Moskva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 55°45′08″B 37°36′56″Đ / 55,752222°B 37,615556°Đ / 55.752222; 37.615556

Москва
Moskva
Hình ảnh chung của МоскваMoskva
Cờ chính thức của МоскваMoskva Huy hiệu chính thức của МоскваMoskva
Cờ Huy hiệu
Tên hiệu
"Más"
Vị trí
Bản mẫu:Tiêu đề bản đồ}
Vị trí của Moskva tại châu Âu
Chính quyền
Quốc gia
Vùng liên bang
Kiểu đơn vị hành chính
Nga
Vùng TW LB Nga
Thành phố trực thuộc trung ương
Thị trưởng Sergey Semyonovich Sobyanin
Các đặc điểm địa lý
Diện tích
 - Thành phố

1.081 km²
Dân số
 - Thành phố (2012)
   - Mật độ

11 612 943[1]
  10361.1/km²
Tọa độ 55°45′8″B, 37°37′56″Đ
Cao độ <130 - 253 m
Múi giờ
- Mùa hè  (DST)
MSK (UTC+3)
MSD (UTC+4)
Thông tin khác
Mã bưu chính 101xxx-129xxx
Mã điện thoại +7 495; +7 499
Mã số xe 77, 99, 97, 177
Website: mos.ru

Moskva (tiếng Nga: Москва; phiên âm: Mát-xcơ-va; Hán-Việt: Mạc Tư Khoa, phiên theo chữ Hán 莫斯科; tiếng Anh: Moscow; tiếng Pháp: Moscou), ngày nay là thủ đô của Liên bang Nga, nằm trên bờ sông Moskva, giữa lưu vực của hai con sông lớn là VolgaOka, có diện tích 878,7 km² thuộc khu Trung tâm Nga (trên thực tế khu vực này nằm ở phía Tây của nước Nga thuộc khu vực châu Âu). Dân số thành phố này tăng lên rất nhanh, đến năm 2004 đã là 11,2 triệu người. Thị trưởng hiện nay của thành phố là Sergey Sobyanin. Moskva cũng là trung tâm hành chính của tỉnh Moskva (chữ Kirill: Московскaя область). Trước đây, Moskva đã từng là thủ đô của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (tức Liên Xô) cho đến năm 1991 khi chính quyền Liên bang sụp đổ và sớm hơn nữa là của các công quốc và đại công quốc Moskva (chữ Kirill: Московское княжество). Các địa điểm, địa danh lịch sử nổi tiếng nhất của Moskva phải kể đến là: điện Kremli (Кремль) trụ sở của Nhà nước Liên bang Nga, bên cạnh nó là Quảng trường Đỏ (Красная площадь), nhà thờ lớn Vasily Blazhenny (храм Василия Блаженного) với mái vòm hình củ tỏi. Giáo chủ Moskva cũng đồng thời là người đứng đầu Chính thống giáo Nga.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Nga

Những tài liệu nói về Moskva có từ năm 1147 khi nó còn là một thị trấn ít người biết đến trong một tỉnh nhỏ, với phần lớn dân cư thuộc nhóm ngôn ngữ Phần Lan-Ural, người Merya. Năm 1156, công tước Yury Dolgoruky (Юрий Долгорукий) cho xây tường gỗ và đào hào sâu bao quanh thành phố để chống lại sự trộm cắp, cướp bóc. Do đó dân chúng được bảo vệ rất tốt cho đến tận năm 1177 thì thành phố bị thiêu hủy hoàn toàn và dân cư đã bị chết rất nhiều. Sau cuộc cướp phá năm 1237-1238, khi mà quân Mông Cổ thiêu hủy hoàn toàn thành phố và giết chóc dân cư, Moskva đã được phục hồi và trở thành thủ đô của một công quốc độc lập.

Năm 1300, Moskva được quản lý bởi Daniil Aleksandrovich (Даниил Александрович), con trai của Aleksandr Yaroslavich Nevsky (Александр Ярославич Невский) và là thành viên của triều đại nhà Rurik. Vị trí thuận lợi trên đầu nguồn sông Volga góp phần vào việc mở rộng vững chắc. Moskva được ổn định và phát triển rực rỡ trong nhiều năm và là điểm thu hút của nhiều người tỵ nạn trên toàn lãnh thổ Nga. Năm 1304, Yury của Moskva (Юрий Данилович) giao tranh với Mikhail của Tver (Михаил Ярославич) để giành ngôi vị công tước Vladimir. Ivan I (Иван I Данилович Калита) cuối cùng đánh bại quân Tver (Тверь) để trở thành chủ của công quốc Vladimir, và là người thu thuế duy nhất cho các nhà vua Mông Cổ. Do cống nộp nhiều nên Ivan giành được nhiều sự nhân nhượng của các Hãn (Khan). Không giống như các công quốc khác, Moskva không được phân chia cho các con trai mà truyền cho con trai lớn nhất.

Kim Trướng hãn quốc (hay Hãn quốc Kipchak) thoạt tiên cố gắng giới hạn ảnh hưởng của Moskva, nhưng do sự lớn mạnh của Đại công quốc Litva đã đe dọa toàn Nga nên vị Hãn lúc đó đã phải tăng cường sức mạnh cho Moskva để cân bằng với Litva. Điều này đã cho phép nó trở thành một trong những thành phố hùng mạnh nhất tại Nga. Năm 1480, Ivan III cuối cùng đã giải phóng Nga khỏi sự thống trị của người Tarta (Xem Trận chiến trên sông Ugra) và Moskva trở thành thủ đô của đế chế bao gồm toàn Nga và Siberia và một phần các lãnh thổ khác.

Sự chuyên chế của các Sa hoàng cuối thời kỳ đó như Ivan Hung đế (Иван IV Грозный) đã dẫn đến sự tan rã của đế chế, mặc dù nó đã được mở rộng. Năm 1571, người Tarta từ Hãn quốc Krym đã chiếm và thiêu hủy Moskva. Từ 1610 đến 1612, quân đội của Liên bang Ba Lan-Litva xâm chiếm Moskva, và vua Sigismund III của Ba Lan đã có những cố gắng để chiếm đoạt ngôi báu và sau đó hợp nhất hai quốc gia Slav. Tuy nhiên, sự cố gắng của quân đội Ba Lan-Litva chỉ nhận được sự ủng hộ nửa vời từ trong nước họ và sự can thiệp đã bị chỉ trích mạnh mẽ từ hạ viện Liên bang. Vì vậy năm 1612, nhân dân Moskva đã nổi dậy chống lại lực lượng Ba Lan-Litva và chiếm Kremli từ tay họ. Năm 1613, hội nghị đế chế đã bầu Mikhail Fyodorovich Romanov (Михаил Фёдорович Романов) làm Sa hoàng nước Nga, thiết lập triều đại nhà Romanov.

Moskva không phải là kinh đô nước Nga từ năm 1703 khi Pyotr Đại đế (Пётр I Великий) xây dựng Sankt-Peterburg trên sông Neva gần bờ biển Baltic làm kinh đô. Khi Napoléon Bonaparte xâm lược Nga vào năm 1812, người dân Moskva đã di tản và tự đốt cháy thành phố vào ngày 14 tháng 9, khi quân đội của Napoléon tiến vào. Quân đội của Napoléon, do thiếu thốn lương thực, thực phẩm và giá lạnh đã phải rút lui.

Tháng 1 năm 1905, người dân Moskva đi bầu thị trưởng thành phố và Aleksandr Adrianov đã trở thành thị trưởng chính thức đầu tiên của Moskva. Sau cuộc Cách mạng tháng Mười năm 1917, Lenin đã chuyển thủ đô từ Sankt-Peterburg về Moskva vào ngày 5 tháng 3, 1918 do lo ngại sự xâm lăng từ nước ngoài.

Là đầu mối quan trọng trong hệ thống đường sắt của Liên Xô cùng với KievLeningrad, thành phố này là mục tiêu xâm chiếm chiến lược của Đức năm 1941. Tháng 11 năm 1941, tập đoàn quân trung tâm của Đức đã phải dừng bước trước ngoại ô thành phố và sau đó bị đẩy lui trong Trận Moskva.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số Moskva từ 1350-2010.
Năm Dân số Năm Dân số Năm Dân số
1400 40.000 1811 270.200 1912 1.617.157
1638 200.000 1813 215.000 1920 1.027.300
1710 160.000 1825 241.500 1926 2.101.200
1725 145.000 1840 349.100 1939 4.609.200
1738 138.400 1856 368.800 1959 6.133100
1775 161.000 1868 416.400 1970 7.194.300
1785 188.700 1871 601.969 1979 8.142.200
1888 753.459 1989 8.972.300
1897 1.038.600 2002 10.383.000

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Moscow (VVC) 1981–2010
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 8.6 8.3 17.5 28.9 33.2 34.9 38.2 37.3 32.3 24.0 14.5 9.6 38,2
Trung bình cao °C (°F) −4
(25)
−3.7 2.6 11.3 18.6 22.0 24.3 21.9 15.7 8.7 0.9 −3
(27)
9,6
Trung bình ngày, °C (°F) −6.5 −6.7 −1
(30)
6.7 13.2 17.0 19.2 17.0 11.3 5.6 −1.2 −5.2 5,8
Trung bình thấp, °C (°F) −9.1 −9.8 −4.4 2.2 7.7 12.1 14.4 12.5 7.4 2.7 −3.3 −7.6 2,1
Thấp kỉ lục, °C (°F) −42.2 −38.2 −32.4 −21
(−6)
−7.5 −2.3 1.3 −1.2 −8.5 −16.1 −32.8 −38.8 −42,2
Giáng thủy mm (inches) 52
(2.05)
41
(1.61)
35
(1.38)
37
(1.46)
49
(1.93)
80
(3.15)
85
(3.35)
82
(3.23)
68
(2.68)
71
(2.8)
55
(2.17)
52
(2.05)
707
(27,83)
độ ẩm 83 80 74 67 64 70 74 77 81 81 84 85 76,7
Số ngày mưa TB 0.8 0.7 3 9 13 14 15 15 15 12 6 2 105,5
Số ngày tuyết rơi TB 18 15 9 1 0.1 0 0 0 0.1 2 10 17 72,2
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 33 72 128 170 265 279 271 238 147 78 32 18 1.731
Nguồn: [2][3][4][5]

Văn hóa, nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cảnh Moskva, với Nhà thờ Chúa Cứu thế ở bên trái, điện Kremli ở bên phải
Nhà thờ hình củ tỏi Thánh Basel
Nhà hát Lớn (Bolshoi), trái, và Nhà hát Nhỏ (Malyi), phải

Moskva là trung tâm của ba lê (ballet) và các nghệ thuật múa Nga. Các nhà hát và studio ba lê rải rác khắp Moskva. Những cái nổi tiếng nhất là Nhà hát Lớn (Bolshoi) và Nhà hát Nhỏ (Malyi). Trong thời kỳ Xô viết giá vé khá rẻ thường là dưới $1, nhưng hầu hết vé được phân phối theo đặc quyền, người dân chỉ có thể mua vé chợ đen. Sau này giá thay đổi rất nhiều.

Mặc dù ít hơn một phần tư dân số Nga sống ở nông thôn nhưng những người Moskva cũng giống như những người dân các thành phố khác vẫn gắn liền với nông thôn. Rất nhiều người có nhà ở khu vực nông thôn (tiếng Nga: дача, phát âm "đacha") để dành cho những ngày nghỉ cuối tuần và hội hè. Những ngôi nhà này cũng được sử dụng làm nhà nghỉ cho những người cao tuổi. Có rất nhiều công viên và vườn hoa trong thành phố.

