Baku

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Baku, Azerbaijan
Bakı
Con dấu chính thức của Baku, Azerbaijan
Con dấu
Baku, Azerbaijan ở Azerbaijan
Baku, Azerbaijan
Vị trí ở Azerbaijan
Tọa độ: 40°23′43″B 49°52′56″Đ / 40,39528°B 49,88222°Đ / 40.39528; 49.88222Tọa độ: 40°23′43″B 49°52′56″Đ / 40,39528°B 49,88222°Đ / 40.39528; 49.88222
Quốc gia  Azerbaijan
Chính quyền
 - Thị trưởng Hajibala Abutalybov
Diện tích [1]
 - Tổng cộng 2.130 km² (822,4 mi²)
Độ cao -28 m (-92 ft)
Dân số (2011)[2]
 - Tổng cộng 2.045.815
 - Mật độ 957,6/km² (2.480,2/mi²)
Múi giờ AZT (UTC+4)
 - Mùa hè (DST) AZST (UTC+5)
Mã bưu chính AZ1000
Mã điện thoại 12
Website: BakuCity.az

Baku (tiếng Azerbaijan: Bakı), đôi khi cũng viết Baki hay Bakou, là thủ đô của nước cộng hòa Trung Á Azerbaijan. Đây là trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của quốc gia này và của vùng Kavkaz. Thành phố nằm ở bờ nam của bán đảo Absheron, một bán đảo nhô ra biển Caspi. Thành phố bao gồm hai phần chính: trung tâm và nội thị phố cổ (21,5 ha). Dân số thành thị Baku đầu năm 2009 là 2 triệu người.[2]

Baku được chia thành 7 quận hành chính (raion) và 48 thị trấn. Trong số này có các thị trấn trên các đảo ở vịnh Baku và thị xã Oil Rocks xây trên cọc ở biển Caspi, 60 km (37 mi) so với Baku. Trung tâm phố cổ Baku với cung điện của ShirvanshahMaiden Tower đã được đưa vào di sản thế giới UNESCO năm 2000. Theo xếp hạng Lonely Planet thị Baku thuộc nhóm 10 điểm đến hàng đầu về cuộc sống về đêm.[3]

Thành phố là trung tâm khoa học, văn hóa và công nghiệp của Azerbaijan. Nhiều cơ quan quy mô của quốc gia nằm ở đây, bao gồm Công ty dầu khí quốc gia Azerbaijan, nằm trong nhóm 100 công ty hàng đầu thế giới.[4] Hải cảng thương mại quốc tế Baku nằm trên các đảo của về phía đông quần đảo Baku và phía bắc bán đảo Absheron có thể xử lý 2 tấn hàng rời và hàng khô mỗi năm.[5]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành công nghiệp lớn nhất của Baku là dầu khí, và xuất khẩu dầu khí có một đóng góp lớn để cân bằng cán cân thanh toán của Azerbaijan. Sự hiện diện của dầu khí tại khu vực đã được biết đến từ thế kỷ thứ 8. Trong thế kỷ thứ 10, lữ hành gia Ả Rập, Marudee, báo cáo rằng dầu cả hai màu trắng và đen được chiết xuất tự nhiên từ Baku[6]. Vào thế kỷ 15, dầu dùng cho thắp đèn này được thu thập bằng cách đào tay từ các giếng bề mặt. Khai thác thương mại bắt đầu vào năm 1872, và đầu thế kỷ 20, các mỏ dầu Baku là lớn nhất thế giới. Đến cuối thế kỷ 20 nhiều dầu khí trên bờ đã cạn kiệt, và việc khoan thăm dò đã mở rộng ra ngoài khơi biển. Đến cuối thế kỷ 19 công nhân lành nghề và chuyên gia đổ xô đến Baku. Đến năm 1900 thành phố có hơn 3.000 giếng dầu, trong đó 2.000 sản xuất dầu ở các cấp độ công nghiệp. Baku xếp hạng là một trong những trung tâm lớn nhất cho việc sản xuất các thiết bị ngành công nghiệp dầu mỏ trước khi chiến tranh thế giới thứ II. Trận Stalingrad Chiến tranh thế giới thứ II đã được diễn ra để xác định xem ai sẽ có quyền kiểm soát của các mỏ dầu Baku. Năm mươi năm trước khi trận đấu, Baku sản xuất một nửa nguồn cung cấp dầu của thế giới: Azerbaijan và Hoa Kỳ là hai nước duy nhất đã được sản xuất phần lớn dầu của thế giới[7].

Hiện tại, nền kinh tế dầu Baku trải qua một sự hồi sinh, với sự phát triển của mỏ dầu Azeri-Chirag-Guneshli lớn (nước nông Gunashli SOCAR, còn mỏ sâu hơn của một tập đoàn dẫn đầu là BP), phát triển mỏ khí Shah Deniz, việc mở rộng kho cảng Sangachal và xây dựng các đường ống BTC.

Sở Giao dịch Chứng khoán Baku là sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất Azerbaijan và lớn nhất trong khu vực Kavkaz tính theo giá trị vốn hóa thị trường. Một số lượng tương đối lớn của các công ty xuyên quốc gia đặt trụ sở chính tại Baku. Các ngân hàng quốc tế với chi nhánh tại Baku bao gồm HSBC, Société GénéraleCrédit Suisse.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Baku
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 6.6 6.3 9.8 16.4 22.1 27.3 30.6 29.7 25.6 19.6 13.5 9.7 18,1
Trung bình ngày, °C (°F) 4.4 4.2 7.0 12.9 18.5 23.5 26.4 26.3 22.5 16.6 11.2 7.3 15,1
Trung bình thấp, °C (°F) 2.1 2.0 4.2 9.4 14.9 19.7 22.2 22.9 19.4 13.6 8.8 4.8 12,0
Giáng thủy mm (inches) 21
(0.83)
20
(0.79)
21
(0.83)
18
(0.71)
18
(0.71)
8
(0.31)
2
(0.08)
6
(0.24)
15
(0.59)
25
(0.98)
30
(1.18)
26
(1.02)
210
(8,27)
Số ngày mưa TB(≥ 0.1 mm) 6 6 5 4 3 2 1 2 2 6 6 6 49
Số ngày tuyết rơi TB (≥ 1 cm) 4 3 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3 10
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 89.9 89.0 124.0 195.0 257.3 294.0 313.1 282.1 222.0 145.7 93.0 102.3 2.207,4
Nguồn: Tổ chức Khí tượng Thế giới (UN),[8] Đài Thiên văn Hồng Kông[9] với dữ liệu về số giờ nắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Administrative, density and territorial units and land size by economic regions of Azerbaijan Republic for January 1. 2007”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009. 
  2. ^ a ă “Population by economic and administrative regions, urban settlements at the beginning of the 2009”. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2009. 
  3. ^ “Travel Picks: Top 10 cities to party the night away”. Reuters. 13 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2009. 
  4. ^ State Oil Company of Azerbaijan Republic: Transition from National to Transnational Company or Demand of Time?
  5. ^ “Port of Baku”. World Port Source. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010. 
  6. ^ “The History of Oil in Azerbaijan by Natig Aliyev”. Azer.com. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  7. ^ Aghazade, Emil (4 tháng 7 năm 2005). “Азербайджан: сто лет надежд”. BBC News. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2011. 
  8. ^ “World Weather Information Service”. 
  9. ^ "Climatological Information for Baku, Azerbaijan" – Hong Kong Observatory

Phương tiện liên quan tới Baku tại Wikimedia Commons