Đài Bắc
| Đài Bắc 臺北 |
|||
| — Trực hạt thị — | |||
| Đài Bắc thị · 臺北市 | |||
|
|||
| Biệt danh: Thành phố hoa đỗ quyên | |||
| Hình vệ tinh của Đài Bắc | |||
| Tọa độ: | |||
|---|---|---|---|
| Lãnh thổ | Trung Hoa Dân Quốc | ||
| Vùng | Bắc Đài Loan | ||
| Thị sở | Tín Nghĩa | ||
| Chính quyền | |||
| - Kiểu | Chính quyền thành phố Đài Bắc | ||
| - Thị trưởng | Hác Long Bân (QDĐ) | ||
| Diện tích | |||
| - Trực hạt thị | 271,7997 km² (104,9 mi²) | ||
| - Mặt nước | 2,7 km² (1 mi²) 1.0% | ||
| Dân số (tháng 12, 2010) | |||
| - Trực hạt thị | 2618772 | ||
| - Mật độ | 9.634,9/km² (24.954,4/mi²) | ||
| - Vùng đô thị | 6900273 | ||
| Số dân thứ 1 trên 25 | |||
| Múi giờ | CST (UTC+8) | ||
| Mã bưu chính | 100 – 116 | ||
| Mã điện thoại | (0)2 | ||
| Số quận | 12 | ||
| Chim | Ác là Đài Loan (Urocissa caerulea) | ||
| Hoa | Hoa đỗ quyên (Rhododendron nudiflorum) | ||
| Cây | Cây đa (Ficus microcarpa) | ||
| Vùng đô thị bao gồm TP. Đài Bắc, TP. Tân Bắc và TP. Cơ Long. | |||
| Website: taipei.gov.tw (tiếng Anh) | |||
| Đài Bắc thị | |||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Phồn thể: | 臺北市 hoặc 台北市 | ||||||||||||||||||||||||||
| Giản thể: | 台北市 | ||||||||||||||||||||||||||
| Nghĩa: | Thành phố miền Bắc Đài Loan | ||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||
Đài Bắc (phồn thể: 臺北市; bính âm: Táiběi Shì, Hán Việt:Đài Bắc thị; đọc theo IPA: tʰǎipèi trong tiếng Phổ thông) là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc (THDQ, thường gọi là "Đài Loan") và là thành phố trung tâm của một vùng đô thị lớn nhất tại Đài Loan. Đài Bắc nằm ở đầu phía bắc của đảo chính và nằm bên sông Đạm Thủy, cách thành phố cảng Thái Bình Dương Cơ Long 25 km về phía đông bắc. Một thành phố ven biển khác, mà nay trở thành một quận của Tân Bắc là Đạm Thủy, nơi này cách Đài Bắc 20 km về phía tây bắc và nằm ở cửa con sông cùng tên thuộc eo biển Đài Loan. Đài Bắc nằm trên hai thung lũng tương đối hẹp tạo bởi sông Cơ Long (基隆河) và sông Tân Điếm (新店溪), hai sông hợp lưu tạo thành sông Đạm Thủy và chảy dọc theo ranh giới phía tây của thành phố.[1] Dân số Đài Bắc ước tính là 2.618.772 người.[2] Đài Bắc, Tân Bắc, và Cơ Long tạo thành vùng đô thị Đài Bắc với một dân số lên tới 6.900.273 người.[3] Tuy nhiên, ba đơn vị này được quản lý bởi ba chính quyền địa phương khác nhau. "Đài Bắc" thỉnh thoảng được dùng để đề cập tới toàn bộ vùng đô thị, còn "thành phố Đài Bắc" sẽ chỉ dùng để đề cập tới thành phố. Thành phố Đài Bắc được Tân Bắc bao quanh tất cả các phía.