Những năm sau chiến tranh là cuộc khủng hoảng về nhà ở đã được giải quyết bằng các ngôi nhà lắp ghép. Khoảng 13.000 các ngôi nhà được tiêu chuẩn hóa và đúc sẵn như thế phục vụ cho phần lớn dân cư Moskva. Chúng được xây cao 9, 12, 17, 21 hay 24 tầng. Các căn hộ được xây dựng và trang bị một phần đồ đạc tại nhà máy trước khi được xây dựng và sắp xếp vào các cột cao. Bộ phim hài nổi tiếng thời kỳ Xô viếtSố phận trớ trêu, hay Chúc xông hơi nhẹ nhõm ! nhại lại phương pháp kết cấu xây dựng vô hồn này. Nội dung của phim như sau:

Một sinh viên vừa mới tốt nghiệp đại học trở về nhà mình sau buổi dạ hội tốt nghiệp cử nhân với trạng thái say mềm ngoài sân bay và thức dậy ở Leningrad do những bạn bè của anh ta lại gửi anh đến đó một cách ngẫu nhiên. Anh bắt taxi đến địa chỉ nhà mình, địa chỉ này cũng tồn tại ở Leningrad và sử dụng chìa khóa của mình để mở cửa. Mọi đồ đạc và tài sản được chuẩn hóa đến nỗi anh ta cũng không thể nhận ra đó không phải là nhà mình cho đến tận khi chủ thực sự của căn hộ trở về.

Bộ phim đã đánh vào tình cảm của những người Nga đang xem bộ phim qua những chiếc ti vi tiêu chuẩn hóa trong căn hộ cũng tiêu chuẩn hóa của mình. Bộ phim này được trình chiếu trên ti vi trong mọi buổi đêm trước năm mới.

Nói như vậy không có nghĩa là văn hóa, nghệ thuật của nước Nga nói chung và của người Moskva nói riêng là đơn điệu và nghèo nàn. Trái lại, nền văn hóa-nghệ thuật của người dân Moskva trong gần 900 năm qua cực kỳ phát triển. Tại Moskva hiện nay có hơn 70 viện bảo tàng. Trong đó có rất nhiều viện bảo tàng nổi tiếng thế giới như Viện bảo tàng lịch sử (Исторический музей), Viện bảo tàng quốc gia Tretyakov (Государственный Третьяковская галерея), Viện bảo tàng kiến trúc Shchusev (Музей архитектуры им. А.В. Щусева) v.v.

Các nhà văn lớn của Nga cho dù có thể không phải là người Moskva nhưng đã có thời gian dài sống ở đó như Tolstoy, Bunin, Chekhov v.v. đã cho ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới như Chiến tranh và Hòa bình.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Moskva có rất nhiều trường đại học. Lớn nhất và nổi tiếng nhất là Đại học Tổng hợp quốc gia Moskva mang tên Lomonosov (tiếng Nga: Московский Государственный Университет имени М.В.Ломоносова, viết tắt: МГУ, hay MGU) nằm trên Đồi Chim sẻ (Vorobyovy Gory) trong một tòa nhà cao 240m. Hiện nay trường này có 30.000 sinh viên và 7.000 nghiên cứu sinh.

Trường Đại học kỹ thuật quốc gia Moskva mang tên Bauman là trường đại học kĩ thuật hàng đầu của nước Nga, nơi đây là cái nôi đào tạo nên các nhà bác học, các tổng công trình sư, các kỹ sư trưởng nổi tiếng về vũ trụ, hàng không và kĩ thuật quân sự (tên lửa, máy bay chiến đấu, xe tăng, xe thiết giáp, lò phản ứng hạt nhân, siêu máy tính, vũ khí công nghệ cao).

Xem thêm: Danh sách các trường đại học ở Nga

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tu viện Novodevichy

Những điểm du lịch thu hút du khách là các di sản thế giới được UNESCO công nhận như điện Kremli, Quảng trường Đỏ và nhà thờ ở Kolomenskoye, đều là những công trình được xây dựng trong khoảng thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. Các điểm thu hút khác bao gồm vườn bách thú, được mở rộng vào thập niên 1990. Moskva cũng là điểm cuối cùng của tuyến đường sắt xuyên Xi-bê-ri dài 9.300 km tới Vladivostok. Thành phố này đẹp nhất khi đến thăm vào giữa mùa đông khi mà các đường phố bị bao phủ bởi tuyết và cảnh tranh tối tranh sáng của mùa đông lục địa. Tuy nhiên do nhiệt độ thường xuyên xuống đến dưới -25 °C nên mùa hè hoặc mùa thu đến sớm có thể cho những cuộc thăm viếng thuận tiện hơn nếu như du khách không phải là người quá lãng mạn.

Giá cả sinh hoạt[sửa | sửa mã nguồn]

Giá cả một số hàng hóa, dịch vụ đối với người ngoại quốc cao hơn so với người trong nước. Sự nghiên cứu giá cả sinh hoạt do Mercer Human Resource Consulting tiến hành đã đặt Moskva vào vị trí thứ hai sau Tokyo, làm nó trở thành thành phố đắt đỏ nhất châu Âu. Đối với dân bản địa, những căn hộ nhỏ được chu cấp bởi chính quyền trong thời kỳ Xô viết, cùng với các chi phí tiện nghi ở mức cực kỳ thấp và những khoản thuế thu nhập có thể tránh được đã làm giá cả sinh hoạt thấp xuống rất nhiều. Nhìn vào giá cả vận chuyển, đi lại sẽ cho ra một minh họa tốt. Một chuyến taxi từ sân bay quốc tế Sheremetyevo-2 sẽ có giá đối với người nước ngoài không biết tiếng Nga là $60; với người nước ngoài biết tiếng Nga là $30–$40. Những người dân Moskva bản địa sẽ mặc cả giá xuống mức $15–20 hoặc sẽ tránh không đi taxi riêng mà đi chung với nhau đến ga metro gần nhất với giá 50 xu Mỹ.

Ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian gần đây tại Moskva xuất hiện rất nhiều các nhà hàng ăn uống với giá cả dao động nhiều. Giá đồ ăn trung bình trên một người trong các nhà hàng trung và cao cấp sẽ từ $30 đến $200, đặc biệt nếu có gọi rượu vang nổi tiếng. Những đồ ăn kiểu "căng tin" trong các stolovaya (tiếng Nga: столовая - nhà ăn tự phục vụ) có giá khoảng ba đôla Mỹ (47.000 đ tiền Việt). Hệ thống các nhà hàng, như "Moo-Moo", cung cấp đồ ăn kiểu căng tin có chất lượng theo thực đơn kiểu Anh có giá khoảng 5 đô la Mỹ cho mỗi người. Mặc dù phần đông người Moskva không thường xuyên ăn uống thậm chí trong các nhà hàng ăn rẻ tiền nhất, nhưng rất nhiều nhà hàng "bậc trung" mới vẫn xuất hiện và mở cửa, nhắm vào các gia đình trong những ngày nghỉ cuối tuần. Một loạt các cửa hàng bán đồ ăn nhanh mọc xung quanh các nhà ga xe lửa và metro. Hệ thống này bao gồm cả các cửa hàng khắp mọi nơi của McDonald's và các hệ thống khác, đáng kể nhất là Rostiks, chuyên bán các đồ ăn làm từ . Ngoài ra hàng loạt các cửa hàng bán cà phê cũng mọc ra xung quanh thành phố này.

Các địa điểm du lịch đáng chú ý[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp chuông Ivan Đại đế trong quần thể kiến trúc điện Kremli

Giao thông và vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Moskva có bốn sân bay là: sân bay quốc tế Sheremetyevo, sân bay quốc tế Domodedovo, sân bay Bykovosân bay quốc tế Vnukovo.

Giao thông trong thành phố có thể kể đến hệ thống tàu điện ngầm (metro) Moskva, là một hệ thống metro tuyệt vời, các nhà ga được trang trí bằng các bức tranh treo tường hay khảm vào tường có giá trị nghệ thuật. Bắt đầu hoạt động vào ngày 15 tháng 5 năm 1935, hiện nay hệ thống này có 11 tuyến đường với tổng chiều dài 278 km và hơn 170 ga. Tại các ga rất phổ biến các loại hình đèn chùm pha lê chiếu sáng. Hệ thống này là bận rộn nhất thế giới với hơn 9 triệu lượt hành khách mỗi ngày và tại giờ cao điểm cứ mỗi 90 giây lại có một chuyến tàu. Hệ thống metro Moskva được thiết kế là các tuyến đường "thẳng" giao nhau tại khu vực gần trung tâm thành phố. Ngoài ra còn có một tuyến đi theo đường "tròn" liên kết tất cả các tuyến kia.

Do các ga metro đặt tương đối xa nhau (so sánh với các thành phố khác), có thể tới 4 km, nên hệ thống xe buýt rất phát triển. Các tuyến xe buýt chạy qua các ga metro và bao phủ toàn bộ khu vực dân cư. Thông thường cứ mỗi phút lại có một chuyến xe buýt và giá cả khá rẻ so với các thành phố lớn khác của Châu Âu (khoảng 1USD / 1 chuyến). Mỗi một phố chính trong thành phố đều có ít nhất một tuyến xe buýt phục vụ và không có một khu nhà chung cư nào trong số 13.000 chung cư lại phải mất hơn vài phút đi bộ. Ở đây cũng có các hệ thống xe điện trên đường ray (Трамвай-tramvai) và xe điện bánh hơi (Троллейбус-trolleybus). Trước đây rất ít người sử dụng ô tô cá nhân để đi lại do thường xuyên xảy ra tắc nghẽn giao thông. Tuy nhiên, phần lớn các gia đình trung lưu có ô tô để đi lại trong những ngày nghỉ cuối tuần và lễ hội. Theo một số ước tính, có trên 2,5 triệu ô tô lưu thông trên địa bàn thành phố trong ngày (2004). 3 năm trở lại đây (từ 2004) do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Liên Bang Nga, đặc biệt là Moskva, số lượng xe hơi cá nhân đã bùng nổ với sự đa dạng về chủng loại, nguồn gốc, tắc đường đã trở thành "chuyện thường ngày ở huyện". Rất nhiều công chức đến công ty bằng xe riêng đã phải đi trước giờ làm việc buổi sáng (8-9 giờ) cả tiếng đồng hồ. Tắc đường trên diện rộng từ sáng đến đêm khuya.

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất trong giới trẻ. Các câu lạc bộ bóng đá thủ đô như Dinamo, Spartak, Lokomotiv, CSKA là các câu lạc bộ có tên tuổi tại châu Âu. Tuy nhiên gần đây tệ nạn hooligan đã phát triển ở Nga và gây không ít ảnh hưởng xấu tới hình ảnh của bóng đá Nga. Các môn thể thao khác như bóng ném, bóng nước, bóng rổ cũng rất phát triển ở đây.

Các môn thể thao mùa đông thì có rất nhiều. Phần lớn người Nga đều có ván trượt tuyết và giày trượt băng và có rất nhiều công viên lớn có khu vực để tập luyện các môn trượt tuyết, trượt băng. Có một số công viên cho thuê ván/giày trượt với giá từ $1 đến $5 cho một giờ thuê. Moskva cũng có các đội khúc côn cầu trên băng có tên tuổi ở châu Âu.

Moskva là chủ nhà của Thế vận hội mùa hè 1980, lúc đó môn đua thuyền buồm được tổ chức tại Tallinn (Estonia).

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù dân số của Liên bang Nga giảm mỗi năm khoảng 700.000 người (143,8 triệu * 0.5% tỷ lệ giảm) vì tỷ lệ sinh đẻ thấp, di cư, chết sớm và AIDS, nhưng dân số Moskva thì vẫn đạt tỷ lệ tăng cao, chủ yếu do nhập cư (mặc dù các giấy tờ tùy thân trong nước không cho phép dân không phải người thành phố này ở thủ đô quá 90 ngày mà không phải đăng ký). Những người Moskva mới này đã góp phần làm nền kinh tế thủ đô tăng trưởng đến 20%, ngược lại với sự đình trệ hoặc suy thoái trên phần lớn lãnh thổ Nga, kết quả là nó tạo ra sự phân hóa rõ nét trong những năm gần đây. Hiện nay, Moskva là một trong những thành phố lớn nhất châu Âu.

Theo số liệu của báo Forbes vào ngày 22 tháng 7 năm 2004, Moskva là thành phố có đông các nhà tỷ phú nhất trên thế giới. Hiện nay Moskva có 33 tỷ phú, hơn Thành phố New York hai người.

Vấn đề khủng bố[sửa | sửa mã nguồn]

Khủng bố là mối đe dọa diễn ra gần đây cho Moskva. Cuộc chiến tranh kéo dài giữa Nga với những phần tử cực hữu của Chechnya đã dẫn đến tình trạng những nhóm người này sử dụng biện pháp khủng bố để chống lại chính quyền liên bang. Vào ngày 6 tháng 2 năm 2004 một quả bom đã phát nổ trong một chiếc ô tô trong đường hầm gần ga metro Avtozavodskaya làm chết ít nhất 40 người và làm thương nhiều người khác. Các hành động khủng bố khác có thể kể đến là vụ phá hủy hai tòa nhà chung cư tháng 9 năm 1999 (Xem Vụ đánh bom nhà chung cư ở Nga), vụ nổ trong đường hầm dành cho người đi bộ dưới quảng trường Pushkinskaya trong tháng 8 năm 2000 cũng như việc chiếm giữ nhà hát ở Dubrovka trong tháng 10 năm 2002 mà hơn 100 người đã chết khi các nhân viên của lực lượng an ninh Nga sử dụng khí gây mê để tấn công bọn khủng bố.

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Росстат. Оценка численности постоянного населения на 1 января 2011 года, на 1 января 2012 года и в среднем за 2011 год”. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |datepublished= (trợ giúp)
  2. ^ “Thermograph.ru averages”. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. 
  3. ^ “Pogoda & Climate (Weather & Climate)” (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ “Climate monitor 2005-2011” (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ “Average monthly Sunshine hours” (bằng tiếng Nga). Meteoweb.ru. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. 
  6. ^ Almaty official site
  7. ^ “Twin Towns”. www.amazingdusseldorf.com. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2009. 
  8. ^ “Sister Cities of Manila”. © 2008–2009 City Government of Manila. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2009. 
  9. ^ “Prague Partner Cities” (bằng Czech). © 2009 Magistrát hl. m. Prahy. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2009. 
  10. ^ Moscow and Rejkjavik sister cities. . Truy cập 2008-03-11
  11. ^ “Twinning Cities: International Relations” (PDF). Municipality of Tirana. www.tirana.gov.al. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009. 
  12. ^ Twinning Cities: International Relations. Municipality of Tirana. www.tirana.gov.al. Truy cập 2008-01-25.
  13. ^ “Cooperation Internationale” (bằng tiếng Pháp). © 2003–2009 City of Tunis Portal. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2009. 
  14. ^ “Miasta partnerskie Warszawy”. um.warszawa.pl. Biuro Promocji Miasta. 4 tháng 5 năm 2005. Bản gốc lưu trữ 11-10/2007. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2008. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Caroline Brooke. Moscow: A Cultural History. 2006 (Oxford University Press)
  • William Craft Brumfield. A History of Russian Architecture (Seattle: Univ. of Washington Press, 2004) ISBN 978-0-295-98394-3
  • Karel Neubert. "Portrait of Moscow". 1964
  • Albert J. Schmidt. The Architecture and Planning of Classical Moscow: A Cultural History. 1989
  • Kathleen Berton. Moscow: An Architectural History. St. Martin's, 1991
  • Marcel Girard. "Splendours of Moscow and Its Surroundings", trans. from French. 1967
  • John Bushnell. "Moscow Graffiti: Language and Subculture". Unwin Hyman, 1990
  • S.S. Hromov et al. (eds.). "History of Moscow: An Outline", trans. from Russian. 1981
  • Galina Dutkina. "Moscow Days: Life and Hard Times in the New Russia". Trans. Catherine Fitzpatrick. Kodansha America, 1995.
  • "Mosca 1990-1993" by Giuseppe D'Amato in Il Diario del Cambiamento. Urss 1990 – Russia 1993. Greco&Greco editori, Milano, 1998. ISBN 88-7980-187-2 (The Diary of the Change. USSR 1990 – Russia 1993) Book in Italian.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: