các nhà khoa học của các viện nghiên cứu hướng dẫn trong các lĩnh vực vũ khí quân sự
  2. Xây dựng các viện nghiên cứu phù hợp cho các đối tượng sinh viên
  3. Mỗi sinh viên cần phải tham gia vào các công trình khoa học, bắt đầu từ các năm thứ 2-3
  4. Khi tốt nghiệp, mỗi sinh viên phải được trang bị các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm mới nhất, có đủ kỹ năng để giải quyết các bài toán trong lĩnh vực kỹ thuật

Sức hấp dẫn của Fizteh và quá trình chọn lọc sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Trường đại học vật lý kỹ thuật Moskva về sau trở thành một trường đại học năng khiếu đặc biệt vì nhiều lẽ. Trường được Chính phủ Liên-Xô quan tâm đặc biệt. Giảng viên ở đây phần lớn là các nhà vật lý lừng danh thế giới như Kapitsa (chuyên dạy về vật lý thực nghiệm), Landau (chuyên dạy về vật lý lý thuyết), các viện sĩ Khrihtyanovich và viện sĩ Semenov. Học sinh nhập học vào đây đều được tuyển lựa từ các nước cộng hòa Xô Viết trong Liên bang, được các nhà khoa học xuất sắc nhất đích thân hỏi thi và dựa theo một tiêu chuẩn duy nhất là trí thông minh. Phần lớn học sinh đều đã qua các kỳ thi học sinh giỏi quận, tỉnh, nước cộng hòa và liên bang. Mỗi khóa học chỉ tuyển được vài trăm học sinh nhập học từ Liên bang Xô viết. Cách thức đào tạo ở đây là kết hợp học và nghiên cứu khoa học với cường độ cao. Sau 5-6 năm, sinh viên đã trở thành cán bộ nghiên cứu khoa học - kỹ thuật thực thụ. (Ở các trường đại học bình thường khác, thanh niên phải cần đến 10, 15 hoặc 20 năm mới trở thành cán bộ nghiên cứu thực sự. Họ học xong đại học ở độ tuổi 22 – 23. Sau 5-7 năm tập sự và đến tuổi 30 làm chủ được các môn khoa học lớn). Sinh viên ở Trường đại học vật lý - kỹ thuật Moskva ở độ tuổi 20 đã là một nhà khoa học - kỹ thuật trưởng thành, có thể tự giải quyết các vấn đề khoa học - kỹ thuật nghiêm túc. Ngay khi đang ngồi trên ghế nhà trường, họ đã tham gia nghiên cứu các đề án có tầm cỡ quốc gia như thiết kế chế tạo tàu vũ trụ. Giảng viên ở trường nhiều khi được gọi đi "cấp cứu" cho một pha phóng tên lửa bị trục trặc ngay khi họ đang đứng trên bục giảng. Ngay sau đó, họ có thể viết phương trình toán học giải thích sự cố kỹ thuật cho sinh viên trong bài giảng tiếp theo. Phần lớn sinh viên tốt nghiệp ở độ tuổi 20 đã bắt tay ngay vào công trình thiết kế, xây dựng có ý nghĩa quốc gia. Điều đáng lưu ý là phần đông học sinh được trúng tuyển vào trường đều xuất thân từ các vùng sâu vùng xa. Đó là những em rất thông minh, nhưng vì điều kiện thiếu thốn các em chưa được học đến nơi đến chốn. Nhưng dưới con mắt của các nhà khoa học và sư phạm thiên tài, khả năng trí tuệ của các em đã được phát hiện chính xác. Khi mới vào trường, các thầy phải dạy các em những kiến thức rất sơ đẳng. Nhưng chỉ sau 5-7 buổi lên lớp, các em đã tiếp thu được những kiến thức mà chỉ có thể dạy cho các nghiên cứu sinh và sinh viên lớp trên ở Đại học Quốc gia Moskva. Ở Liên Xô cũ, mọi người thường nói vui rằng công nghệ giáo dục ở Trường đại học vật lý - kỹ thuật Moskva bao gồm ba công đoạn: vườn trẻ - cánh cửa đại học - luận án tiến sỹ.

Các khoa của trường[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Khoa kỹ thuật vô tuyến và điều khiển.
  2. Khoa vật lý đại cương và thực nghiệm.
  3. Khoa nghiên cứu hàng không vũ trụ.
  4. Khoa vật lý - sinh học phân tử.
  5. Khoa vật lý lượng tử.
  6. Khoa khí động lực học và thiệt bị bay.
  7. Khoa toán điều khiển và ứng dụng.
  8. Khoa kỹ thuật công nghệ cao.
  9. Khoa hệ thống thông tin thương mại.

Giảng viên của trường[sửa | sửa mã nguồn]

Các giáo sư đã đoạt giải thưởng Nobel Vật lý

Nobel prize medal.svg Abrikosov, Aleksei Alekseevich
Nobel prize medal.svg Ginzburg, Vitali Lazerevich
Nobel prize medal.svg Pyotr Kapitsa
Nobel prize medal.svg Lev Davidovich Landau
Nobel prize medal.svg Prokhorov, Aleksandr Mixaylovich
Nobel prize medal.svg Sakharov, Dandrey Dmitrievich
Nobel prize medal.svg Nikolay Nikolayevich Semyonov
Nobel prize medal.svg Tamm, Igor Evgenhievich

Số lượng giảng viên của trường

  1. Hơn 100 viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Nga
  2. Hơn 50 viện sỹ thông tấn viện hàn lâm khoa học Nga
  3. Hàng trăm giáo sư - tiến sỹ, Tiến sỹ khoa học, Phó tiến sỹ
  4. Và hàng trăm giảng viên nổi tiếng khác

Sinh viên - sinh viên tốt nghiêp[sửa | sửa mã nguồn]

Các sinh viên tốt nghiệp

  • 2 giải Nobel vật lý:
Nobel prize medal.svg Geym, Andrey Constantinovich
Nobel prize medal.svg Novosiolov, Constantin Sergeevich
  • 1 anh hùng lao động:

Regin, Vladislav Georgievich

  • 3 phó chủ tịch viện Hàn lâm Nga.
  • hơn 100 viện sỹ và viện sỹ thông tấn viện Hàn lâm Nga.
  • hơn 4000 tiến sỹ khoa học.
  • hơn 8000 phó tiến sỹ khoa học.
  • 3 phi công - phi hành gia.
  • 3 bộ trưởng trong chính phủ Liên bang Nga.
  • 1 thống đốc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]