Xibia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xibia
Siberia Federal Subjects.png
Tọa độ: 60°B 105°Đ / 60°B 105°Đ / 60; 105 sửa dữ liệu
Diện tích
 - Tổng cộng 13.100.000 km² (5.057.938,3 mi²)
Dân số
 - Tổng cộng 40,000,000

Tọa độ: 60°0′B 105°0′Đ / 60°B 105°Đ / 60.000; 105.000 Xibia (tiếng Nga: Сиби́рь, chuyển tự tiếng Nga sang ký tự Latinh: Sibir) hay Siberi, Siberia (phiên âm Hán Việt: Tây Bá Lợi Á) là vùng đất rộng lớn gần như nằm trọn trong nước Nga, chiếm gần toàn bộ phần Bắc Á và bao gồm phần lớn thảo nguyên Á-Âu. Vùng đất này bắt đầu từ phía đông dãy núi Uran trải dài đến Thái Bình Dương; phía bắc là Bắc Băng Dương xuống phía nam là các ngọn đồi miền bắc Kazakhstan và có biên giới với Mông CổTrung Quốc. Trừ phần tây-nam không nằm trong lãnh thổ Nga, các vùng khác nhau của Xibia chiếm tới 77% diện tích nước này, trong khi đó chỉ chiếm có 22% dân số toàn Nga.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Phát âm từ Xibia

Tồn tại vài phiên bản về nguồn gốc của từ "Xibia", và cho tới nay người ta vẫn chưa thể chắc chắn phiên bản nào là gần với sự thật nhất.

Các phiên bản, gắn với nguồn gốc của một ngôn ngữ nào đó trong nhóm ngôn ngữ Altai/tiếng Nga:

"Siber/Chiber" — Một từ tiếng Turk cổ (tiếng Bashkir/Tatar), có nghĩa là “đẹp” hay “sặc sỡ”. Chẳng hạn, hồ Chebakul dịch từ tiếng Tatar có nghĩa là “hồ đẹp”. Trong ngôn ngữ Turk cổ đại từng phổ biến tên gọi Shibir, chẳng hạn trong tên gọi của vị khả hãn (khagan, khắc hàn, khả hàn) người Turk nổi tiếng trong thế kỷ 7 là Shibir Khan Turk-shad, người đã góp phần làm nhà Tùy sụp đổ nhanh chóng. Trong các ngôn ngữ Turk (cụ thể trong tiếng Tatar) có từ “Seber(ү)” có nghĩa là “gió cuốn tuyết” hay “bão tuyết (tuyết bị gió cuốn lên)”, như thế tên gọi Sibir rất có thể có nghĩa liên quan tới bão tuyết.
“Shibir” — Từ trong tiếng Mông Cổ, có nghĩa là vùng đất đầm lầy, với những cây bạch dương mọc thành các khu rừng rậm. Người ta cho rằng, vào thời kỳ Thành Cát Tư Hãn thì người Mông Cổ dùng tên gọi này để chỉ khu vực rừng-thảo nguyên của đồng rừng taiga sát biên giới với lãnh thổ của họ[1].
Một diễn giải cho rằng tên gọi bắt nguồn một từ trong tiếng Nga để chỉ "phương bắc" (север, sever) được sử gia Ba Lan là Chycliczkowski đưa ra[2], nhưng diễn giải này đã bị Anatole Baikaloff bác bỏ[3] trên nền tảng cho rằng các dân tộc cận kề như người Trung Quốc, Ả Rập hay Mông Cổ, với tên gọi của khu vực này là gần giống nhau, có thể đã không biết tiếng Nga. Ông cũng đưa ra gợi ý cho rằng tên gọi này là sự kết hợp của hai từ trong tiếng Turk cổ là "su" (nước) và "birr" (vùng đất hoang dã).

Các phiên bản gắn với một nhóm sắc tộc nào đó (người ta tin rằng chúng nói chung không ảnh hưởng tới từ nguyên, nhưng được liệt kê ở đây như là những phiên bản có thể nhất):

Theo phiên bản của Z. Ya. Boyarshinova thì tên gọi Sibir xuất phát từ tên gọi của một nhóm sắc tộc là Sipyr, mà nguồn gốc ngôn ngữ của họ hiện vẫn còn đầy tranh cãi. Sau đó tên gọi này được áp dụng cho nhóm sắc tộc thuộc ngôn ngữ Turk, từng sinh sống dọc theo sông Irtysh trong khu vực ngày nay là Tobolsk.
Theo phiên bản của V. Sophronov, thì tên gọi Sibir bắt nguồn từ nhóm sắc tộc gốc Turk, hiện nay được biết đến như là người Tatar Xibia, với tên họ tự gọi (Sabyr), theo ý kiến tác giả, thực tế có nghĩa là sự kiên nhẫn. Một ý kiến khác thì cho rằng nó có nghĩa là “địa phương/bản xứ” (y/ir — đàn ông, nhân dân, người; siber/y — sa khoáng, bỏ lại trên mặt đất; nguyên văn: “những người [sinh sống] tại đó phát tán”).[4]
Một phiên bản khác cho rằng khu vực này được đặt tên theo người Tích Bá (Xibe)[5].

