Đế quốc Mông Cổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Монголын Эзэнт Гүрэн
Mongolyn Ezent Guren
Ikh Mongol Uls

Mongol Empire
Asia 1200ad.jpg
1206 – 1368 Chagatai Khanate map en.svg
 
Blank.png
 
Chupanid - Jalayerid dyansty 1337–1432 ad.PNG
 
Mongolia 1500 AD.jpg

Cờ của Đế quốc Mông Cổ

Cờ

Vị trí của Đế quốc Mông Cổ
Thủ đô Avarga
Karakorum
(1220 – 1271)
[note 1]
Tôn giáo Tengriism (Shamanism), sau: đạo Phật, đạo Thiên chúađạo Hồi
Chính thể Quân chủ bầu cử
Đại Hãn
 - 1206-1227 Genghis Khan
 - 1229-1241 Ögedei Khan
 - 1246-1248 Güyük Khan
 - 1251-1259 Möngke Khan
 - 1260-1294 Kublai Khan
 - 1333–1370 Toghan Temur
Lập pháp Kurultai
Lịch sử
 - Thành Cát Tư Hãn thống nhất các bộ lạc 1206
 - Thành Cát Tư Hãn mất 1227
 - Thời kỳ thịnh vượng 1210-1350
 - Sự tan rã của đế quốc 1260-1264
 - Sự sụp đổ của nhà Nguyên, sự chấm dứt của đế quốc Mông Cổ 1368
Tiền tệ Tiền kim loại (như dirham), Sukhe, tiền giấy hoặc các thỏi bạc(paper currency backed by silk or silver ingots, and the Yuan's Chao)

Đế quốc Mông Cổ (tiếng Mông Cổ: Их Монгол Улс, có nghĩa là "Đại (Их) Mông Cổ (Монгол) Quốc (Улс)") (12061405) là một đế quốc có diện tích đất cực lớn trong lịch sử thế giới với thời điểm cực thịnh có lãnh thổ lên đến 33 triệu km² và số dân lên đến 100 triệu người và là đế quốc cường thịnh nhất trong các đế quốc thời Trung Cổ.

Đế quốc Mông Cổ được Thành Cát Tư Hãn thành lập năm 1206 sau khi thống nhất các bộ lạc Turk-Mông Cổ và sau đó bành trướng sang đại lục Á-Âu, khởi đầu bằng việc xâm lược Tây Hạ ở phía bắc Trung Quốcđế quốc Khwarezm (Hoa Thích Tử Mô) ở Ba Tư. Vào thời kỳ cực thịnh của nó, Hòa bình Mông Cổ (con đường tơ lụa thuộc đế quốc Mông Cổ) đã tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa và mậu dịch giữa phương Đôngphương Tây trong thời kỳ thế kỷ 13 - thế kỷ 14. Đế quốc Mông Cổ do Đại Hãn cai trị. Sau khi Thành Cát Tư Hãn mất, đế quốc này bị chia thành 4 phần, bao gồm nhà Nguyên, Y Nhi hãn quốc, Sát Hợp Đài hãn quốc (Chagatai) và Kim Trướng hãn quốc), mỗi vùng do một hãn cai trị.

Mục lục

[sửa] Tổng quan

Thành Cát Tư Hãn là vị vua sáng lập Quốc gia Mông Cổ và Đế quốc Mông Cổ.

Theo các tính toán của phương Tây, nhà sử học R. J. Rummel ước tính rằng 30 triệu người bị giết dưới sự cai trị của đế quốc Mông Cổ và dân số của Trung Hoa lúc đó giảm xuống một nửa trong vòng 50 năm dưới sự cai trị của đế quốc Mông Cổ. David Nicole đã viết trong tác phẩm Các lãnh chúa Mông Cổ (The Mongol Warlords) rằng "nỗi khiếp đảm do khủng bố và hủy diệt hàng loạt bất kể kẻ nào chống lại họ là một chiến thuật được kiểm nghiệm có kết quả"

Một trong những sách lược quân sự được người Mông Cổ áp dụng là làm cỏ những cư dân thành thị từ chối đầu hàng; trong Cuộc xâm lược tại Kiev, hầu như các thành phố lớn đều bị phá hủy; nhưng nếu cư dân ở đâu chịu phục tùng thì được tha thứ và đối xử một cách khoan dung. Cùng với các chiến thuật đe dọa, việc bành trướng nhanh chóng của Đế quốc này có điều kiện thuận lợi do khả năng bền bỉ chịu đựng của đội quân Mông Cổ (đặc biệt trong điều kiện mùa đông giá rét), kỹ năng chiến đấu, chế độ trọng nhân tài và tính kỷ luật.

Tốc Bất Đài (Subotai) là một trong những chỉ huy của quân Mông Cổ coi mùa đông là thời gian tốt nhất để tiến hành chiến tranh. Trong khi những người có sức chịu đựng lại trú đông thì người Mông Cổ lại có khả năng sử dụng những hồ và sông đóng băng để làm đường đi cho những kỵ binh của mình, đây là một chiến thuật mà Tốc Bất Đài sử dụng với hiệu quả lớn ở Nga.

Đế quốc Mông Cổ có các vùng đất rộng lớn thống nhất và ảnh hưởng lâu dài, một trong những vùng đó (như đông và tây nước Nga và một số vùng miền tây Trung Hoa) vẫn còn thống nhất cho đến ngày nay dù đã trải qua nhiều chế độ cai trị khác nhau. Người Mông Cổ đã bị đồng hóa vào các dân tộc địa phương sau khi Đế quốc Mông Cổ sụp đổ và nhiều người trong số họ đã theo các tôn giáo bản địa như các hãn quốc ở phía tây theo Hồi giáo, phần lớn chịu ảnh hưởng của Sufi. Trên thực tế, sự đấu đá nội bộ và sự yếu kém trong cai trị là một trong những nguyên nhân chính cho sự sụp đổ của đế chế này [cần dẫn nguồn].

Tranh vẽ cổ thể hiện kỵ binh Ả Rập đang truy sát quân Mông Cổ

Sự ảnh hưởng của Đế quốc Mông Cổ có thể được chứng tỏ một cách trực tiếp hơn: Zerjal et al [2003] xác định được một dòng nhiễm sắc thể Y có mặt trong khoảng 8% nam giới của một vùng rộng tại Châu Á (hay khoảng 0.5% nam giới trên toàn thế giới). Bài báo này cho rằng kiểu biến đổi bên trong dòng giống này thống nhất với một giả thuyết rằng nó được bắt nguồn từ Mông Cổ khoảng 1000 năm trước. Một sự lan tràn như vậy là quá nhanh nếu đã xảy ra bằng khuyếch tán, do đó, nó phải là kết quả của sự chọn lọc. Tác giả cho rằng, dòng giống này có thể đã bắt nguồn từ các hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, và rằng nó đã lan rộng do sự chọn lọc xã hội. Bên cạnh các vương triều của các Hãn (Hãn quốc) và các hậu duệ của họ, dòng họ vương triều Môgôn của Ấn Độ cũng là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn: mẹ của Babur là một hậu duệ đó - còn cha của ông thuộc dòng trực hệ của Timur (Tamerlane).

Vào thời điểm Thành Cát Tư Hãn mất năm 1227, đế quốc này được chia cho 4 con trai của ông với người con trai thứ 4 là đại hãn, và đến những năm 1350, các triều Hãn rạn nứt và đánh mất trật tự mà Thành Cát Tư Hãn đã mang lại. Cuối cùng, các triều Hãn xa rời nhau, trở thành triều đại Y Nhi hãn quốcBa Tư, triều Sát Hợp Đài hãn quốc ở Trung Á, nhà Nguyên ở Trung Quốc, và triều đại mà sau này trở thành Kim Trướng hãn quốc ở địa phận nước Nga ngày nay.

[sửa] Thành lập đế quốc

[sửa] Thống nhất Mông Cổ

Thiết Mộc Chân, sau này được biết đến với cái tên nổi tiếng hơn là Thành Cát Tư Hãn, là người đã lập ra đế quốc Mông Cổ. Ông là con trai Dã Tốc Cai, vị thủ lĩnh của bộ lạc Ki Dát — một trong số những bộ lạc phân bố rải rác trên lãnh thổ Mông Cổ, trên danh nghĩa dưới quyền kiểm soát của nhà Kim lúc ấy. Cha ông bị một bộ tộc đối nghịch giết khi còn trẻ. Việc này khiến cho Tang Côn định giết Thiết Mộc Chân để giành quyền lực. Tuy nhiên Thiết Mộc Chân đã biết trước âm mưu này khiến nổ ra một trận nội chiến lớn bên trong những người Mông Cổ. Cuối cùng, Thiết Mộc Chân đánh bại Tang Côn lên nắm tước vị Vương Hãn. Thiết Mộc Chân đã lập ra một bộ văn bản luật cho người Mông Cổ được gọi là Yassa, và ông buộc mọi người phải tuân thủ nghiêm túc.