Đài Bắc là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Đài Loan. Đại học Quốc lập Đài Loan nằm tại Đài Bắc, cũng như Bảo tàng Cố cung Quốc lập, vốn là nơi có một trong những bộ sưu tập cổ vật và thư họa Trung Hoa lớn nhất trên thế giới. Đài Bắc được coi là một thành phố toàn cầu,[4] và là một phần của một vùng kỹ nghệ chính. Tàu hỏa, tàu cao tốc, quốc lộ, sân bay và các tuyến xe khách kết nối Đài Bắc với tất cả các nơi khác trên toàn Đài Loan. Nhu cầu hàng không của thành phố được đáp ứng bới hai sân bay - Sân bay Tùng Sơn và Sân bay Đào Viên.
Đài Bắc được thành lập vào đầu thế kỷ 18 và trở thành một trung tâm quan trọng cho giao thương với hải ngoại vào thế kỷ 19. Nhà Thanh tại Trung Quốc đã quyết định để cho Đài Bắc trở thành tỉnh lị Đài Loan vào năm 1886.[5] Khi Nhật Bản giành được Đài Loan vào năm 1895 sau Chiến tranh Thanh-Nhật, họ vẫn để Đài Bắc làm thủ phủ của cả hòn đảo, và cũng thúc đẩy một kế hoạch đô thị hóa trên phạm vi rộng tại Đài Bắc. Trung Hoa Dân Quốc nắm quyền kiểm soát đảo Đài Loan vào năm 1945 sau khi Nhật Bản đầu hàng. Sau khi mất Trung Quốc đại lục vào tay Đảng Cộng sản Trung Quốc trong nội chiến, những người đứng đầu Quốc Dân đảng đã di dời Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tới Đài Loan và tuyên bố Đài Bắc là thủ đô lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc vào tháng 12 năm 1949.
Mục lục |
[sửa] La tinh hóa
Ngoài tiếng Trung và các ngôn ngữ thuộc ảnh hưởng của Văn hóa Trung Quốc thì tên gọi Đài Bắc được viết trong các ngôn ngữ là "Taipei" theo phương pháp la tinh hóa của Wade-Giles T'ai-pei.[6] Theo hệ thống Bính âm Hán ngữ chính thức, được sử dụng để la tinh hóa tất cả các biển báo giao thông tại Đài Bắc, và hệ thống Bính âm thông dụng chính thức trước đây,[7][8] tên của thành phố được latinh hóa thành Táiběi. Tuy nhiên, xét theo tính quen thuộc của cách viết "Taipei" đã có từ trước nên chính quyền Đài Loan đã giữ lại tên gọi này như là một trường hợp ngoại lệ.
[sửa] Địa lý
Thành phố Đài Bắc nằm trên một khu vực được gọi là Bồn địa Đài Bắc ở bắc Đài Loan.[9] Thành phố giáp với sông Tân Điếm ở phía nam và sông Đạm Thủy ở phía tây. Địa hình nói chung thấp tại các khu vực trung tâm ở phía tây và dốc dần lên các vùng phía nam, đông và đặc biệt là phía bắc,[1] đỉnh cao nhất có cao độ 1.120 mét (3.675 ft) tại Thất Tinh Sơn (七星山), ngọn núi lửa đã tắt cao nhất tại Đài Loan nằm ở Công viên Quốc gia Dương Minh Sơn. Quận miền bắc Sỹ Lâm và Bắc Đầu mở rộng về phía bắc của sông Cơ Long và có ranh giới là Công viên Quốc gia. Thành phố Đài Bắc có diện tích đứng thứ 16 trong số 25 huyện và thành phố tại Đài Loan.
Hai đỉnh, Thất Tinh Sơn và Núi Đại Đồn, nổi lên ở phía đông bắc của thành phố.[10] Thất Tinh Sơn nằm trên Nhóm núi lửa Đại Đồn vốn là đỉnh núi cao nhất của bồn địa Đài Bắc, đỉnh chính trong nhóm có cao độ 1.120 mét (3.670 ft). Đỉnh chính của núi Đại Đồn cao 1.092 mét (3.583 ft). Chúng nguyên là các núi lửa và tạo thành phần phía tây của Công viên Quốc gia Dương Minh Sơn, trải dài từ núi Đại Đồn ở phía bắc tới núi Thái Công Khanh (菜公坑山). Nằm trên một nơi giống như cái võng của hai ngọn núi, khu vực cũng bao gồm vũng lầy Đại Đồn.
[sửa] Lịch sử
[sửa] Ban đầu
Khu vực mà nay là bồn địa Đài Bắc trước thế kỷ 18 từng là nơi cư trú của các bộ tộc người Ketagalan.[11] Người Hán chủ yếu đến từ Phúc Kiến bắt đầu định cư tại bồn địa Đài Bắc vào năm 1709.[12][13] Vào cuối thế kỷ 19, khu vực Đài Bắc là nơi định cư chủ yếu của người Hán ở miền bắc Đài Loan và trở thành một thương cảng giao thương với hải ngoại. Đạm Thủy, nơi mà nay cách Đài Bắc khoảng 20 km về phía tây bắc đã được hưởng lợi nhiều từ việc bùng nổ thương mại quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu chè. Năm 1875, phần phía bắc của Đài Loan được tách ra khỏi phủ Đài Loan (Trung: 臺灣府) và hợp nhất thành phủ Đài Bắc mới của chính quyền nhà Thanh.[14] Được thành lập bên cạnh các thị trấn hưng thịnh là Bangka, Đại Long Động, và Twatutia, phủ lị mới được gọi là Thành Nội (Trung: 城內), và tri phủ được xây dựng nên. Từ năm 1875 (dưới triều nhà Thanh) cho đến khi người Nhật kiểm soát vào năm 1895, Đài Bắc là một phần của huyện Đạm Thủy của phủ Đài Bắc và là phủ lị. Năm 1886, khi Đài Loan được tuyên bố là một tỉnh, thành Đài Bắc trở thành tỉnh lị. Đài Bắc duy trì vị thế là tỉnh lị tạm thời trước khi được chính thức hóa vào năm 1894. Tất cả dấu tích còn lại từ thành phố từ thời nhà Thanh là Bắc Môn. Tây Môn và tòa thành đã bị người Nhật phá hủy trong khi Nam Môn, Tiểu Nam Môn và Đông Môn đã bị thay đổi rất nhiều trong thời kỳ Quốc Dân đảng và mất đi nhiều đặc điểm gốc.
[sửa] Nhật Bản cai trị
Sau khi thất bại trong chiến tranh Thanh-Nhật, Trung Quốc đã nhượng Đài Loan cho Đế quốc Nhật Bản vào năm 1895[13] như một phần của Hiệp ước Shimonoseki. Sau khi Nhật Bản nắm quyền kiểm soát, Đài Bắc được gọi là Taihoku (Đài Bắc châu) trong tiếng Nhật, và thành phố vẫn duy trì là thủ phủ và nổi bật như một trung tâm chính trị của Chính quyền Thực dân Nhật Bản.[14] Trong thời kỳ này, thành phố được xây dựng với các đặc điểm của một trung tâm hành chính, bao gồm nhiều tòa nhà công và các nhà cửa theo phong cách Nhật Bản. Nhiều kiến trúc của Đài Bắc ngày nay được xây dựng từ thời Đài Loan dưới sự cai trị của Nhật Bản, như phủ Tổng thống vốn là Văn phòng Tổng đốc Đài Loan.
Trong thời kỳ Nhật Bản cai trị, Taihoku được hợp nhất vào năm 1920 như là một phần của huyện Taihoku (台北縣, Đài Bắc huyện). Bao gồm Bangka, Đại Long Đông, và Thành Nội cùng một số khu định cư khác. Làng phía đông Matsuyama (松山區) được sáp nhập vào thành phố Taihoku năm 1938. Cùng với thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh Thái Bình Dương và sau đó là đầu hàng vào tháng 8 năm 1945, Quốc Dân đảng đã thu hồi chủ quyền Đài Loan. Sau đó, một văn phòng lâm thời của Thống đốc tỉnh Đài Loan đã được lập tại Đài Bắc.[15]
[sửa] Thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc
Ngày 7 tháng 12 năm 1949, chính quyền Quốc Dân Đảng dưới sự chỉ đạo của Tưởng Giới Thạch, đã tuyên bố Đài Bắc là thủ đô lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc sau khi chính thể này phải rời bỏ Trung Quốc đại lục trong Nội chiến Trung Quốc, và thủ đô chính thức vẫn được tuyên bố là Nam Kinh.[16][17]
Đài Bắc được mở rộng trên thực tế trong các thập kỷ sau năm 1949, và được Hành chính viện chính thức thông qua vào ngày 30 tháng 12 năm 1966, Đài Bắc được tuyên bố là một thành phố trực thuộc trung ương đặc biệt từ ngày 1 tháng 7 năm 1967 và có vị trí hành chính ngang với tỉnh.[13] Trong các năm sau, thành phố Đài Bắc tiếp tục mở rộng với việc sáp nhập Sỹ Lâm, Bắc Đầu, Nội Hồ, Nam Cảng, Cảnh Mỹ, và Mộc Sách. Vào lúc này, tổng diện tích thành phố đã tăng lên gấp bốn lần và dân số tăng lên 1,56 triệu người.[13]
Dân số thành phố đạt tới một triệu vào đầu thập kỷ 1960, và tăng nhanh chóng sau năm 1967, vượt qua mốc 2 triệu vào giữa thập kỷ 1970. Mặc dù vậy dân số tại thành phố đần dần tăng chậm lại sau đó[15] — dân số thành phố tương đối ổn định từ giữa thập kỷ 1990 và Đài Bắc vẫn duy trì là một trong những vùng đô thị đông dân nhất thế giới, và dân số tiếp tục tăng tại các khu vực xung quanh thành phố, đặc biệt là dọc theo hành lang giữa Đài Bắc và Cơ Long. Năm 1990, 16 quận của thành phố Đài Bắc được tổ chức lại thành 12 quận như ngày nay.[18]
[sửa] Các đơn vị hành chính
Đài Bắc có 12 khu (區):
| Hán Việt | Hán tự | Bính âm Hán ngữ | Wade-Giles | Bính âm thông dụng |
|---|---|---|---|---|
| Tùng Sơn | 松山區 | Sōngshān | Sung-shan | Sung-shan |
| Tín Nghị | 信義區 | Xìnyì | Hsin-yi | Sinyi |
| Đại An | 大安區 | Dà'ān | Ta-an | Da-an |
| Trung Sơn | 中山區 | Zhōngshān | Chung-shan | Jhongshan |
| Trung Chính | 中正區 | Zhōngzhèng | Chung-cheng | Jhongjheng |
| Đại Đồng | 大同區 | Dàtóng | Ta-t'ung | Datong |
| Vạn Hoa | 萬華區 | Wànhuá | Wan-hua | Wanhua |
| Văn Sơn | 文山區 | Wénshān | Wen-shan | Wunshan |
| Nam Cảng | 南港區 | Nángǎng | Nan-kang | Nangang |
| Nội Hồ | 內湖區 | Nèihú | Nei-hu | Neihu |
| Sỹ Lâm | 士林區 | Shìlín | Shih-lin | Shihlin |
| Bắc Đầu | 北投區 | Běitóu | Pei-t'ou | Beitou |
[sửa] Các thành phố kết nghĩa và các quan hệ khu vực
[sửa] Hình ảnh
-
Bên bờ sông Đạm Thủy
[sửa] Tham khảo
- ^ a b “Taipei City Government: Home - I. Geographic Overview”. Taipei City Government (23 tháng 10 năm 2006). Truy cập 4 tháng 8 năm 2009.[liên kết hỏng]
- ^ “鄉鎮市區人口及按都會區統計”. Taiwan Ministry of Interior (1 tháng 12 năm 2009). Truy cập 11 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Methods and Term Definitions”. Directorate General of Budget, Accounting and Statistics. Truy cập 4 tháng 8 năm 2009.
- ^ “The World According to GaWC 2008”. Truy cập 25 tháng 1 năm 2010.
- ^ “Taipei (Taiwan) :: History - Britannica Online Encyclopedia”. Britannica.com. Truy cập 4 tháng 7 năm 2010.
- ^ Skinner, G. William (1973). Modern Chinese society:an analytical bibliography. Stanford University Press. tr. 55. ISBN 0804707537. http://books.google.com/books?id=2p-aAAAAIAAJ&pg=PR55. Truy cập 4 tháng 8 năm 2009.
- ^ “Hanyu Pinyin to be standard system in 2009”, Taipei Times, 18 tháng 9 năm 2008. Truy cập 20 tháng 9 năm 2008.
- ^ “Gov't to improve English-friendly environment”, The China Post, 18 tháng 9 năm 2008. Truy cập 20 tháng 9 năm 2008.
- ^ “About Taipei - Taipei Profile”. Department of Information and Tourism, Taipei City Government. Truy cập 14 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Geography/Population”. Taipei City Government (29 tháng 3 năm 2004). Bản chính lưu trữ 27 tháng 1 năm 2005. Truy cập 11 tháng 8 năm 2009.
- ^ “History”. Taipei City Government (29 tháng 3 năm 2004). Bản chính lưu trữ 7 tháng 5 năm 2005. Truy cập 11 tháng 8 năm 2009.
- ^ Kelly, Robert (2007). Taiwan. Lonely Planet Publications. tr. 46. ISBN 1741045487. http://books.google.com/books?id=yKUQE-xdQhsC&pg=PA46. Truy cập 27 tháng 7 năm 2009.
- ^ a b c d “History of Taipei”. Taipei City Government. Truy cập 11 tháng 8 năm 2009.[liên kết hỏng]
- ^ a b Marsh, Robert (1996). The Great Transformation. M. E. Sharpe. tr. 84. ISBN 1563247887. http://books.google.com/books?id=2p15NToHH2oC&pg=PA85. Truy cập 27 tháng 7 năm 2009.
- ^ a b Marsh, Robert (1996). The Great Transformation. M. E. Sharpe. tr. 85. ISBN 1563247887. http://books.google.com/books?id=2p15NToHH2oC&pg=PA85. Truy cập 27 tháng 7 năm 2009.
- ^ Ng, Franklin (1998). The Taiwanese Americans. Greenwood Publishing Group. tr. 10. ISBN 0313297622. http://books.google.com/books?id=lPzsB_wJQW0C&pg=PA10. Truy cập 27 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Taiwan Timeline - Retreat to Taiwan”, BBC News. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. Although Taipei has never been officially declared the official capital, it has now become common to refer to it as such. In 2004, elementary textbook references stating "Nanjing is the capital of the Republic of China" were replaced with "Taipei is the location of the central government of the Republic of China."
- ^ Republic of China Yearbook. Kwang Hwa Publishing Co.. 2002. tr. 120. ISBN 9579227357.
[sửa] Liên kết ngoài
| Tìm thêm về Taipei tại những đồng dự án của Wikipedia: | |
| Từ điển ở Wiktionary |
|
| Sách ở Wikibooks |
|
| Hồ sơ ở Wikiquote |
|
| Văn kiện ở Wikisource |
|
| Hình ảnh và phương tiện ở Commons |
|
| Tin tức ở Wikinews |
|
| Tài liệu giáo dục ở Wikiversity |
|
Chỉ dẫn du lịch Đài Bắc trên trang của Wikitravel
-
- Bản đồ từ from Multimap hoặc GlobalGuide hoặc Google Maps
- Hình ảnh từ trên không trung lấy từ TerraServer
- Hình ảnh chụp từ vệ tinh lấy từ WikiMapia
- Website chính thức của chính quyền Đài Bắc
- Mạng Du lịch Đài Bắc
- hành chính điêẹ tử Đài Bắc
- Khám phá Đài Bắc
- Ti Y tế Đài Bắc
- Ti Cảnh sát
- Danh sách các thành phố kết nghĩa
- Hội đồng thành phố Đài Bắc
| Tiền vị: Nam Kinh |
Thủ đô Trung Hoa Dân quốc 1949-nay |
Kế vị thủ đô hiện tại |
|
|||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||
|
||||||||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Đài Bắc. |