Sự phổ biến tên gọi “Sibir” trên những vùng lãnh thổ rộng lớn trực tiếp gắn liền với tên gọi của thủ đô của Hãn quốc Xibia của người Tatar, bị sáp nhập vào Sa quốc Moskva dưới thời Ivan Hung đế (1530-1584). Trích đoạn phỏng dịch từ biên niên sử Esipov (tiếng Nga cổ): “…tiến vào đất Sibir…người Tatar sợ hãi trước nhiều lần tiến đánh của các chiến binh Nga, chạy trốn khỏi thành lũy của mình, mà trước đó người Tatar gọi thành phố thủ đô của họ nơi cửa sông Tobol và Irtysh là Sibir, bỏ lại nó trống không. Những chiến binh Nga tới và đóng lại đó và khẳng định thành lũy này vững mạnh, hiện nay gọi là thành Tobolesk Chúa Cứu thế”.

Bắt đầu từ thế kỷ 13 tên gọi Sibir bắt đầu được sử dụng không những để chỉ sắc tộc mà còn để chỉ nơi mà sắc tộc đó sinh sống. Theo ý nghĩa này thì tên gọi của khu vực lần đầu tiên được các tác giả Iran nhắc tới trong thế kỷ 13, với tên gọi “Sebur” lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ trong tập bản đồ Catalan năm 1375. Trong các biên niên sử Nga thế kỷ 15 thì Sibir được dùng để chỉ khu vực ở hạ lưu sông Tobol và trung lưu sông Irtysh.

Nhưng việc sử dụng từ Sibir theo ý nghĩa địa chính trị thì lại gắn liền với toàn bộ vùng đất nằm ở phía đông sông Volga. Trong bức thư gửi nữ hoàng Elizabeth I (năm 1570) Ivan Hung đế tự gọi mình là: “Vua Pskov và đại công tước xứ Smolensk, Tver, các vùng đất Chernigov, Ryazan, Polotsk, Ros… (phần này của từ bị mất) và toàn bộ vùng đất Sibir”.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nhóm dân du mục có mặt ở Xibia từ rất xa xưa ví dụ Yenet, Nenet, Hung Nô, Uyghur. Hãn (Khan) vùng Xibia ở gần Tobolsk ngày nay được biết đến là nhân vật quyền lực lớn, đã từng phong tước cho Kubrat (một vị vua người Bulgaria) là Khả hãn (Khagan) vùng Avaria năm 630. Người Mông Cổ xâm chiếm nơi này vào thế kỷ 13 và cho vùng đất này quyền tự trị, gọi là Hãn quốc Xibia.

Vào thế kỷ 16, thế lực lớn mạnh của nước Nga ở phía tây bắt đầu làm suy yếu Hãn quốc Xibia. Đầu tiên, những nhóm thương nhân và người Cô-dắc xâm nhập khu vực, rồi quân đội Nga xây dựng những tiền đồn tiến xa dần về phía đông. Những thị trấn như Mangazeya, Tara, Yeniseysk và Tobolsk (trung tâm vùng Siberi) bất đầu hình thành và phát triển. Cho đến giữa thế kỷ 17, vùng kiểm soát của nước Nga đã chạm đến bờ Thái Bình Dương. Các thế kỷ tiếp theo, Xibia vẫn là vùng đất không người ở và chưa được khám phá. Chỉ có rất ít chuyến thám hiểm và những người buôn bán sống ở đây. Một nhóm người khác bị đưa đến đây sinh sống là những tù nhân đến từ phía tây nước Nga hoặc những vùng đất bị Nga cai trị, ví dụ Ba Lan.

Tuyến đường sắt xuyên Xibia xây dựng từ 1891-1903 là thay đổi to lớn cho "vùng đất đang ngủ yên" này. Tuyến đường đã nối liền Siberi với những miền phía tây nước Nga đang công nghiệp hoá nhanh chóng. Xibia có nguồn tài nguyên phong phú và dồi dào. Trong suốt thế kỷ 20, chúng được khai thác và nhiều khu dân cư công nghiệp mọc lên trong vùng.

Năm 1908, tại đây đã có một vụ nổ lớn, thường được biết đến với tên vụ nổ Tunguska

Thổ nhưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Với diện tích 13,1 triệu km², Xibia chiếm khoảng 77% lãnh thổ Nga. Hai vùng địa lý chủ yếu là Bình nguyên Tây XibiaCao nguyên trung tâm Xibia.

Một cảnh thảo nguyên nhìn từ đường sắt xuyên Siberian
Núi Belukha - dãy núi Altai
Hồ Baikan vào mùa hè

Bình nguyên Tây Xibia bao gồm phần lớn đất trầm tích từ Đại Tân Sinh và rất thấp, nếu mực nước biển dâng 50 m sẽ làm toàn bộ dùng đất giữa Bắc Băng DươngNovosibirsk (thành phố ở giữa nước Nga, chếch về phía nam) ngập trong nước và băng tuyết. Rất nhiều vùng đất thấp này hình thành bởi các mảng băng tuyết, duy trì dòng chảy của sông Obsông Yenisei ra biển Caspibiển Aral. Vùng này chủ yếu là đầm lầy, những vùng có đất cứng là đất mùn và ở phía bắc là vùng đất lạnh quanh năm không có cây. Ở phía nam, nơi nhiệt độ cao hơn, đồng cỏ tươi tốt là phần mở rộng của Bình nguyên Kazakh.

Cao nguyên trung tâm Xibia là nền đất ổn định đã là lục địa từ kỷ Permi. Vùng đất này rất dồi dào khoáng sản, gồm vàng, kim cương, quặng măng-gan, chì, thiếc, nikel, coban và molipden. Phần khá lớn của vùng đất này chứa nhiều đá mắc-ma của vụ phun trào núi lửa cuối kỷ Permi, vụ phun trào lớn nhất của lịch sử [[Trái Đất]

Khí hậu Xibia khác biệt rất lớn vào các thời điểm trong năm. Ở bờ biển phía bắc, giáp Bắc Băng Dương, trên vòng cực Bắc, mùa hè rất ngắn, chỉ một tháng. Khí hậu vùng này là khí hậu lục địa cận cực, mùa đông dài, nhiệt độ trung bình trong năm là 0 độ C, tháng 01 khoảng – 15 độ C, tháng 07 là +20 độ C. Với khí hậu ổn định, mùa hè nhiều nắng và đất đai khá màu mỡ, phía nam Xibia có thể được sử dụng với mục đích nông nghiệp.

Oymyakon trên bản đồ Nga
Oymyakon
Oymyakon
Oymyakon, thị trấn lạnh nhất

Những cơn gió ấm từ Trung ÁTrung Đông thổi đến nam Xibia, làm vùng tây Xibia (như Omsk, Novosibirsk) ấm hơn vùng phía đông (Irkutsk, Chita) tới vài độ C. Tuy nhiên Xibia được xem là địa điểm có nhiệt độ thấp thứ nhì thế giới, chỉ kém châu Nam Cực. Với nhiệt độ kỷ lục ghi được -71 độ C, thị trấn Oymyakon là thị trấn lạnh nhất trên thế giới. Cả thành phố Yakutsk thuộc cộng hòa Sakha, là trung tâm kinh tế quan trọng ở Xibia, vào mùa đông nhiệt độ ở đây từng xuống kỉ lục tới - 64 độ C, sông Lena chảy qua thành phố này cũng bị đóng băng. Thành phố Novosibirsk vào mùa đông nhiệt độ cũng là - 51 độ C. Tuy vậy, nhiệt độ mùa hè ở một số nơi ở Xibia rất nóng và nắng nhiều, lên đến 36 - 38 độ C. Nhìn chung, các địa điểm ở Xibia đều có khí hậu thất thường, có lúc rất nóng và có lúc rất lạnh do nằm sâu trong nội địa hay trên cao nguyên, có thời điểm nhiệt độ mùa hè và mùa đông tại Xibia chênh lệch tới hơn 100 độ C. Xibia lạnh nhất vào tháng 1 và nóng nhất vào tháng 7. Sakha (đông-bắc Xibia) là vùng lạnh nhất ở đây và lưu vực sông Yana có nhiệt độ thấp nhất. Tuy vậy, nước Nga không có kế hoạch đưa người sống ở đây, do đó, khí hậu khắc nghiệt của vùng đất này chưa từng bị coi là một vấn đề nghiêm trọng. Phía nam Xibia ở gần khu vực không khí áp suất cao, nhờ đó mà vào mùa đông, gió không mạnh.

Mặc dù là khu vực lạnh, tuyết ở đây rất ít, đặc biệt là vùng phía đông. Lượng mưa ở Xibia nhìn chung là thấp, chỉ có vùng bán đảo Kamchatka có lượng mưa hơn 500 mm nhờ gió ẩm biển Okhotsk thổi vào gặp núi cao. Vùng cực nam của bán đảo chịu ảnh hưởng gió mùa nên có mưa lớn vào mùa hè.

Xibia là vùng rất giàu tài nguyên khoáng sản, bao gồm gần như tất cả các loại kim loại có giá trị. Một số mỏ ở đây có trữ lượng vào hàng lớn nhất thế giới như nikel, vàng, chì, molypden, kim cương, bạc, và thiếc. Bên cạnh đó là nguồn dầu mỏkhí tự nhiên khổng lồ. Phần lớn những tài nguyên này phân bổ ở vùng xa xôi, lạnh lẽo, điều kiện sinh sống và đi lại khắc nghiệt.

Xibia là nơi cư ngụ của nhiều động vật quý hiếm như hổ Siberia, gấu nâu, tuần lộc, gấu Bắc Cực, hải tượng, cá voi xanh,... Ngoài ra, ở đây có hồ Baikan, là hồ nước ngọt lâu đời nhất thế giới.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp bị hạn chế nhiều bởi mùa hè ngắn ngủi. Song, phía tây nam với khí hậu ôn hòa và đất đen màu mỡ, có các cây lương thực như lúa mì, lúa mạch, lúa mạch đenkhoai tây cùng đồng cỏ cho cừugia súc. Ở những nơi đất cằn cỗi và mùa hè ngắn ngủi, thức ăn có được từ chăn thả tuần lộc – một hình thức kiếm ăn được người dân ở đây duy trì từ hơn 10 nghìn năm trước. Xibia có những khu rừng rộng nhất trên thế giới, gỗ mang lại nguồn thu quan trọng. Biển Okhotsk là một trong những biển nhiều cá nhất thế giới nhờ luồng nước lạnh và thủy triều trải rộng. Xibia cung cấp khoảng 10% lượng cá đánh bắt toàn cầu, sản lượng có giảm sút từ khi Liên Xô sụp đổ.

Công nghiệp của vùng đã từng được chú trọng phát triển mạnh mẽ trong Thế chiến thứ hai. Những nhà máy quy mô lớn được xây dựng ở phía tây Xibia và một số ở quanh hồ Baikal, tuy vậy bước phát triển đã dừng lại kể từ khi không còn nhà nước Xô viết.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Dù diện tích rộng lớn, dân số ở Xibia chỉ chừng 40 triệu người. Mật độ dân cư ở vùng đất này rất thấp 3 người/km², chủ yếu là người Nga và các sắc dân gốc Xlavơ, họ bắt đầu đến ở đây từ 400 năm trước. Phần lớn cư dân sống ở phía nam, dọc theo tuyến đường sắt xuyên Xibia. Các dân tộc có nguồn gốc Mông CổĐột Quyết như Buryat, TuvaYakut đã sống ở đây từ rất lâu. Các nhóm người thiểu số khác là Ket, Evenk, Chukchi, KoryakYukaghir.

Khoảng 70% dân số là ở các thành phố. Phần lớn thị dân sống trong các căn hộ. Ở ngoài đô thị, người dân ở trong những nhà gỗ, lớn và giản dị. Novosibirsk là thành phố đông dân nhất của Xibia (thứ ba ở Nga sau MoskvaSankt-Peterburg) với 1,5 triệu người. Tobolsk, Tomsk, Irkutsk, Yakutsk và Omsk là các trung tâm cổ kính hơn. Những khu vực nằm gần Bắc Cực như thị trấn Oymyakon do nằm ở vĩ độ cao, khí hậu rất lạnh nên dân số thưa thớt hơn.

Tuy nhiên, kể từ năm 2012, khi Tổng thống Nga Putin thành lập Bộ phát triển Viễn Đông Nga và khuyến khích sinh sản, tỉ lệ sinh ở Xibia đã tăng đáng kể. Theo nhiều chuyên gia, đến năm 2015, số dân ở Xibia sẽ tăng từ 30%-35%, và đến năm 2020 có thể chạm ngưỡng 45%.

Phân chia đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

So sánh tăng trưởng của 9 thành phố Siberia lớn nhất trong thế kỷ 20

Các thành phố lớn bao gồm:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Сибирк — website về Xibia
  2. ^ Czaplicka, M.C. (1915). Aboriginal Siberia. 
  3. ^ Baikaloff, Anatole (12-1950). “Notes on the origin of the name "Siberia"”. Slavonic and East European Review 29 (72): 288. 
  4. ^ В.Софронов Тобольский хронограф, ч.1, Новосибирск, 1993
  5. ^ Crossley, Pamela Kyle (2002). The Manchus. Peoples of Asia 14 (ấn bản 3). Wiley-Blackwell. tr. 213. ISBN 0-631-23591-4. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]