Tiếp đó, Thiết Mộc Chân tấn công các bộ tộc xung quanh, nắm thêm quyền lực. Bằng cách phối hợp cả ngoại giao, tổ chức, khả năng quân sự và sự tàn bạo, Thiết Mộc Chân cuối cùng đã thống nhất được tất cả các bộ lạc thành một quốc gia duy nhất, một chiến công mang tính biểu tượng của người Mông Cổ, vốn đã có một lịch sử huynh đệ tương tàn lâu dài. Năm 1206, Thiết Mộc Chân đã thống nhất toàn bộ các bộ lạc phân tán trước đó để tạo thành nước Mông Cổ. Tại một Khurultai (một hội đồng thủ lĩnh Mông Cổ), ông được trao tên hiệu "Thành Cát Tư Hãn", hay "Vua cai trị tối cao". Sự khai sinh nước Mông Cổ đánh dấu bước khởi đầu của một đế chế không ngừng mở rộng trong lịch sử, chiếm những vùng đất lớn ở châu Á, Trung Đông và nhiều phần châu Âu, trong hai thế kỷ sau đó. Trong khi đế chế của mình mở rộng về mọi hướng, mục tiêu chính của Thành Cát Tư Hãn luôn là Trung Quốc, đặc biệt Tây Hạ, nhà Kim và triều Nam Tống.

[sửa] Chinh phục phía bắc

Lịch sử Mông Cổ
Mongol dominions1.jpg
Tiền Thành Cát Tư Hãn
Đế quốc Mông Cổ
Hãn quốc
- Djaghatai Khanat
- Kim Trướng hãn quốc
- Houlagide
- Nhà Nguyên
Nhà Thanh (Mông Cổ thời nhà Thanh)
Trung Hoa Dân Quốc
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ (Ngoại Mông)
Mông Cổ hiện đại
Nhiệt Hà (Nội Mông)
Cộng hòa Bouriatie
Aimak
Niên biểu lịch sử
sửa

Ở thời còn Khuriltai, Thiết Mộc Chân tham dự vào một cuộc tranh chấp với Tây Hạ - cuối cùng trở thành cuộc chiến tranh chinh phục đầu tiên của ông. Dù vấp phải sự kháng cự từ những thành Tây Hạ được tổ chức phòng ngự tốt, cuối cùng ông đã thành công trong việc hạn chế tầm ảnh hưởng của Tây Hạ khi ký hiệp ước hòa bình năm 1209. Ông được các vị hoàng đế Tây Hạ công nhận là chúa tể. Sự kiện này đánh dấu sự thành công đầu tiên trong quá trình chinh phục mọi vương quốc và triều đại ở Trung Quốc chưa từng được hoàn thành trước thời ông. Một mục tiêu chính của Thiết Mộc Chân là chinh phục nhà Kim, cho phép người Mông Cổ trả thù những lần thua trận trước đó, chiếm lấy miền Bắc Trung Quốc giàu có và biến Mông Cổ trở thành một cường quốc lớn đối với người Trung Quốc. Ông tuyên chiến năm 1211, và dùng các phương pháp chiến đấu với Tây Hạ trước đó để tấn công nhà Kim. Người Mông Cổ giành chiến thắng trên chiến trường, nhưng họ lại thất bại trong nỗ lực chiếm các thành phố lớn. Sử dụng cách tấn công thông thường của mình, Thiết Mộc Chân và quân đội gặp nhiều vấn đề khi tấn công các thành trì phòng ngự kiểu pháo đài. Với sự trợ giúp của các kỹ sư Trung Quốc, họ dần phát triển các kỹ thuật sau này biến họ trở thành một trong những lực lượng công thành hoàn thiện và thành công nhất trong lịch sử chiến tranh.

Sau khi giành được một số thắng lợi to lớn trên chiến trường và chiếm được một số thành trì sâu trong lãnh thổ Trung Quốc, Thiết Mộc Chân đã chinh phục và củng cố các lãnh thổ nhà Kim xa về phía nam tới tận Vạn lý trường thành năm 1213. Sau đó ông tấn công ba mũi vào trong lãnh thổ Kim, trong khoảng giữa Trường thànhHoàng Hà. Ông đánh bại quân đội Kim, tàn phá miền Bắc Trung Quốc, chiếm nhiều thành phố, và năm 1215 bao vây, chiếm và phá hủy kinh đô Kim tại Yên Kinh (sau này là Bắc Kinh). Tuy nhiên, hoàng đế Kim, Tuyên Tông không đầu hàng mà dời đô tới Khai Phong, con cháu ông còn giữ được ngôi cho tới tận năm 1234.

Vị hoàng đế Tây Hạ chư hầu từ chối tham gia vào cuộc chiến chống lại các dân tộc Khwarizm, vì thế Thiết Mộc Chân thề sẽ trừng phạt họ. Trong khi ông còn đang ở Trung Á, Tây Hạ và Kim thành lập một liên minh chống lại người Mông Cổ. Sau khi nghỉ ngơi và bố trí lại quân đội, Thiết Mộc Chân lại một lần nữa chuẩn bị chiến tranh chống lại những kẻ địch lớn nhất của mình. Khi ấy, sau nhiều năm chinh chiến Thiết Mộc Chân đã chuẩn bị trước cho tương lai và lập ra thứ bậc truyền ngôi cho các con. Ông lựa chọn con trai thứ ba là Oa Khoát Đài (Ogedei) làm thế tử và lập ra một phương pháp lựa chọn các hãn sau này, quy định rằng họ phải là con cháu trực hệ của ông. Tuy nhiên, ông nhận được tin tình báo rằng Tây Hạ và Kim đã tập trung được một lực lượng 180.000 cho một chiến dịch mới.

[sửa] Tham vọng đoạt Thiên Mệnh

Năm 1226, Thiết Mộc Chân tấn công người Tanguts (Tây Hạ) lấy lý do rằng người Tanguts đã chứa chấp các kẻ thù của Mông Cổ. Năm sau đó ông chiếm các thành phố Heisui, Cám Châu (赣州), Tô Châu, và phủ Xiliang — cuối cùng Tây Hạ bị đánh bại gần dãy Hà Liên Sơn. Ngay sau đó ông chiếm thành phố Linh Châu của Tây Hạ — đánh bại quân tiếp viện của họ. Năm 1227, Thiết Mộc Chân tấn công thủ đô Tây Hạ và vào tháng 2 chiếm phủ Lintiao. Tháng ba ông chiếm quận Tây Ninhphủ Tín Đô (信都府), tháng 4, chiếm quận Deshun. Tại Deshun, tướng Tây Hạ là Mã Diên Long () chống lại quân Mông Cổ trong nhiều ngày và tự mình chỉ huy cuộc chiến với quân Mông Cổ bên ngoài thành. Sau này Mã Diên Long chết vì bị trúng tên. Khi sắp qua đời năm 1227, Thiết Mộc Chân đã phác họa cho con trai út là Đà Lôi, các kế hoạch sau này sẽ được những kẻ kế tục ông sử dụng để tiêu diệt Tây Hạ, nhà Kim và triều Nam Tống. Vị hoàng đế mới nhà Tây Hạ, lên ngôi khi diễn ra các cuộc tấn công của Mông Cổ, đầu hàng. Người Tanguts chính thức đầu hàng năm 1227, sau khi tồn tại 190 năm, từ 1038 đến 1227. Người Mông Cổ giết hoàng đế Tanguts và các thành viên trong gia đình hoàng tộc.

Trong thời cai trị của Oa Khoát Đài, người Mông Cổ hoàn thành việc chinh phục nhà Kim (1115–1234) năm 1234, tới gần và bắt đầu tấn công Nam Tống. Năm 1235, dưới sự chỉ huy trực tiếp của khan, người Mông Cổ bắt đầu một cuộc chiến chinh phục kéo dài bốn mươi lăm năm. Sau một loạt các chiến dịch từ 1231 đến 1259, quân đội Mông Cổ buộc Triều Tiên phải lệ thuộc họ. Người Mông Cổ cũng thành lập quyền kiểm soát lâu dài đối với Ba Tư bản thổ (do Chormagan chỉ huy) và nổi tiếng hơn là hãn vương Bạt Đô dẫn đầu tiến về phía tây để chinh phục thảo nguyên Nga. Những vùng đã bị họ chinh phục gồm hầu như toàn bộ Nga (trừ Novgorod, trở thành một chư hầu), Hungary, và Ba Lan. Oa Khoát Đài chết năm 1241, vì rượu, khiến chiến dịch chinh phục phía tây chết yểu. Các vị tướng nghe tin đó khi họ đang tiến về Viên, và đã rút quân về Mông Cổ, không còn ý định tiến về phía tây nữa.

Không cần tới thời hãn vương Mông Ca, người Mông Cổ đã có ý chiếm Nam Tống, đế chế văn minh nhất thế giới thời đó. Mông Ca rất chú ý tới cuộc chiến chinh phục Trung Quốc, ông đã chuẩn bị tấn công vào sườn nhà Tống thông qua cuộc chinh phục Vân Nam năm 1253 và một cuộc xâm lược Đông Dương, sẽ cho phép người Mông Cổ đánh Tống từ phía bắc, tây và nam. Đích thân chỉ huy quân đội hàng chục năm, ông chiếm nhiều thành phố dọc theo mặt trận phía bắc. Những hành động chuẩn bị này cho thấy cuộc chiến tranh chinh phục chỉ còn là vấn đề thời gian. Ông ra lệnh cho em trai là Hạt Lỗ (Hülegü) tiến về phía tây, một hành động nhằm mở rộng Đế chế Mông Cổ tới tận cổng thành Ai Cập. Các cuộc chinh phục châu Âu bị quên lãng nhường chỗ cho hai mặt trận đó, nhưng sự thân thiện của Mông Ca với Bạt Đô (hãn vương Quý Do (Güyük Khan) suýt đã có chiến tranh với ông ta — nhưng cuộc chiến không diễn ra vì cái chết của ông) đã đảm bảo sự thống nhất của đế chế. Trong khi đang tiến hành chiến tranh với Trung Quốc, Mông Ca ốm vì bệnh lỵ và chết (năm 1259), khiến chiến dịch của Húc Liệt Ngột bị hủy bỏ, nhờ đó nhà Tống chưa bị đánh bại, và gây ra một cuộc nội chiến giành ngôi phá vỡ sự thống nhất và vô địch của đế chế. Cái chết của ông khiến Hốt Tất Liệt hoàng đế đầu tiên nhà Nguyên có cơ hội nổi lên.

[sửa] Các sự kiện chính trong thời kì đầu của Đế quốc Mông Cổ

Sự sụp đổ của Baghdad năm 1258, một sự kiện thường được coi là sự kiện thảm khốc nhất trong lịch sử của các quốc gia Hồi giáo
Liên lục địa Âu Á tại đỉnh cao của các cuộc xâm lược của Mông Cổ, khoảng thập kỉ 1200.
Đế quốc Mông Cổ khi Thành Cát Tư Hãn qua đời.

[sửa] Quân đội

Quân đội Mông Cổ có tổ chức đơn giản nhưng hiệu lực. Nó dựa trên một truyền thống cổ của thảo nguyên, đó là một hệ thống thập phân đã được biết đến trong các nền văn hóa Iran từ thời Ba Tư Achaemenid. Quân đội được tổ chức từ các đội 10 người, được gọi là một arban; 10 arban lập thành một đại đội 100 người, gọi là một jaghun; 10 jaghun lập thành một trung đoàn một ngàn người gọi là mingghan, và 10 mingghan tạo thành một lực lượng 10 ngàn người, tương đương với 1 sư đoàn hiện đại.

Trong một trận đánh, quân Mông Cổ sử dụng sự hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các cánh quân. Tuy họ nổi tiếng với kị binh bắn cung, các lực lượng dùng giáo của họ cũng thiện chiến không kém và cũng góp phần quan trọng cho thành công.

Không như những chiến binh cơ động khác như Hung Nô/Người Hung hay người Viking, người Mông Cổ rất thành thạo trong nghệ thuật bao vây. Họ cẩn thận tuyển mộ các thợ thủ công và người tài trong lĩnh vực quân sự từ các thành phố chiếm được, cùng với một nhóm công binh và pháo thủ Trung Quốc, họ là các chuyên gia trong việc xây dựng máy bắn đá (trebuchet), máy lăng đá (catapult) và các máy móc khác để dùng cho việc bao vây các vị trí được phòng thủ. Các máy móc này đã được sử dụng hiệu quả trong các chiến dịch châu Âu của tướng Subutai. Các vũ khí này có thể được xây dựng ngay tại chỗ bằng các vật liệu sẵn có như cây cối gần đó. Bên cạnh đó, hỏa tiễn cũng được sử dụng để làm rối loạn đội hình đối phương, dùng khói để cô lập các bộ phận của đối phương trong khi tiêu diệt các lực lượng này.

Kỉ luật quân đội là điều tạo nên sự khác biệt giữa quân Mông Cổ và các đội quân khác. Quân Mông Cổ được huấn luyện, tổ chức, và trang bị cho mục tiêu tốc độ và tính cơ động. Để làm tối đa tính cơ động, binh sĩ Mông Cổ được trang bị giáp tương đối nhẹ so với nhiều đội quân mà họ đối đầu. Ngoài ra, việc binh sĩ Mông Cổ hoạt động độc lập với các tuyến hậu cần đã làm tăng đáng kể tốc độ di chuyển của quân đội. Kỉ luật được huấn luyện theo truyền thống săn bắn cổ với các nhóm nhỏ, trong đó các chiến binh trải rộng theo tuyến, bao vây toàn bộ khu vực. Mục tiêu là để không cho phép một con thú nào trốn thoát và để giết sạch chúng.

Tranh vẽ cổ về những kẻ thống trị người Mông Cổ

Tất cả các chiến dịch quân sự đều được chuẩn bị cẩn trọng trong việc lập kế hoạch, trinh sát, thu thập các thông tin nhạy cảm liên quan đến các vùng lãnh thổ và lực lượng của đối phương. Thành công, tổ chức và tính cơ động của quân Mông Cổ cho phép họ đánh cùng lúc nhiều mặt trận. Tất cả nam giới tuổi từ 15 đến 60 và có khả năng tham gia sự huấn luyện khắc nghiệt đều thuộc diện có thể đăng lính, một vinh dự trong truyền thống chiến binh bộ lạc.

Một lợi điểm khác của quân Mông Cổ là khả năng di chuyển xa thậm chí trong thời tiết mùa đông khắc nghiệt; đặc biệt, các dòng sông băng đã đóng vai trò như các con đường cao tốc tới các vùng đô thị lớn hai bên bờ. Bên cạnh công nghệ vây thành, quân Mông Cổ còn thích ứng được với các công trình thủy, vượt sông Sajó trong điều kiện lũ mùa xuân với 30 ngàn kị binh trong đúng một đêm trong Trận Muhi (tháng 4, 1241), đánh bại vua Hungary Béla IV. Tương tự, trong cuộc tấn công các vua Hồi giáo của đế quốc Khwarezmid, quân Mông Cổ đã dùng một đội thuyền nhỏ để chặn việc rút chạy theo đường sông.

[sửa] Nhận định

Trong lịch sử thế giới trung đại chưa có đế quốc nào nổi lên với mức độ thành công như thế, người Mông Cổ hầu hết trải qua chiến thắng trong mọi cuộc chinh phục mà ít khi nếm trải thất bại. Nguyên nhân thành công của họ là nhờ sở hữu và sử dụng lực lượng quân sự hiệu quả nhất lục địa Á-Âu thời bấy giờ. Người lính Mông Cổ được huấn luyện ngay từ nhỏ với kỹ năng cưỡi ngựa, chiến đấu và phối hợp nhóm thành thạo, khả năng chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên cao độ. Đặc biệt trọng tính cơ động, linh hoạt và tốc độ chưa từng thấy trong bất kỳ đội quân nào trong lịch sử. Bí quyết thành công của họ còn nằm ở việc biết thu nạp người tài từ thợ rèn cho tới quân sư của địa phương bị chinh phục với chế độ đãi ngộ rất tốt, đồng thời khủng bố tàn khốc kẻ thù nếu không thuận theo ý họ, khiến nhiều người phải chọn lựa thay vì chống lại vô ích sẽ có lợi hơn khi đi theo Mông Cổ. Các chiến thắng liên tục cũng thúc đẩy tinh thần quân Mông Cổ tự tin, kiêu hãnh và ngang tàn trong hơn 1 thế kỷ nổi lên chinh phục của họ.Ngoài ra, kẻ chinh phục Mông Cổ dùng cả dịch bệnh từ xác chết để hỗ trợ không kém sự hung hãn tàn phá bằng quân đội.

Tuy vậy, Mông Cổ có những nhược điểm nhất định, họ là đế chế nổi lên nhưng thiếu nền tảng của một nền văn minh hay ít ra là một nền văn hóa mạnh mẽ. Điều này khiến họ mau chóng bị đồng hóa vào các địa phương đã chiếm. Người Mông Cổ dần bị tiêm nhiễm sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, thậm chí là nhân chủng và ngôn ngữ trên lục địa Á-Âu, khiến cho những cội rễ tinh thần và sức mạnh cố kết đế chế bị mất đi. Bởi vì quá trình đó không chỉ làm mất đi tính thống nhất dân tộc đi chinh phục mà còn làm cho họ phân thành những kẻ bị đồng hóa khác nhau vào những xã hội khác nhau. Quân đội Mông Cổ cũng không phải bách chiến bách thắng, họ thất bại ở Đại Việt, Nhật Bản, Nam Dương, điều đó cho thấy quân Mông Cổ nổi tiếng không thạo hải quân, họ giỏi chiến đấu trên mặt đất hơn, vốn là điều kiện quen thuộc mà người lính Mông Cổ rèn luyện từ nhỏ.

Đã có hai lần kẻ thù xâm lược vào nước Nga rộng lớn bị đánh bại chủ yếu do ảnh hưởng của yếu tố thời gian và mùa đông khắc nghiệt là quân đội Napoleon năm 1812 và quân Đức Quốc xã năm 1941, nhưng Mông Cổ đã ghi dấu ấn là một đội quân xâm lược nước Nga thành công trước đó hàng thế kỷ nhưng lại nhờ yếu tố mùa đông.

Thế kỷ 19 đánh dấu sự bành trướng mạnh nhất của đế quốc châu Âu vào châu Á dẫn đến thuộc địa hóa nhiều nước, các nước bị người da trắng xâm lược, người Mông Cổ đã để lại dấu ấn nổi bật khi họ là đạo quân xâm lược da vàng châu Á đã từng làm khiếp đảm châu Âu hàng thế kỷ trước đó. Điều đó cho thấy người châu Á không phải hèn kém hơn người châu Âu. Về sau khi Nga bị Nhật đánh bại (năm 1905), yếu tố "da vàng đánh bại da trắng" trong tư tưởng châu Á mới thật sự nói đến rộng rãi qua truyền thông và tinh thần ngưỡng mộ Nhật Bản Minh Trị trong người dân châu Á.

[sửa] Tham khảo

  1. ^ The actual foundation of this city did not occur until 1220. After the death of Möngke Khan in 1259, there was no single major city in the empire, with Dadu being the capital of the Empire of the Great Khan from 1272 to 1368.

[sửa] Tài liệu tham khảo

  • Brent, Peter. The Mongol Empire: Genghis Khan: His Triumph and his Legacy. Book Club Associates, London. 1976.
  • Buell, Paul D. (2003), Historical Dictionary of the Mongol World Empire, The Scarecrow Press, Inc., ISBN 0-8108-4571-7
  • Howorth, Henry H. History of the Mongols from the 9th to the 19th Century: Part I: The Mongols Proper and the Kalmuks. New York: Burt Frankin, 1965 (reprint of London edition, 1876).
  • Kradin, Nikolay, Tatiana Skrynnikova. "Genghis Khan Empire". Moscow: Vostochnaia literatura, 2006. 557 p. (ISBN 5-02-018521-3).
  • Kradin, Nikolay, Tatiana Skrynnikova. "Why do we call Chinggis Khan's Polity 'an Empire' ". Ab Imperio, Vol. 7, No 1(2006): 89-118. (ISBN 5-89423-110-8)
  • May, Timothy. "The Mongol Art of War." [1] Westholme Publishing, Yardley. 2007.
  • Weatherford, Jack (2004). Genghis Khan and the Making of the Modern World. Three Rivers Press. ISBN 0-609-80964-4.
  • Woods, Shelton (2002). Vietnam: An Illustrated History. Hippocrene Books Inc. ISBN 0-7818-0910-X
  • (tiếng Pháp) Dominique Farale, De Gengis Khan à Qoubilaï Khan : la grande chevauchée mongole, Economica, 2003 (ISBN 2-7178-4537-2)
  • (tiếng Pháp) Dominique Farale, La Russie et les Turco-Mongols: 15 siècles de guerre, Economica, 2007 (ISBN 978-2-7178-5429-9)

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác