Đế quốc Parthia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ashkâniân
Đế quốc Parthia

247 TCN–224 SCN
Vị trí của Parthian Empire
Cương thổ của Đế quốc Parthia (vùng được tô màu), khoảng 1 AD
Thủ đô Asaak, Hecatompylos, Ecbatana, Ctesiphon, Susa, Mithridatkird-Nisa
Ngôn ngữ Những ngôn ngữ miền trung Iran (bao gồm tiếng Parthia)
Tôn giáo Syncretic Helleno-Zoroastrianism
Chính thể Quân chủ phong kiến[1]
Thời đại lịch sử Cổ đại
 - Khởi đầu năm 247 TCN
 - Giải thể 224 SCN
Tiền tệ drachma
History of Iran
Lịch sử Iran
CỔ ĐẠI
Nguyên Elam 3200–2700 TCN
Elam 2700–539 TCN
Người Mannaea 850–616 TCN
ĐẾ QUỐC
Đế quốc Media 678–550 TCN
  (Đế quốc Scythia 652–625 TCN)
Đế quốc Achaemenes 550–330 TCN
Atropatene k.320 TCN–tk 3 CN
Đế quốc Seleukos 312–63 TCN
Đế quốc Parthia 247 TCN – 224 CN
Đế quốc Sassanid 224–651
  (Triều Dabuyid 642–759/760)
TRUNG ĐẠI
Triều Umayyad 661–750
Triều Abbas 750–1258
Triều Bavand
tk 8–1349
Triều Samanid
819–999
Triều Saffarid
867–1002
Triều Ziyarid
928–1043
Triều Sallarid
941–1062
Triều Sajid
889/890–929
Triều Buyid
934–1055
Đế quốc Ghaznavid 963–1186
Đế quốc Đại Seljuq 1037–1194
Triều Ghurid 1148–1215
Đế quốc Khwarezm 1077–1231
Triều Mihrabanid 1236–giữa tk 16
Triều Kurt 1244–1396
Hãn quốc Y Nhi 1256–1335
Triều Chobanid
1335–1357
Triều Muzaffarid
1335–1393
Triều Jalayirid
1336–1432
Triều Sarbadar
1337–1376
Đế quốc Timurid 1370–1405
Qara Qoyunlu
1406–1468
Triều Timurid
1405–1507
Agh Qoyunlu
1468–1508
CẬN ĐẠI
Đế quốc Safavid 1501–1736
  (Triều Hotaki 1722–1729)
Đế quốc Afsharid 1736–1747
Triều Zand
1760–1794
Triều Afsharid
1747–1796
Đế quốc Qajar 1796–1925
HIỆN ĐẠI
Triều Pahlavi 1925–1979
Chính phủ Lâm thời 1979–1980
Cộng hòa Hồi giáo 1980–nay

Đế quốc Parthia hay còn được gọi là Nhà Arsaces (247 TCN – 224 CN) là một quốc gia của người IranTrung Đông, có nền chính trị và quân sự phát triển mạnh, và là đối thủ đáng gờm của Đế quốc La Mã trên miền đất này.[2] Đế quốc này do vua Arsaces I sáng lập, gắn liền với nhà Arsaces [3] có nguồn gốc từ Parthia (đại khái ở tây bộ Khurasan, thuộc miền đông bắc Iran)[4]. Sau đó là một satrapy (tỉnh) trong cuộc nổi loạn chống lại đế chế Seleukos. Mithridates I của Parthia (rc 171-138 BC) đã mở rộng đế chế bằng cách chiếm lấy MediaLưỡng Hà từ vương quốc Seleukos. Vào thời kì đỉnh cao, Đế quốc Parthia trải dài từ phía bắc của sông Euphrates, nay là phía đông Thổ Nhĩ Kỳ, tới phía đông Iran. Đế quốc nằm trên tuyến đường tơ lụa giữa Đế chế La Mã ở lưu vực Địa Trung Hảinhà Hán ở Trung Quốc, nhanh chóng trở thành một trung tâm buôn bán và thương mại.

Nhiều tài liệu cũng gọi nhà nước này là Vương quốc Parthia.

Là triều đại lấn chiếm đất và kế tục nhà Seleukos cùng với một số diadochi (sứ quân của Macedonia - Hy Lạp) khác, các vị vua Parthia, khác với các diadochi, đã trở thành triều đại bản xứ của dân Iran, mặc dù họ yêu thích nền văn minh Hy Lạp đến mức tự nhận là philhellenes (bạn của những người Hy Lạp) trên những đồng tiền mà họ ban hành. Các nhà vua triều đại Arsaces đã sử dụng danh hiệu là "Vua của các vua", như một tuyên bố là người thừa kế thực sự đế chế Achaemenes, họ chấp nhận nhiều vị vua địa phương như các chư hầu lệ thuộc sẽ phải trực do chính quyền Trung ương chỉ định, mặc dù phần lớn đều tự trị, hay là các phó vương. Triều đình đã chỉ định một số lượng nhỏ các phó vương, chủ yếu là bên ngoài Iran, nhưng các satrapies này nhỏ hơn và ít mạnh mẽ hơn so với những người cai trị địa phương dưới thời Achaemenes. Với việc mở rộng quyền lực của Arsacid, chính quyền trung ương đã chuyển từ Nisa, Turkmenistan tới Ctesiphon dọc theo sông Tigris (phía nam Baghdad, Iraq), mặc dù một số nơi khác cũng từng là thủ đô.

Những văn liệu còn tồn tại được của triều đại này rất hiếm. Nhiều điều chúng ta biết được về họ ngày nay chỉ hoàn toàn dựa vào các tài liệu của người Hy Lạp, La Mã hoặc Trung Quốc[5].

Những kẻ thù đầu tiên của đế quốc Parthia là vương quốc Seleukos ở phía tây và người Scythia ở phía đông. Tuy nhiên, vì Parthia mở rộng về phía tây, họ bước vào cuộc xung đột với Vương quốc Armenia, và cuối cùng Cộng hòa La Mã. La Mã và Parthia đã cạnh tranh với nhau để thiết lập các vị vua của Armenia là các chư hầu của mình. Người Parthia đã đánh bại Marcus Licinius Crassus trong trận Carrhae năm 53 trước Công nguyên, và trong năm 40-39 trước Công nguyên, lực lượng Parthia chiếm được toàn bộ vùng Cận Đông - ngoại trừ Týros - từ những người La Mã. Tuy nhiên, Mark Antony đã dẫn đầu một cuộc phản công chống lại Parthia và một số hoàng đế La Mã đã xâm chiếm Lưỡng Hà trong cuộc chiến tranh La Mã-Parthia. Người La Mã chiếm được thành phố Seleucia và Ctesiphon nhiều lần trong những cuộc xung đột. Những cuộc nội chiến giữa những người tranh đoạt ngai vàng của Parthia đã tỏ ra nguy hiểm hơn các thế lực ngoại xâm, và quyền lực của Parthia biến mất khi Ardashir I, vua chư hầu của Estakhr ở Fars, nổi dậy chống lại triều đại Arsaces và giết chết vị vua cuối cùng của họ, Artabanus IV, trong năm 224 SCN. Ardashir đã thành lập Đế chế Sassanid, cai trị Iran và phần lớn vùng Cận Đông cho đến khi những cuộc chinh phục Hồi giáo xảy ra vào thế kỷ thứ 7, mặc dù vậy triều đại Arsaces vẫn tồn tại thông qua triều đại Arsaces của Armenia.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc và sự hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Two sides of a silver coin. The one on the left bears the imprint of a man's head, while the one on the right a sitting individual.
đồng drachma bạc của Arsaces I của Parthia (r. c. 247–211 TCN) với một dòng chữ Hy Lạp với tên của ông(ΑΡΣΑΚΟΥ)
Xem thêm thông tin: Alexander Đại đếDiadochi, và Thời kỳ Hy Lạp hóa

Trước khi Arsaces I của Parthia sáng lập ra nhà Arsaces, ông là thủ lĩnh của người Parni, một bộ lạc Trung Á cổ đại và là một trong một số những bộ tộc du mục trong liên minh Dahae.[6] Người Parni rất có thể nói một ngôn ngữ ở miền Đông Iran, trái ngược với các ngôn ngữ tây bắc Iran cùng thời ở Parthia.[7] Vùng đất nằm này đầu tiên nằm đầu tiên dưới sự cai trị của triều đại Achaemenes, sau đó là đế chế Seleucid.[8] Sau khi chinh phục vùng đất này, người Parni chấp nhận tiếng Parthia là ngôn ngữ chính thức trong triều đình, nói nó cùng với ngôn ngữ ở miền Trung Ba Tư, tiếng Aramaic, Hy Lạp, Babylon, Sogdia và các ngôn ngữ khác trong vùng lãnh thổ đa ngôn ngữ, mà họ sẽ chinh phục.[9]

Lý do tại sao triều đình Arsaces đã chọn năm 247 TCN là năm đầu tiên của thời đại Arsaces là không chắc chắn. A.D.H. Bivar kết luận rằng đây là năm mất quyền kiểm soát Parthia của vương quốc Seleukos về tay Andragoras, phó vương được bổ nhiệm nổi dậy chống lại họ. Do đó, Arsaces I "tính thời gian thuộc triều đại của mình" đến thời điểm này khi sự kiểm soát của Seleukos với Parthia đã chấm dứt.[10] Tuy nhiên, Vesta Sarkhosh Curtis khẳng định rằng điều này chỉ đơn giản là năm Arsaces được làm tộc trưởng của bộ tộc Parni.[11] Homa Katouzian[12] Homa Katouzian và [13] Gene Ralph Garthwaite cho rằng đó là năm Arsaces chinh phục Parthia và trục xuất các quan chức của Seleukos, nhưng Curtis [11] and Maria Brosius[14] và Maria Brosius cho rằng Andragoras đã không bị lật đổ bởi triều đại Arsaces cho đến năm 238 trước Công nguyên.

Không rõ những người ngay sau đó kế vị Arsaces I,[15] and Katouzian[12] Bivar và Katouzian khẳng định rằng đó là em trai của ông Tiridates I của Parthia, người đã tiếp tục được kế vị bởi con trai của ông Arsaces II của Parthia năm 211 TCN. Tuy nhiên, Curtis[16] và Brosius[17] cho rằng Arsaces II là người kế thừa trực tiếp của Arsaces I, với Curtis tuyên bố sự kế vị đã diễn ra vào năm 211 trước Công nguyên, và Brosius là trong năm 217 TCN.

A map centered on the Mediterranean and Middle East showing the extent of the Roman Republic (Purple), Selucid Empire (Blue), and Parthia (Yellow) around 200 BC.
Parthia, được tô màu vàng đậm, nằm sát cạnh đế quốc Seleukos (xanh) và Cộng hòa La Mã (màu tía) vào khoảng năm 200 BC

Vào khoảng thời gian đó, Arsaces đã củng cố các vùng đất của mình ở ParthiaHyrcania bằng cách tận dụng các cuộc xâm lược của Seleukos tiến hành ở vùng lãnh thổ ở phía tây nhằm vào Ptolemy III Euergetes (khoảng năm 246-222 TCN) của Ai Cập. Cuộc chiến này với nhà Ptolemaios, cuộc chiến tranh Syria lần thứ ba (246-241 TCN), cũng cho phép Diodotos I nổi loạn và hình thành nên Vương quốc Hy Lạp-Bactria ở Trung Á. Người kế vị tiếp theo đó, Diodotus II, đã thành lập một liên minh với Arsaces nhằm chống lại vương quốc Seleukos, nhưng Arsaces đã tạm thời bị đuổi khỏi Parthia bởi quân đội của Seleucus II Callinicus (khoảng năm 246-225 TCN). Sau một thời gian sống lưu vong giữa những bộ tộc du mục Apasiacae, Arsaces đã dẫn đầu một cuộc phản công và chiếm lại Parthia. Người thừa kế của Seleukos II,[18] Antiochus III Đại đế (r. 222-187 TCN), đã không thể ngay lập tức phản công bởi vì quân đội của ông đang tham gia vào việc dập tắt cuộc nổi loạn của Molon ở Media.[18]

Antiochos III sau đó đã phát động một chiến dịch lớn để chiếm lại ParthiaBactria trong năm 210 hoặc 209 TCN. Ông đã không thành công, nhưng đã thương lượng một giải pháp hòa bình với Arsaces II. Mà sau này đem lai cho ông danh hiệu vua (tiếng Hy Lạp: basileos).[19] Vương quốc Seleukos không thể tiếp tục can thiệp vào việc lấn chiếm của Parthia sau khi Cộng hòa La Mã đánh bại đế chế Seleukos trong trận Magnesia vào năm 190 TCN.[19] Phriapatius của Parthia (khoảng năm 191-176 TCN) đã kế vị Arsaces II, tiếp đó là Phraates I của Parthia (176-171 TCN). Phraates I cai trị Parthia mà không có sự can thiệp thêm bởi vương quốc Seleukos.[20]

Xâm chiếm và Củng cố[sửa | sửa mã nguồn]

Faded relief carved into the side of a rock. The scene portrays a man on horseback as well as several other characters.
A rock-carved relief of Mithridates I của Parthia (r. c. 171–138 BC), seen riding on horseback, at Xong-e Ashdar, city of Izeh, Khūzestān Province, Iran

Phraates I được ghi nhận là mở rộng kiểm soát Parthia vượt qua cửa ải của Alexandros và chiếm đóng Apamea Ragiana, địa điểm này hiện nay là không rõ.[21] Tuy nhiên, việc mở rộng lớn nhất quyền lực của Parthia và các vùng lãnh thổ đã diễn ra trong thời cai trị của người em và là người kế vị Mithridates I của Parthia (171-138 TCN),[17] mà Katouzian đã so sánh với Cyrus Đại đế (mất 530 TCN), người sáng lập của Đế chế Achaemenes.[12]

Quan hệ giữa Parthia và vương quốc Hy Lạp-Bactria xấu đi sau khi Diodotus II bị lật đổ, khi đó Mithridates xâm chiếm hai tỉnh của vương quốc này, dưới thời Eucratides I (rc 170-145 TCN).[22] Chuyển hướng chú ý của mình tới các vùng đất của Seleukos, Mithridates xâm lược Media và chiếm đóng Ecbatana trong năm 148 hoặc 147 TCN; khu vực này gần đây đã bị mất ổn định dưới sự cai trị của Seleukos là do một cuộc nổi loạn bởi Timarchus.[23] Chiến thắng này cho phép cuộc chinh phục của người Parthia vào Babylon ở vùng Lưỡng Hà, nơi Mithridates đã ban hành tiền xu của ông mà được đúc tại Seleucia trong năm 141 trước Công nguyên.[24] Trong khi Mithridates quay trở về an dưỡng tại Hyrcania, lực lượng của ông đã chinh phục các vương quốc của ElymaisCharacene, đồng thời chiếm Susa.[24] Vào thời gian này, Parthia còn mở rộng quyền lực xa về phía đông tới tận sông Indus.[25]

Trong khi Hecatompylos đã được chọn như là kinh đô đầu tiên của Parthia, Mithridates đã quyết định thiết lập nơi ở mới của hoàng gia tại Seleucia, Ecbatana, Ctesiphon và thành phố mới được thành lập của mình, Mithradatkert (Nisa, Turkmenistan), nơi mà các lăng mộ của các vị vua Arsaces được xây dựng và duy trì.[26] Ecbatana trở thành nơi cư trú vào mùa hè chính cho hoàng gia Arsaces.[27] Ctesiphon đã không trở thành thủ đô chính thức cho đến triều đại của Gotarzes I của Parthia (rc 90-80 TCN).[28] Nó trở thành nơi diễn ra lễ đăng quang của hoàng gia và thành phố đại diện cho triều đại Arsaces, theo Brosius.[29]

Vương quốc Seleukos không thể phản kháng ngay lập tức vì tướng Diodotus Tryphon dẫn đầu một cuộc nổi loạn tại kinh đô Antioch vào năm 142 trước Công nguyên.[30] Tuy nhiên, tới năm 140 TCN, Demetrius II Nicator đã có thể tiến hành một cuộc kháng chiến chống lại người Parthia ở Lưỡng Hà. Mặc dù đạt được những thành công ban đầu, vương quốc Seleukos đã bị đánh bại và Demetrios bị người Parthia bắt làm tù binh và bị đưa đến Hyrcania. Ổ đó Mithridates đã đối sử tử tế với tù nhân của mình; Demetrios thậm chí kết hôn với con gái của ông Rhodogune của Parthia.[31]

Two sides of a coin. The side on the left showing the head of a bearded man, while the right a standing individual.
Drachma của Mithridates I của Parthia, cho thấy ông có râu và đội vương miện hoàng gia trên đầu mình

Antiochus VII Sidetes (r. 138-129 BC), em trai của Demetrios, lên ngôi vua Seleukos và kết hôn với Cleopatra Thea. Sau khi đánh bại Diodotus Tryphon, Antiochos khởi xướng một chiến dịch vào năm 130 trước Công nguyên để chiếm lại Lưỡng Hà, bây giờ dưới sự cai trị của Phraates II của Parthia (rc 138-128 TCN). tướng Indates của Parthia đã bị đánh bại dọc theo sông Đại Zab, theo sau là một cuộc nổi dậy địa phương nơi mà tổng đốc người Parthia của Babylon đã bị giết chết. Antiochos chinh phục Babylon và chiếm Susa, nơi ông đúc những đồng tiền kim loại của mình.[32] Sau khi quân đội của ông tiến vào vào Media, người Parthia yêu cầu hòa bình, mà Antiochos từ chối chấp nhận trừ khi triều đại Arsaces từ bỏ tất cả các vùng đất của mình trừ Parthia, trả một khoản cống nạp nặng nề, và thả ngay Demetrios bị giam cầm. Nhà Arsaces thả tự do cho Demetrios và đưa ông ta đến Syria, nhưng từ chối các yêu cầu khác.[33] Mùa xuân năm 129 TCN, người Medes tiến hành một cuộc nổi dậy công khai chống lại Antiochos, vì quân đội của ông đã lấy đi hết các nguồn lương thực của người dân địa phương trong mùa đông. Trong khi cố gắng dập tắt các cuộc nổi dậy, đội quân chủ lực của người Parthia đã tiến vào khu vực và giết chết Antiochos trong trận chiến. Cơ thể của ông đã được đưa trở lại Syria trong một quan tài bạc; con trai Seleukos của ông đã trở thành một hoàng tử Parthia và một con gái bị đưa vào hậu cung của Phraates.[34]

Trong khi người Parthia lấy lại được các lãnh thổ bị mất ở phía tây, một mối đe dọa lớn khác xuất hiện ở phía đông. Năm 177-176 trước Công nguyên, người du mục Hung Nô đã đánh đuổi người du mục Nguyệt Chi khỏi quê hương của họ mà bây giờ là tỉnh Cam Túc ở tây bắc Trung Quốc[35]; người Nguyệt Chi sau đó di chuyển về phía tây vào Bactria và xua đuổi các bộ bộ lạc Saka (người Scythia). Người Saka đã bị buộc phải di chuyển xa hơn về phía tây, nơi mà họ xâm chiếm biên giới phía đông bắc của Đế chế Parthia.[36] Mithridates đã buộc phải rút trở về Hyrcania sau cuộc chinh phục Lưỡng Hà của mình[37]

Một số người Saka đã sẵn sàng tham gia vào quân đội của Phraates chống lại Antiochos. Tuy nhiên, họ đã đến quá trễ để tham gia vào cuộc chiến. Khi Phraates từ chối trả tiền lương của họ, người Saka sau đó nổi loạn, và khi mà ông ta cố gắng dập tắt cuộc nổi loạn với sự trợ giúp của các cựu binh Seleukos, nhưng họ cũng đào ngũ khỏi Phraates và gia nhập với người Saka.[38] Phraates II tiến quân đến chống lại liên quân này, nhưng ông lại tử trận sau đó.[39] Sử gia La Mã, Justin ghi lại rằng người kế nhiệm ông Artabanus I của Parthia (rc 128-124 TCN) cũng đã tham gia vào cuộc chiến tranh chống lại những người du mục ở phía đông. Ông ta tuyên bố Artabanus đã bị giết bởi người Tochigi (được xác định là người Nguyệt Chi), mặc dù Bivar tin rằng Justin coi họ như người Saka.[40] Mithridates II của Parthia (rc 124-90 TCN) sau đó đã phục hồi được các vùng đất bị mất vào tay người Saka ở Sistan.[41]

Chinese silk from Mawangdui, 2nd century BC, Han Dynasty; silk from China was perhaps the most lucrative luxury item the Parthians traded at the western end of the Silk Road.[42]

Sau khi đế chế Seleukos rút khỏi Lưỡng Hà, thống đốc Parthia của Babylon, Himerus, được lệnh của triều đình Arsaces phải chinh phục Characene, mà lúc đó được cai trị bởi Hyspaosines từ Charax Spasinu. Khi việc này không thành công, Hyspaosines xâm lược Babylon vào năm 127 trước Công nguyên và chiếm Seleucia. Tuy nhiên, năm 122 TCN, Mithridates II buộc Hyspaosines rút khỏi Babylon và biến các vị vua Characene thành chư hầu dưới quyền bá chủ của Parthia.[43] Sau khi Mithridates mở rộng sự cai trị của Parthia xa hơn nữa về phía tây, chiếm Dura-Europos năm 113 trước Công nguyên. Ông lại bị lôi kéo vào cuộc xung đột với Vương quốc Armenia.[44] Quân đội của ông đánh bại và lật đổ Artavasdes I của Armenia trong năm 97 trước Công nguyên, bắt làm con tin con trai Tigranes của ông ta, người sau này sẽ trở thành Tigranes II "Đại đế" của Armenia (95-55 trước Công nguyên).[45]

Vương quốc Ấn-Parthia, nằm ở Afghanistan, Pakistan, và miền Bắc Ấn Độ, đã xây dựng một liên minh với đế chế Parthia trong thế kỷ 1 trước Công nguyên.[46] Bivar tuyên bố rằng hai quốc gia từng được coi là có địa vị chính trị ngang nhau.[47] Sau khi nhà triết học Hy Lạp Apollonius của Tyana viếng thăm triều đình dưới triều đại Vardanes I của Parthia (rc 40-47 SCN) trong năm 42 SCN. Vardanes cung cấp cho ông ta sự bảo vệ của một đoàn caravan khi ông du hành đến Ấn-Parthia. Khi Apollonius tới Taxila, kinh đô Ấn-Parthia, người chỉ huy đoàn caravan đọc thánh chỉ của Vardanes, có lẽ bằng văn bản trong tiếng Parthia, cho một quan chức Ấn Độ phải đối xử với Apollonius bằng sự mến khách nhất.[46]

Sau những chuyến thăm viếng ngoại giao của Trương Khiên tới Trung Á dưới triều Hán Vũ Đế của nhà Tây Hán (trị vì: 141 - 87 TCN), Đế chế Tây Hán của Trung Quốc đã gửi một phái đoàn đến triều đình của Mithridates II năm 121 trước Công nguyên. Phái đoàn sứ thần Tây Hán đã mở quan hệ thương mại chính thức với Parthia thông qua con đường tơ lụa nhưng đã không đạt được một liên minh quân sự như mong muốn chống lại liên minh Hung Nô. Đế chế Parthia làm giàu bằng cách đánh thuế thương mại những đoàn tơ lụa Á Âu, loại hàng hóa xa hoa có giá cao nhất được người La Mã mua[48] Ngọc trai có giá trị cao được nhập từ Trung Quốc, trong khi Trung Quốc mua các gia vị của Parthia, nước hoa, và trái cây [49] động vật ngoại quốc cũng được đưa tới như là quà tặng từ nhà Arsaces tới triều đình nhà Hán; trong năm 87 SCN Pacorus II của Parthia gửi tặng những con sư tử và linh dương Ba Tư cho vua Chương Đế nhà Đông Hán (trị vì 75-88) [50] Bên cạnh lụa tơ tằm, hàng hoá Parthia được mua bởi các thương gia La Mã bao gồm sắt từ Ấn Độ, gia vị, và đồ da tốt.[51] Những đoàn Caravan du hành thông qua đế chế Parthia mang thuỷ tinh Tây Á và đôi khi là hàng cao cấp của La Mã tới Trung Quốc.[52]

La Mã và Armenia[sửa | sửa mã nguồn]

Drachma của Mithridates II của Parthia (r. c. 124–90 TCN)

Người Nguyệt Chi thuộc đế quốc Quý Sương ở miền bắc Ấn Độ đã đảm bảo an ninh biên giới phía đông Parthia.[53] Như vậy, Từ vào giữa thế kỷ 1 TCN trở đi, triều đình Arsaces tập trung vào việc đảm bảo biên giới phía tây, chủ yếu là chống lại La Mã[53]. Một năm sau khi Mithridates II chinh phục Armenia, Lucius Cornelius Sulla, tổng đốc tỉnh Cilicia của La Mã, gặp mặt với Orobazus, sứ thần của Parthia ở sông Euphrates. Cả hai đồng ý rằng dòng sông sẽ được coi như là biên giới giữa Parthia và La Mã, mặc dù Rose Mary Sheldon cho rằng Sulla chỉ có thẩm quyền truyền đạt lại những điều khoản này trở lại Roma.[54]

Bất chấp thỏa thuận này, trong năm 93 hoặc 92 TCN Parthia đã tham gia vào một cuộc chiến tranh ở Syria chống lại lãnh đạo bộ tộc Laodice và đồng minh Seleukos của bà là Antiochus X Eusebes (r. 95-92 TCN?),[55] bị giết chết sau này.[55] Khi một trong những quốc vương Seleukos cuối cùng, Demetrius III Eucaerus, cố gắng bao vây Beroea (hiện nay là Aleppo), Parthia gửi quân trợ giúp cho các cư dân và Demetrios đã bị đánh bại.[55]

Drachma của vua Orodes I (cai trị. 90–80 TCN)

Sau sự cai trị của Mithridates II, Gotarzes I cai trị Babylon, trong khi Orodes I (cai trị 90-80 TCN) cai trị Parthia một cách riêng biệt.[56] Hệ thống này làm suy yếu chế độ quân chủ Parthia[56], cho phép Tigranes II của Armenia xáp nhập vùng đất của Parthia ở phía tây vùng Lưỡng Hà. Vùng đất này sẽ không được khôi phục bởi người Parthia cho đến triều đại của Sanatruces của Parthia (rc 78-71 TCN)[57]. Sau sự bùng nổ của chiến tranh Mithridatic lần thứ ba, Mithridates VI của Pontus (r. 119-63 TCN), một đồng minh của Tigranes II của Armenia, yêu cầu trợ giúp từ Parthia chống lại La Mã, nhưng Sanatruces từ chối giúp đỡ.[58] Khi chỉ huy La Mã Lucullus hành quân nhằm chiếm thủ đô Tigranocerta của Armenia trong năm 69 TCN, Mithridates VI và Tigranes II yêu cầu sự trợ giúp của Phraates III của Parthia. (rc 71-58). Phraates đã không gửi viện trợ, hoặc, và sau sự sụp đổ của Tigranocerta ông tái khẳng định với Lucullus rằng Euphrates như là ranh giới giữa Parthia và La Mã.[59]

Tigranes Trẻ, con trai của Tigranes II của Armenia, sau khi không thể cướp ngôi vua Armenia từ cha mình. Ông trốn sang cung đình của Phraates III và thuyết phục ông ta đem tiến quân đánh kinh đô mới của Armenia tại Artaxarta. Khi cuộc bao vây này không thành công, Tigranes Trẻ một lần nữa bỏ trốn, lần này là tới chỗ Pompey vị tướng La Mã. Ông hứa Pompeius rằng ông sẽ hành động như một người dẫn đường thông qua Armenia, nhưng, khi Tigranes II quy phục La Mã như một vị vua chư hầu, Tigranes trẻ được đưa đến Roma làm con tin [60] Phraates yêu cầu Pompey giao lại Tigranes Trẻ cho ông, nhưng Pompeius từ chối. Để trả đũa, Phraates đã phát động một cuộc xâm lược vào Corduene (đông nam Thổ Nhĩ Kỳ), nơi, theo hai mâu thuẫn giữa những ghi chép của La Mã, chấp chính quan La Mã Lucius Afranius buộc người Parthia rút lui bằng một trong hai hai cách quân sự hay ngoại giao.[61]

Phraates III đã bị ám sát bởi con trai của ông Orodes II của ParthiaMithridates III của Parthia, nhưng sau đó Orodes quay lại đánh Mithridates, buộc ông phải chạy trốn khỏi Media để tới Syria của La Mã[62]. Aulus Gabinius, tổng đốc tỉnh Syria của La Mã,. tiến quân hỗ trợ Mithridates tới tận Euphrates, nhưng đã phải quay lại để hỗ trợ Ptolemy XII Auletes (r. 80-58, 55-51 trước Công nguyên). chống lại cuộc nổi loạn là ở Ai Cập [63] Mặc dù mất sự ủng hộ La Mã cho mình, Mithridates đã thành công trong việc chinh phục Babylon, và đúc tiền xu ở Seleucia cho đến năm 54 trước Công nguyên. Trong năm đó, tướng của Orodes, chỉ được biết đến như là Surena, đã chiếm lại Seleucia, và Mithridates đã bị hành quyết.

Marcus Licinius Crassus, một trong Tam hùng, bây giờ là tổng đốc tỉnh của Syria, đã phát động một cuộc xâm lược vào Parthia trong năm 53 TCN nhằm hỗ trợ muộn màng cho Mithridates.[64] Khi quân đội của ông hành quân đến Carrhae (ngày nay là Harran, đông nam Thổ Nhĩ Kỳ), Orodes II xâm lược Armenia, chia cắt sự hỗ trợ từ đồng minh của La Mã Artavasdes II của Armenia (r. 53-34 trước Công nguyên). Orodes thuyết phục Artavasdes đi đến một liên minh hôn nhân giữa Thái tử Pacorus I của Parthia (m. năm 38 trước Công nguyên) và em gái của Artavasdes.[65]

Surena, với một đội quân hoàn toàn là kị binh, tiến quân đến để chống trả Crassus [66] Surena có 1.000 cataphract, trang bị thương, và 9.000 kị cung ít hơn với tỉ lệ khoảng 4-1 so với của quân đội Crassus, bao gồm bảy quân đoàn La Mã và quân phụ trợ chiến bao gồm kị binh người Gaul và bộ binh nhẹ.[67] Họ sử dụng chiến thuật bắn của người Parthia, nơi mà các lính kỵ sẽ giả vờ rút lui, chỉ để cthay phiên và bắn đối thủ của họ. Chiến thuật này, kết hợp với việc sử dụng cung tên nặng trên đồng bằng phẳng đã đánh tan tác bộ binh của Crassus[68] Với khoảng 20.000 người La Mã chết. Khoảng 10.000 bị bắt, và khoảng 10.000 người khác trốn thoát về phía tây, Crassus bỏ chạy vào vùng nông thôn của Armenia[69]. Ở vị trí đứng đầu quân đội của mình, Surena tiếp cận Crassus, cho phép một cuộc thương lượng, mà Crassus chấp nhận. Tuy nhiên, ông đã thiệt mạng khi một trong những sĩ quan cấp dưới của mình, nghi ngờ đây là một cái bẫy, đã cố gắng ngăn chặn ông ta khi đi vào trại của Surena.[70]

Đồng aurei của La Mã in hình chân dung của Marcus Antonius (trái) và Octavian (phải), được phát hành vào năm 41  TCN để kị niệm việc thành lập chế độ Tam Hùng lần thứ hai của bộ ba Octavian, Antonius và Marcus Lepidus trong năm 43 TCN

Thất bại của Crassus tại Carrhae là một trong những thất bại quân sự tồi tệ nhất trong lịch sử quân sự của La Mã.[55] Chiến thắng của Parthia củng cố danh tiếng của nó như là một đối trọng hùng mạnh cân bằng quyền lực với La Mã [71]

Được khuyến khích bởi chiến thắng trước Crassus, Parthia đã cố gắng để nắm chiém các vùng lãnh thổ La Mã nắm giữ ở Tây Á.[72] Thái tử Pacorus I và vị tướng của ông Osaces đột kích vào Syria xa tới tận Antioch trong năm 51 TCN, nhưng bị đẩy lùi bởi Gaius Cassius Longinus, ông đã phục kích và giết chết Osaces[73]. Nhà Arsaces đã ở cùng phe với Pompey trong cuộc nội chiến của ông ta chống lại Julius Caesar và thậm chí còn gửi quân để hỗ trợ các lực lượng chống hoàng đế Caesar trong trận Philippi năm 42 trước Công nguyên[74]. Quintus Labienus, một vị tướng trung thành của Cassius và Brutus, đã ở cùng phe với Parthia chống lại chế độ tam hùng lần thứ hai trong năm 40 trước Công nguyên, năm sau, ông xâm lược Syria cùng với Pacorus I.[75] Tam hùng Marcus Antonius đã không thể chỉ huy người La Mã phòng thủ chống lại Parthia do ông đã khởi hành đến Ý, nơi ông tập hợp các lực lượng của mình để đối đầu với đối thủ của ông Octavian và các cuộc đàm phán cuối cùng ông tiến hành với ông ta tại Brundisium [76] Sau khi Syria đã bị chiếm bởi quân đội Pacorus, Labienus tách ra từ lực lượng chính của Parthia xâm lược Anatolia trong khi Pacorus và tướng Barzapharnes của mình xâm chiếm vùng Cận đông của La Mã.[75] Họ chinh phục tất cả các khu định cư dọc theo bờ biển Địa Trung Hải xa xuống phía nam tới tận Ptolemais (hiện nay là Acre, Israel), với ngoại lệ duy nhất là Týros[77]Judea, lực lượng thân La Mã của giáo sĩ tối cao Hyrcanus II, Phasael,và Herod đã bị đánh bại bởi người Parthia và đồng minh Do Thái của họ Antigonos II Mattathias (r. 40-37 trước Công nguyên), sau này là vua của xứ Judea trong khi Herod chạy trốn tới pháo đài của ông tại Masada [75]

Bất chấp có được những thành công này, người Parthia đã nhanh chóng bị đuổi ra khỏi Cận đông bởi một cuộc phản công của La Mã. Publius Ventidius Bassus, một sĩ quan dưới quyền Marcus Antonius đánh bại và sau đó hành quyết Labienus tại trận cánh cổng Cilicia (trong tỉnh Mersin ngày nay, Thổ Nhĩ Kỳ) trong năm 39 trước Công nguyên [78] Một thời gian ngắn sau đó, một lực lượng Parthia ở Syria dưới sự chỉ huy của tướng Pharnapates bị đánh bại bởi Ventidius ở trận đèo Amanus [78] Kết quả là, Pacorus I tạm thời rút khỏi Syria. Khi ông trở lại vào mùa xuân năm 38 trước Công nguyên, ông phải đối mặt với Ventidius trong trận núi Gindarus, phía đông bắc của Antioch. Pacorus đã tử trận trong trận đánh này, và quân đội của ông phải rút lui qua sông Euphrates. Cái chết của ông đã thúc đẩy một cuộc khủng hoảng liên tiếp, trong đó Orodes II đã chọn Phraates IV của Parthia (khoảng năm 38-2 TCN) là người thừa kế mới của mình.[79]

Drachma của Phraates IV của Parthia (r. c. 38–2 TCN)

Sau khi nắm lấy ngôi vua, Phraates IV loại bỏ đối thủ cạnh tranh ngai vàng bằng cách giết chết và lưu đày anh em của mình [80] Một trong số họ, Monaeses bỏ trốn sang chỗ Antonius và thuyết phục ông ta xâm lược Parthia.[81] Antonius đánh bại đồng minh Judea của Parthia, Antigonus năm 37 TCN, đưa Herod lên làm vua chư hầu thay thế vị trí của ông ta. Năm sau, khi Antonius hành quân đến Erzurum, Artavasdes II của Armenia một lần nữa chuyển liên minh bằng cách gửi thêm quân cho Antonius. Antonius xâm lược Media Atropatene (hiện nay là Azerbaijan),lúc đó cai trị bởi đồng minh của Parthia Artavasdes I của Media Atropatene, với ý định chiếm lấy thủ đô Praaspa, vị trí của đó ngày nay vẫn chưa biết. Tuy nhiên, Phraates IV đã phục kích hậu quân phía sau của Antonius, phá hủy một thiết bị phá cổng khổng lồ được dùng cho cuộc bao vây Praaspa, sau điều này, Artavasdes bỏ rơi lực lượng của Antonius [82] Người Parthia truy đuổi và quấy rối quân đội Antonius khi họ bỏ chạy đến Armenia. Cuối cùng, lực lượng bị suy giảm đáng kể về đến Syria.[83] Sau này, Antonius lừa dối Artavasdes II vào một cái bẫy với những lời hứa của một liên minh hôn nhân. Ông đã bị cầm tù trong năm 34 trước Công nguyên, được gửi trở lại La Mã, và bị hành quyết [84]. Antonius đã cố gắng thiết lập một liên minh với Artavasdes I của Media Atropatene, người có quan hệ với Phraates IV gần đây đã trở nên căng thẳng. Việc này đã bị bỏ rơi khi Antonius và lực lượng của ông đã rút khỏi Armenia trong năm 33 trước Công nguyên; họ thoát khỏi một cuộc xâm lược của Parthia trong khi đối thủ của Antonius, Octavian tấn công lực lượng của ông ở phía tây [84] Sau khi Antonius đi khỏi, đồng minh Parthia Artaxias II lại chiếm lấy ngai vàng của Armenia.

Hòa bình với La Mã, âm mưu triều đình và sự giao thiệp với những vị tướng Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại của Antonius trong trận Actium vào năm 31 trước Công nguyên, Octavian củng cố quyền lực chính trị của ông và trong năm 27 trước Công nguyên ông được ban tên là Augustus bởi viện nguyên lão La Mã, trở thành hoàng đế La Mã đầu tiên. Khoảng thời gian này, Tiridates II của Parthia đã lật đổ Phraates IV một thời gian ngắn, nhưng Phraates IV đã có thể nhanh chóng thiết lập lại sự cai trị của ông với sự trợ giúp của những người du mục Scythia[85] Tiridates chạy trốn tới chỗ những người La Mã, đem theo một trong những con trai Phraates đi cùng với ông ta. Trong các cuộc đàm phán được tiến hành năm 20 trước Công nguyên, Phraates sắp xếp cho việc giải thoát con trai bị bắt cóc của mình. Đổi lại, người La Mã đã nhận được các biểu tượng của quân đoàn lê dương bị cướp mất tại Carrhae trong năm 53 trước Công nguyên, cũng như bất kỳ tù nhân chiến tranh nào còn sót lại [86] Parthia xem cuộc trao đổi này như là một giá nhỏ để trả tiền chuộc lại hoàng tử [87] Augustus ca ngợi sự trở lại của các biểu tượng như là một thắng lợi chính trị trước Parthia;

Một cái nhìn cận cảnh trên ngực trên bức tượng Augustus tại Prima Porta, cho thấy một người đàn ông Parthian dâng lên Augustus "con đại bàng" vốn bị Marcus Licinius Crassus đánh mất tại Carrhae

Cùng với hoàng tử, Augustus cũng đã tặng Phraates IV một nữ nô lệ người Ý, người sau này trở thành nữ hoàng Musa của Parthia. Để đảm bảo rằng Phraataces con bà sẽ thừa kế ngai vàng mà không có sự cố, Musa thuyết phục Phraates IV giao những người con trai khác của ông cho Augustus làm con tin. Một lần nữa, Augustus sử dụng điều này để tuyên truyền mô tả sự quy phục của Parthia trước La Mã, liệt kê nó như là một thành tựu tuyệt vời trong Res Gestae DiVi Augusti [88] Khi Phraataces lên ngôi là Phraates V Parthia (khoảng 2 TCN - 4 SCN), Musa kết hôn với con trai riêng của mình và cai trị cùng với ông ta. Quý tộc Parthia, không chấp nhận mối quan hệ loạn luân và khái niệm của một vị vua không có dòng máu Arsaces, họ đã lật đổ ông ta [89] Người kế vị của Phraates, Orodes III của Parthia chỉ ngồi trên trên ngai vàng có hai năm, và được kế vị bởi Vonones I của Parthia, người đã chấp nhận nhiều phong cách La Mã trong thời gian ở La Mã. Quý tộc Parthia, tức giận bởi cảm tình của Vonones cho người La Mã, quay ra ủng hộ một người đòi ngai báu khác, Artabanus II của Parthia (khoảng 10-38 SCN), là người cuối cùng đã đánh bại Vonones và đuổi ông ông sống lưu vong ở Syria La Mã [90].

Trong suốt triều đại của Artabanus II, hai dân thường Do Thái và là anh em, Anilai và Asinai từ Nehardea (gần Fallujah hiện nay, Iraq),[91] đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại thống đốc Parthia của Babylon. Sau khi đánh bại ông này, cả hai đã được trao quyền cai trị khu vực bởi Artabanus II, vì ông sợ các cuộc nổi loạn hơn nữa ở nơi khác[92]. Người Vợ Parthia của Anilai đầu độc Asinai vì sợ ông sẽ tấn công Anilai về cuộc hôn nhân của ông với một người ngoại giáo. Sau này, Anilai bị lôi kéo vào một cuộc xung đột vũ trang với một con rể của Artabanus, người cuối cùng đánh bại ông ta.[93] Với chế độ của người Do Thái bị loại bỏ, cư dân bản địa Babylon đã bắt đầu để quấy rối cộng đồng Do Thái địa phương, buộc họ di cư sang Seleucia. Khi thành phố đó đã nổi dậy chống lại sự cai trị của Parthia trong năm 35-36 SCN, người Do Thái đã bị trục xuất lần nữa, lần này bởi người Hy Lạp địa phương và người Aramaea. Người Do Thái lưu vong chạy trốn đến Ctesiphon, Nehardea, và Nisibis [94].

A denarius struck in 19 BC during the reign of Augustus, with the goddess Feronia depicted on the obverse, and on the reverse a Parthian man kneeling in submission while offering the Roman military standards taken at the Battle of Carrhae[95]

Mặc dù đang hòa bình với Parthia, La Mã vẫn can thiệp vào các vấn đề của nó. Hoàng đế La Mã Tiberius (14-37SCN) đã tham gia vào một âm mưu của Pharasmanes I của Iberia để đưa em trai của ông Mithridates lên ngai vàng của Armenia bằng việc ám sát ông vua đồng minh với Parthia của Armenia [96] Artabanus II đã cố gắng và thất bại trong việc khôi phục lại quyền kiểm soát Armenia của Parthia, khiến một cuộc nổi loạn của quý tộc nổ ra buộc ông phải chạy trốn tới Scythia. Người La Mã đã thả một hoàng tử con tin, Tiridates III của Parthia, để cai trị quốc gia này như là một đồng minh của La Mã. Một thời gian ngắn trước khi qua đời, Artabanus cố gắng để lật đổ Tiridates khỏi ngai vàng bằng cách sử dụng quân đội từ Hyrcania [97] Sau khi Artabanus qua đời trong năm 38 SCN, một cuộc nội chiến lâu dài xảy ra sau đó giữa người thừa kế hợp pháp Vardanes I của Parthia và em trai của mình Gotarzes II của Parthia.[98] Sau khi Vardanes bị ám sát trong một cuộc đi săn, giới quý tộc Parthia kêu gọi Hoàng đế La Mã Claudius(r. 41-54 SCN) trong năm 49 SCN phóng thích hoàng tử con tin Meherdates nhằm thách thức Gotarzes. Điều này đem đến phản ứng ngược lại khi Meherdates bị phản bội bởi tổng đốc của EdessaIzates bar Monobaz của Adiabene, ông bị bắt và mang nộp cho Gotarzes, nơi ông được phép giữ mạng sống sau khi đôi tai của mình bị cắt, một hành động loại ông khỏi việc kế vị ngai vàng [99]

Vào năm 97, quan cai trị Tây VựcBan Siêu phái sứ giả Cam Anh thực hiện chuyến viếng thăm ngoại giao đến Đế quốc La Mã. Cam Anh đến bái kiến vua Parthia là Pacorus II tại Hecatompylos, sau đó rời khỏi cung đình Parthia và đến thành La Mã.[100] Ông ta đi xa về phía tây đến tận Vịnh Ba Tư, nơi đây quan lại Parthia thuyết phục ông ta rằng một chuyến du ngoạn đầy hiểm họa trên biển quanh bán đảo Ả Rập là con đường duy nhất đến La Mã.[101] Cam Anh không bằng lòng và trở về Đại Hán, tại đây ông dâng lên vua Hán Hòa Đế (trị vì. 88–105) một bản tường thuật chi tiết về Đế quốc La Mã dựa trên những gì người Parthia kể cho ông nghe.[102] William Watson suy xét rằng người Parthia hẳn đã kiếm được lợi lộc thất bại trong nỗ lực thiết lập quan hệ bang giao của Đại Hán với La Mã, đặc biệt là sau những chiến thắng vang dội của Ban Siêu trước quân Hung Nô tại miền Đông Trung Á.[100] Tuy nhiên, tư liệu của người Hán cho rằng một phái đoàn sứ thần La Mã, có lẽ chỉ gồm thâu một nhóm thương nhân La Mã, đến thăm kinh đô Lạc Dương vào năm 166, đời các vua Marcus Aurelius (trị vì. 161 – 180) và Hán Hoàn Đế (trị vì. 146 – 168).[103]

Tiếp tục cuộc chiến với La Mã và sự suy yếu của Parthia[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các cuộc tiến quân trong hai năm đầu của cuộc Chiến tranh La Mã–Parthia (Năm 58–63) trên khắp Vương quốc Armenia, trình bày chi tiết về cuộc tấn công của người La Mã vào Armenia và chiếm toàn bộ quốc gia này dưới sự chỉ huy của Gnaeus Domitius Corbulo

Sau khi vua Iberia Pharasmanes I phái Rhadamistus con trai của ông (khoảng năm 51-55 SCN) xâm lược Armenia để lật đổ vị vua chư hầu La Mã, vua Mithridates, Vologases I của Parthia (khoảng 51-77 SCN) đã lên kế hoạch xâm lược và đưa em trai của mình, sau đó là Tiridates I của Armenia, lên ngai vàng [104]. Rhadamistus cuối cùng đã bị đánh đuổi khỏi ngai vàng, và sau đó bắt đầu triều đại của Tiridates, người Parthia sẽ giữ lại kiểm soát khá vững chắc trên toàn Armenia cho dù bị gián đoạn một thời gian ngắn thông qua triều đại Arsaces của Armenia.[105] Ngay cả sau sự sụp đổ của Đế chế Parthia, dòng dõi Arsaces vẫn tồn tại thông qua các vị vua Armenia.[106]

Khi Vardanes II của Parthia nổi dậy chống lại cha mình Vologases I trong năm 55 SCN, Vologases đã phải rút lực lượng của mình từ Armenia về. Người La Mã đã nhanh chóng cố gắng lấp đầy khoảng trống chính trị để lại [107] Trong cuộc chiến tranh La Mã-Parthia năm 58-63 SCN, tướng Gnaeus Domitius Corbulo đã đạt được một số thành công quân sự chống lại Parthia khi đưa Tigranes VI của Armenia lên làm vua chư hầu của La Mã.[108] Tuy nhiên, người kế tục của Corbulo, Lucius Caesennius Paetus bị đánh cho đại bại bởi quân Parthia và chạy trốn khỏi Armenia.[109] Sau một hiệp ước hòa bình, Tiridates I du hành tới Naples và Roma trong năm 63 SCN. Tại cả hai nơi hoàng đế La Mã Nero (khoảng 54-68 SCN) cộng nhận ngôi vua Armenia của ông bằng cách đặt vương miện hoàng gia lên trên đầu ông.[110]

Một thời gian dài hòa bình giữa Parthia và La Mã diễn ra sau đó, chỉ duy nhất có cuộc xâm lược của dân Alan vào vùng lãnh thổ phía đông Parthia khoảng năm 72 SCN được đề cập bởi các nhà sử học La Mã[111] Trong khi đó, AugustusNero đã lựa chọn một chính sách quân sự thận trọng khi đối phó với Parthia. Sau đó các hoàng đế La Mã đã xâm lược và cố gắng để chinh phục miền đông vùng lưỡi liềm phì nhiêu, trái tim của Đế quốc Parthia dọc theo sông Tigris và Euphrates. Các cuộc xâm lược với cường độ cao có thể được giải thích một phần từ cải cách quân đội của Roma[112]. Để đối phó với sức mạnh của Parthia sử dụng cung tên và kị binh, người La Mã đầu tiên sử dụng quân đồng minh nước ngoài, đặc biệt là người Nabataea, nhưng sau đó họ thành lập một lực lượng auxilia thường xuyên để bổ sung cho lực lượng bộ binh lê dương nặng của họ[113] Người La Mã cuối cùng duy trì trung đoàn kị cung (sagittarii) và thậm chí lực lượng kị binh cataphract ở các tỉnh phía đông của họ.[114] Tuy nhiên, người La Mã đã không có chiến lược lớn rõ rệt trong việc đối phó với Parthia và đã chiếm được nhưng vùng lãnh thổ nhỏ bé từ những cuộc xâm lược [115]. Động cơ chính cho chiến tranh là sự thăng tiến của vinh quang cá nhân và vị trí chính trị của hoàng đế, cũng như bảo vệ danh dự La Mã chống lại sự coi thường vì sự can thiệp của Parthia trong công việc của các quốc gia chư hầu của La Mã.[116]

Một người lính Parthia (phải) đội một chiếc mũ Phrygia, được miêu tả là một tù binh chiến tranh đang bị trói bởi một người La Mã (trái); Khải hoàn môn Septimius Severus, Roma, 203 SCN

Tình trạng thù địch giữa Roma và Parthia được tiếp tục khi Osroes I của Parthia (khoảng năm 109-128 SCN) đã lật đổ vua Tiridates của Armenia và thay thế ông ta bởi Axidares, con trai của Pacorus II, mà không có sự đồng ý của Roma.[117] Hoàng đế La Mã Trajan (r. 98-117 SCN) đã bắt được ứng cử viên Parthia tiếp theo cho ngai vàng, Parthamasiris, và giết ông ta trong năm 114 SCN, thay vào đó biến Armenia thành một tỉnh La Mã[118] Quân đội của ông, chỉ huy bởi Lusius Quietus,còn chiếm Nisibis. Việc chiếm đóng nó là cần thiết để đảm bảo tất cả các tuyến đường chính qua miền phía bắc đồng bằng Lưỡng Hà [119] Năm sau, Trajan xâm chiếm Lưỡng Hà và gặp một ít kháng cự chỉ tùe Meharaspes của Adiabene, kể từ khi Osroes đang tham gia vào một cuộc nội chiến ở phía đông với Vologases III của Parthia [120]. Trajan đã trải qua mùa đông năm 115-116 tại Antioch, nhưng lại tiếp tục chiến dịch của ông vào mùa xuân. Tiến quân tới sông Euphrates, ông chiếm Dura-Europos, thủ đô CtesiphonSeleucia, và thậm chí chinh phục Characene, nơi ông xem những con tàu khởi hành đến Ấn Độ từ Vịnh Ba Tư.[121]

Trong những tháng cuối năm 116 SCN, Trajan chiếm được thành phố Susa của Ba Tư. Khi Sanatruces II của Parthia tập hợp lực lượng ở miền đông Parthia để thách thức những người La Mã, người anh em họ của ông Parthamaspates của Parthia phản bội và giết ông ta: Trajan lập ông ta làm vua mới của Parthia [122] Đế chế La Mã sẽ không bao giờ tiến xa về phía đông như vậy nữa.

Trên đường trờ về của Trajan, các cư dân Babylon nổi dậy chống lại quân đồn trú La Mã [123] Trajan đã buộc phải rút lui khỏi Lưỡng Hà trong năm 117 SCN, giám sát một cuộc bao vây Hatra thất bại trên đường rút quân của mình.[124] Sự rút lui của ông-trong ý định- chỉ là tạm thời, bởi vì ông muốn quay trở lại tấn công Parthia vào năm 118 SCN và "làm cho cuộc chinh phục Parthia trở thành sự thực," [125] nhưng Trajan mất đột ngột trong tháng tám năm 117SCN.

Trong chiến dịch của ông, Trajan được nhận danh hiệu Parthicus từ viện nguyên lão và tiền xu được đúc công bố cuộc chinh phục Parthia.[126] Tuy nhiên, chỉ có các nhà sử học thế kỷ 4 SCN Eutropius và Festus khẳng định rằng ông đã cố gắng để thiết lập một tỉnh La Mã ở miền nam Lưỡng Hà[127]

Vị vua kế vị Trajan, Hadrianus (cai trị 117-138 SCN) khẳng định lại biên giới La Mã-Parthia ở Euphrates, quyết định không xâm lược Mesopotamia do nguồn lực quân sự hạn chế của La Mã.[128] Parthamaspates chạy trốn sau khi Parthia nổi dậy chống lại ông, nhưng người La Mã đã đưa ông lên làm vua của Osroene. Osroes I chết trong cuộc xung đột của ông ta với Vologases III, sau này đã được kế vị bởi Vologases IV của Parthia (rc 147-191 SCN) đã mở ra một thời kỳ hòa bình và ổn định [129] Tuy nhiên, cuộc chiến tranh La Mã-Parthia năm 161-166 SCN bắt đầu khi Vologases xâm lược Armenia và Syria, chiếm lại Edessa. Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius (r. 161-180 SCN) đã cùng đồng hoàng đế Lucius Verus(r. 161-169 SCN) bảo vệ Syria trong khi Marcus Statius Priscus xâm lược Armenia trong năm 163 SCN, theo sau là cuộc xâm lược Mesopotamia của Avidius Cassius năm 164 SCN[130]

Roma và chư hầu Armenia vào khoảng năm 300 SCN

.

Người La Mã chiếm và đốt cháy Seleucia cùng với Ctesiphon, nhưng họ buộc phải rút lui khi những người lính La Mã mắc một căn bệnh chết người (có thể là bệnh đậu mùa) mà sớm tàn phá thế giới La Mã [131] Mặc dù họ rút lui, từ thời điểm này về sau, thành phố Dura-Europos vẫn còn trong tay La Mã.[132]

Khi Hoàng đế La Mã Septimius Severus (r. 193-211 SCN) xâm chiếm Lưỡng Hà năm 197 SCN trong thời cai trị của Vologases V của Parthia (rc 191-208 SCN), người La Mã lại một lần nữa tiến tới Euphrates và chiếm Seleucia cùng Ctesiphon. Sau khi nhận danh hiệu Parthicus Maximus, ông rút lui vào cuối năm 198, và giống như Trajan một lần ông cũng thất bại để chiếm Hatra trong một cuộc vây hãm.[132]

Khoảng năm 212 SCN, ngay sau khi Vologases VI của Parthia (khoảng 208-222 SCN) lên ngôi, anh trai Artabanus IV của Parthia (m. năm 224 SCN) đã nổi dậy chống lại ông và đã đạt được quyền kiểm soát một phần lớn của đế quốc.[133] Trong khi đó, hoàng đế La Mã Caracalla (r. 211-217 AD) lật đổ các vị vua của Osroene và Armenia để biến chúng thành tỉnh La Mã một lần nữa. Ông tiến vào Lưỡng Hà với lý do kết hôn với một trong những con gái của Artabanus- nhưng bởi vì hôn nhân không được cho phép -tiến hành cuộc chiến tranh với Parthia và chinh phục Arbil ở phía đông của sông Tigris.

Phù điêu của Nhà Sassanid tại Naqsh-e Rustam showing the investiture of Ardashir I

Caracalla bị ám sát năm tiếp theo trên đường tới Carrhae bởi binh sĩ của mình.[133] Sau thất bại này, Parthia tiến hành hòa giải với Macrinus (r. 217-218) nơi người La Mã phải cống nạp cho Parthia hơn 200 triệu denarii với quà tặng bổ sung[134].

Tuy nhiên, đế chế Parthia, bị suy yếu do xung đột nội bộ và cuộc chiến với la Mã, đã sớm bị thay thế bởi đế chế Sassanid. Thực tế trong thời gian ngắn sau đó, vua Ardahir I, một vị vua địa phương gốc Iran của Persis (tỉnh Fars ngày nay, Iran) từ Estakhr bắt đầu chinh phục các vùng lãnh thổ xung quanh, một sự thách thức với luật lệ của nhà Arsaces [135] Ông đã đối mặt Artabanus IV trong trận chiến, ngày 28 tháng 4 năm 224 SCN có lẽ tại một địa điểm gần Isfahan, đánh bại ông ta và thành lập đế chế Sassanid [135] tuy nhiên, có bằng chứng, cho thấy Volageses VI tiếp tục ban hành tiền xu tại Seleucia tới năm 228 SCN.[136]

Nhà Sassanid sẽ không chỉ kế thừa di sản Parthia là kẻ thù Ba Tư của La Mã, họ cũng sẽ cố gắng để khôi phục lại ranh giới của Đế chế Achaemenes, một thời gian ngắn chinh phục Cận đông, Anatolia, và Ai Cập từ tay đế chế đông La Mã dưới thời trị vì của Khosrau II (r.590-628 SCn) [137] Tuy nhiên, họ sẽ mất các vùng lãnh thổ này vào tay Heraclius, hoàng đế La Mã cuối cùng trước khi các cuộc chinh phục của người Ả Rập bắt đầu.

Những nguồn bản địa và các nguồn khác[sửa | sửa mã nguồn]

Parthian gold jewelry items found at a burial site in Nineveh (near modern Mosul, Iraq)

Những văn bản địa phương và ngoài nước, cũng như các văn bản hiện vật đã được sử dụng để tái tạo lại lịch sử Parthia[138] Mặc dù triều đình Parthia đã duy trì những văn thư, người Parthia đã không chính thức nghiên cứu lịch sử, lịch sử phổ quát đầu tiên của Iran, Khwaday-Namag, không được biên soạn cho đến triều đại của vị vua cuối cùng nhà Sassanid, vua Yazdegerd III (r. 632-651 SCN)[139] Các nguồn bản xứ về lịch sử Parthia vẫn còn khan hiếm, những gì về họ còn ít có sẵn hơn so với bất kỳ giai đoạn khác của lịch sử Iran.[140]

Sử cũ Hy Lạp - La Mã cũng có viết nhiều về lịch sử Parthia, nhưng không được coi là hoàn toàn đáng tin cậy vì chúng được viết từ quan điểm của đối thủ và kẻ thù thời chiến.[141] Những nguồn nước ngoài này thường có sự quan tâm lớn về quân sự và chính trị, và thường bỏ qua khía cạnh xã hội và văn hóa của lịch sử Parthia[142] Người La Mã thường khắc họa người Parthia là những chiến binh bạo ngược những cũng tinh thống văn hóa; họ ghi nhận những công thức ẩm thực của Parthia trong cuốn sách hướng dẫn nấu nướng Apicius, chứng tỏ họ luôn mến mộ cách làm bếp của người Parthia.[143] Apollodorus xứ ArtemitaArrian cũng viết sách sử nói về Parthia, nhưng giờ đây đều đã mất và chỉ được biết đến thông qua trích dẫn của các nhà sử học khác.[144] Isidore xứ Charax - một tác giả vào đời vua Augustus - viết nên một tư liệu về lãnh thổ Parthia, có lẽ sau một cuộc khảo cứu về Triều đình Parthia.[145] Ở một mức độ nhỏ hơn, con người và các sự kiện lịch sử Parthia cũng được đề cập trong các cuốn sử của Justinus, Strabo, Diodoros Sikolos, Plutarchus, Cassius Dio, Appian, Josephus, Pliny Già, and Herodian.[146]

Lịch sử Parthia cũng có thể được tái hiện nhờ vào sử cũ Trung Quốc.[147] Trái ngược với sử cũ Hy Lạp và La Mã, các cuốn sử Trung Quốc buổi đầu giữ quan điểm trung lập hơn khi miêu tả về nước Parthia,[148] mặc dù các sử thần Trung Hoa có thói quen chép lại các thư tịch cổ hơn, làm khó khăn trong việc xác lập trình tự thời gian các sự kiện lịch sử của Đế quốc Parthia.[149] Người Trung Quốc gọi Parthia là An Tức (chữ Hán: ), có lẽ theo tên Hy Lạp của thành phố Antiochia tại Margiana (chữ Hy Lạp: Αντιόχεια της Μαργιανήs) của người Parthia.[150] Tuy nhiên, đây cũng có thể là sự chuyển chữ từ tên "Arsaces" của vị vua khai quốc Parthia và cũng là tên của Vương triều này.[151] Những cuốn sử Trung Quốc chép về Parthia bao gồm Sử ký (Thái sử công thư) của Tư Mã Thiên, Hán thư của Ban Bưu, Ban CốBan Chiêu, cùng với Hậu Hán thư của Phạm Diệp.[152] Họ cung cấp thông tin về những cuộc di dân du mục trước cuộc xâm lược ban đầu của người Saka vào Parthia, cùng những thông tin có giá trị về chính trị và địa lý.[147] Thí dụ, Sử ký Tư Mã Thiên ghi nhận về những trao đổi ngoại giao, những quà tặng đẹp lạ lùng của vua Mithridates II gửi cho triều đình Tây Hán, những cách thu hoạch vụ mùa thường thấy ở Sparta, việc sản xuất rượu có sử dụng nho, những thương nhân đi hết nơi này đến nơi kia, và kích cỡ cùng với vị trí của lãnh thổ Parthia.[153] Sử ký Tư Mã Thiên cũng đề cập rằng người Parthia ghi nhận bằng việc "viết ngang trên những mảnh da," hẳn đây chính là giấy da.[154]

Triều đình và chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Trung ương và các vị vua bán tự trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền xu của Kamnaskires III, vua của Elymais (ngày nay là tỉnh Khūzestān),và vợ ông nữ hoàng Anzaze, thế kỉ 1 TCN

So với Đế chế Achaemenes trước đó, triều đinh Parthia có sự đáng chú ý là sự phân cấp [155] Một nguồn lịch sử bản địa cho thấy rằng các vùng lãnh thổ được giám sát bởi chính quyền trung ương được tổ chức tại một cách tương tự với đế chế Seleukos. Cả hai đều có hệ thống ba cấp cho các tỉnh: Parthia marzbān, xšatrap, và dizpat, tương tự như phó vương Seleukos, eparchy, và hyparchy [156] Đế chế Parthia cũng có một số vương quốc bán tự trị bên dưới, bao gồm các tiểu quốc Caucasia Iberia, Armenia, Atropatene, Gordyene, Adiabene, Edessa, Hatra, Mesene, Elymais, và Persis[157] Những vị vua này cai trị lãnh thổ của mình và đúc tiền đúc riêng của họ khác biệt với tiền đúc hoàng gia được đúc tại kho bạc hoàng đế.[158] Điều này không giống như đế chế Achaemenes trước đó, cũng đã có một số tiểu quốc, và thậm chí là Xatrap, những người bán độc lập, nhưng "công nhận uy quyền của nhà vua, cống nạp và hỗ trợ quân sự", theo Brosius [159] Tuy nhiên, các phó vương vào thời Parthia cai trị vùng lãnh thổ nhỏ hơn, và có lẽ đã có ít uy tín và ảnh hưởng hơn so với những người tiền nhiệm Achaemenes của họ.[160] Trong thời kì nhà Seleukos, xu hướng các triều đại cầm quyền địa phương với quy tắc bán tự trị, và đôi khi hoàn toàn nổi loạn, đã trở thành phổ biến, một thực tế lặp lại vào thời kì người Parthia cai trị sau này.[161]

Quý tộc[sửa | sửa mã nguồn]

A bronze statue of a Parthian nobleman possibly representing General Surena[162] from the sanctuary at Shami in Elymais (modern-day Khūzestān Province, Iran, along the Persian Gulf), now located at the National Museum of Iran.

Vua của các vị vua đứng đầu triều đình Parthia. Ông duy trì mối quan hệ đa thê, và được kế vị thường là con trai cả của mình.[163] Giống như nhà Ptolemaios của Ai Cập, cũng có các ghi chép về những vị vua Arsaces kết hôn với cháu gái của họ và có lẽ ngay cả với những chị em cùng cha, Nữ hoàng Musa kết hôn với con trai mình, mặc dù đây là một trường hợp cực đoan và bị lên án [163]. Brosius cung cấp một trích dẫn từ một lá thư viết bằng tiếng Hy Lạp của vua Artabanus II trong năm 21 SCN, gửi tới thống đốc (có đề tựa là "Archon") và công dân của thành phố Susa.

Các chức danh cha truyền con nối của địa vị quý tộc được ghi lại trong suốt triều đại của vua đầu tiên nhà Sassanid vua Ardahir I, rất có thể là sự tiếp tục các chức danh đã được sử dụng trong thời kỳ Parthia[164] Có ba tầng lớp riêng biệt trong giới quý tộc, cao nhất là những vị vua chư hầu trực tiếp nằm dưới sự cai trị bởi vua của các vua, thứ hai là những người liên quan đến vua của các vị vua chỉ có thông qua hôn nhân, và thứ tự thấp nhất là người đứng đầu gia tộc địa phương và vùng lãnh thổ nhỏ [165].

Đến thế kỷ 1, quý tộc Parthia đã nắm nhiều quyền lực và có ảnh hưởng lớn trong sự kế vị và lật đổ các vị vua Arsaces[166] Một số quý tộc có vai trò như cố vấn triều đình cho nhà vua, cũng như các giáo sĩ thần thánh.[167] Trong số những đại gia tộc cao quý của Parthia được liệt kê vào lúc bắt đầu thời kỳ Sasanianid, chỉ có hai trong số đó được đề cập cụ thể trong các văn bản trước đó của Parthia: Gia tộc Surengia tộc Karen.[167] Nhà sử học Plutarch lưu ý rằng các thành viên của gia tộc Suren, quan trọng nhất trong giới quý tộc, đã có được đặc quyền trao vương miện cho mỗi vua của các vị vua nhà Arsaces mới trong lễ đăng quang của họ [168].

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

A Parthian stucco relief of an infantryman, from the walls of Zahhak Castle, East Azarbaijan Province, Iran

Đế chế Parthia đã quân đội thường trực, nhưng đã có thể nhanh chóng tuyển dụng quân đội mỗi khi có một cuộc khủng hoảng địa phương xảy ra[169] Có một Lực lượng vũ trang thường trực dùng để bảo vệ nhà vua, bao gồm quý tộc, nông nô và lính đánh thuê, nhưng đoàn tùy tùng hoàng gia này nhỏ [170] Những đội quân đồn trú cũng thường xuyên được duy trì ở các pháo đài biên giới; Những dòng chữ khắc Parthia tiết lộ một số các chức danh quân sự ban cho những chỉ huy tại các địa điểm này [170] Lực lượng quân đội cũng có thể được sử dụng trong các cử chỉ ngoại giao. Ví dụ, khi sứ thần Trung Quốc viếng thăm Parthia ở cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, Sử Ký Tư Mã Thiên đã đề cập tới 20.000 kỵ binh được phái đến biên giới phía đông để phục vụ hộ tống sứ thần, mặc dù con số này có lẽ là một sự phóng đại.[171]

Lực lượng chiến đấu chính của quân đội Parthia là cataphract, kỵ binh nặng với người lính và ngựa được bảo vệ bởi áo giáp lưới[172]. Lực lượng Cataphract được trang bị với một ngọn thuơng để đột kích vào hàng ngũ kẻ thù, cũng như cung và tên.[173] Do chi phí trang bị và áo giáp của họ, cataphract được tuyển chọn từ trong tầng lớp quý tộc, đổi lại cho sự phục vụ của họ, là sự đòi hỏi một hình thức tự chủ ở cấp địa phương từ các vị vua Arsaces[174] Kỵ binh nhẹ được tuyển chọn từ tầng lớp thường dân và phục vụ làm lực lượng kị cung, họ mặc áo dài và quần dài đơn giản để tham gia vào trận chiến [172] Họ đã sử dụng cung ghép và có thể bắn vào kẻ thù trong khi đang cưỡi ngựa và quay mặt đi với kẻ thù, kỹ thuật này, được gọi là bắn kiểu Parthia, là một chiến thuật có hiệu quả cao.[175] Kỵ binh nặng và nhẹ của Parthia được chứng minh là một yếu tố quyết định trong Trận Carrhae, một lực lượng Ba Tư đánh bại một đội quân La Mã lớn hơn nhiều dưới sự chỉ huy của Crassus. Các đơn vị bộ binh nhẹ, bao gồm tuyển mộ từ dân thường và lính đánh thuê, được sử dụng để phân tán quân đội của đối phương sau khi kỵ binh đột kích.[176]

Kích thước của quân đội Parthia là không rõ, cũng như là kích thước dân số tổng thể của đế chế. Tuy nhiên, các cuộc khai quật khảo cổ học ở những khu đô thị cũ của Parthia cho thấy các khu định cư đó có thể duy trì dân số lớn và do đó có một nguồn nhân lực lớn[177]

Tiền tệ[sửa | sửa mã nguồn]

Những đồng xu drachma Hy Lạp, thường được làm bằng bạc,[178] bao gồm cả tetradrachm, là đồng tiền tiêu chuẩn được sử dụng trong suốt thời Đế chế Parthia[179] Nhà Arsaces duy trì khu đúc tiền của hoàng gia tại các thành phố Hecatompylos, Seleucia, và Ecbatana[29] Nhiều khả năng họ đã mở một sở đúc tiền tại Mithridatkert / Nisa [16] Từ khi thành lập đế quốc cho đến khi nó sụp đổ, drachm được ban hành trong suốt thời đại Parthia hiếm khi cân nặng ít hơn 3,5 g hoặc nhiều hơn 4,2 g.[180] Những đồng tetradrachm Parthia đầu tiên, trọng lượng về nguyên tắc khoảng 16 g với một số biến thể, xuất hiện sau khi Mithridates I chinh phục vùng Lưỡng Hà và được đúc độc quyền tại Seleucia.[181]

Xã hội và văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa Hy Lạp và sự hồi sinh của văn hóa Iran[sửa | sửa mã nguồn]

Người cưỡi ngựa,bây giờ được trưng bày tại Palazzo Madama, Turino.

Mặc dù nền văn hóa Hy Lạp của nhà Seleukos được chấp nhận rộng rãi bởi các dân tộc vùng Cận Đông trong thời kỳ Hy Lạp hóa, thời kì Parthia đã chứng kiến một sự hồi sinh của văn hóa Iran trong tôn giáo, nghệ thuật, và thậm chí cả trang phục quần áo [182] Ý thức được cả nguồn gốc Hy Lạp và Ba Tư trong vương quyền của họ, những vị vua Arsaces đi phong cách theo kiểu vua của các vị vua Ba Tư và khẳng định rằng họ cũng là philhellene ("bạn bè của người Hy Lạp") [183] từ "philhellene" được ghi trên đồng tiền Parthia cho đến triều đại của Artabanus II[184] ngưng sử dụng cụm từ này để biểu thị sự hồi sinh của nền văn hóa Iran của Parthia.[185] Vologeses I là vị vua Arsaces đầu tiên sử dụng chữ viết và ngôn ngữ Parthia xuất hiện trên đồng tiền đúc song song với tiếng Hy Lạp [186] Tuy nhiên, việc sử dụng những chữ cái Hy Lạp khắc trên tiền xu Parthia vẫn còn cho đến khi đế quốc sụp đổ.[187]

Một vòi nước Parthia gốm trong hình dạng đầu của một người đàn ông, khoảng thế kỷ 1 hoặc 2 CN

Tuy nhiên, ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp đã không biến mất khỏi Đế chế Parthia, và có bằng chứng rằng nhà Arsaces đã yêu thích những nhà hát Hy Lạp. Khi đầu của Crassus đã được đem dâng cho Orodes II, ông ta cùng vua Armenia,Artavasdes II, lúc này đang bận xem một vở kịch thầy tế của thần Dionysius(vở kịch Bacchae) của nhà soạn kịch Euripides (khoảng 480-406 TCN). Người phụ trách của vở kịch đã quyết định sử dụng đầu thực của Crassus thay cho cái đầu giả của Pentheus [188]

Trên các đồng tiền của mình, vua Arsaces I được mô tả mặc y phục tương tự như phó vuơng nhà Achaemenes. Theo A. Shahbazi, Arsaces "cố ý tách biệt khỏi tiền xu nhà Seleukos để đề cao tinh thần dân tộc dân tộc và khát vọng hoàng gia của ông, và ông gọi mình là Kārny / Karny (tiếng Hy Lạp: Autocratos), một tước hiệu đã được dùng bởi những vị tướng Achaemenes tối cao, chẳng hạn như Cyrus trẻ" [189] phù hợp với truyền thống Achaemenes, những phù điêu khắc hình ảnh các vị vua Arsaces đã được khắc tại núi Behistun, nơi mà Darius I của Ba Tư (r. 522-486 TCN)khắc lên đó văn bia của hoàng gia.[190] Hơn nữa, nhà Arsaces tuyên bố nguồn gốc gia đình từ vua Artaxerxes II của Ba Tư (r. 404-358 TCN) như một phương tiện để củng cố tính hợp pháp của họ trong việc cai trị vùng lãnh thổ cũ của nhà Achaemenes, ví dụ như là "người kế vị hợp pháp của các vị vua vinh quang" của Iran cổ[191] Vua Artabanus III đặt tên một trong các hoàng nam của ông là Darius và xưng làm người thừa kế của Cyrus Đại Đế.[189] Các vua nhà Arsaces chọn cho mình những cái tên điển hình của Bái Hỏa giáo, và vài tên trong số đó lấy từ "khởi thủy hào hùng" của thánh kinh Avesta, theo nhà sử học V.G. Lukonin.[192]

Người Parthia cũng đã chấp nhận việc sử dụng lịch Babylon với những cái tên từ lịch Iran nhà Achaemenes, thay thế lịch Macedonia của nhà Seleukos.[193]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Parthian votive relief from Khūzestān Province, Iran, 2nd century AD

Ngay bên trong Đế chế Parthia, tồn tại tình trạng không đồng nhất về văn hóa và chính trị, có một loạt các hệ thống tôn giáo và niềm tin, phổ biến nhất là sự thờ cúng các vị thần của người Hy Lạp và Iran.[194] Ngoài ra còn có một số người Do Thái [195] và tín hữu Kitô giáo,[196] và hầu hết người Parthia theo đa thần giáo[197] Các vị thần Hy Lạp và Iran đôi khi được pha trộn với nhau thành một. Ví dụ, Zeus thường đánh đồng với Ahura Mazda, Hades với Angra Mainyu, AphroditeHera với Anahita, Apollo với Mithra, và Hermes với Shamash [198] Ngoài các vị nam thần và nữ thần chính, mỗi nhóm dân tộc và thành phố đã có riêng của mình những vị thần nhất định[197] Cũng như các vị vua triều Seleukos,[199] các công trình nghệ thuật Parthia cho thấy rằng các vị vua nhà Arsaces được tôn thờ làm Thần vương, và sự sùng bái các vị vua này có lẽ phổ biến nhất [200]

Mức độ tôn sùng của nhà Arsaces với Bái Hỏa giáo đã được tranh luận trong học thuật hiện đại.[201] Những tín đồ Zoroaster đã coi sự hiến tế đẫm máu của một số tôn giáo thời Parthia của Iran là không thể chấp nhận được[194] Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy vua Vologeses I khuyến khích sự hiện diện của pháp sư ma thuật Bái hỏa giáo tại Triều đình và tài trợ biên soạn các văn bản Bái hỏa giáo thiêng liêng mà sau đó hình thành kinh Avesta [202] Triều đình Sassanid sau này sẽ tôn Bái hỏa giáo thành quốc giáo của đế quốc.[203]

Cho dù vị tiên tri sáng lập Minh giáoMani (216276) không hề tuyên bố sự khải huyền tôn giáo đầu tiên của ông cho tới khoảng năm 228/229, Bivar khẳng định rằng đức tin mới của ông gồm thâu "những yếu tố của đức tin Mandae, thuyết nguồn gốc vũ trụ của người Iran, và thậm chí cả những tiếng vang của Ki-tô giáo...[Minh giáo] có thể được coi là một phản ánh điển hình của những học thuyết tôn giáo hỗn hợp vào cuối triều Arsaces, cái mà quốc đạo Bái Hỏa của triều Sassanid sớm quét sạch hết."[204]

Có rất it bằng chứng khảo cố cho thấy sự truyền bá đạo Phật từ Đế quốc Quý Sương vào lãnh thổ Iran.[205] Tuy vậy, theo các thư tịch cổ Trung Quốc, một quý tộc Parthia kiêm tăng lữ Phật giáo là An Thế Cao (An Shigao) (s. sống vào thế kỷ thứ 2), đến Lạc Dương (Trung Quốc) để truyền bá Phật giáo và dịch vài cuốn kinh Phật sang tiếng Hán.[206]

Nghệ thuật và kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

A barrel vaulted iwan at the entrance at the ancient site of Hatra, Iraq, built kh. 50 TCN

Nghệ thuật Parthia có thể được chia thành ba giai đoạn sử - địa: nền nghệ thuật của Parthia cổ, nghệ thuật của cao nguyên Iran, và nghệ thuật của Lưỡng Hà thuộc Parthia [207] Tác phẩm hội họa Parthia chính thống đầu tiên, được tìm thấy tại Mithridatkert / Nisa, kết hợp các yếu tố nghệ thuật Hy Lạp và Iran phù hợp với truyền thống Achaemenes và Seleukos[207] trong giai đoạn thứ hai, nghệ thuật Parthia tìm thấy cảm hứng theo phong cách nghệ thuật đời Achaemenes, như được minh chứng bằng bức phù điêu của vua Mithridates II tại núi Behistun.[208] Giai đoạn thứ ba xảy ra dần dần sau khi người Parthia chinh phục Lưỡng Hà [208].

Những chủ đề chung của thời kỳ Parthia bao gồm cảnh những cuộc săn bắn của Hoàng gia và sự lên ngôi của các vua nhà Arsaces [209] Những chủ đề mở rộng khác bao gồm những bức chân dung của những nhà cầm quyền địa phương.[207] Nền nghệ thuật chung của Parthia trong thời ấy luôn gắn bó với tranh khắc trên đá, tranh tường và thậm chí là tranh grafitô.[207] Môtíp phổ biến thời kỳ Sassanid thể hiện hai chiến binh cưỡi ngựa cầm thương giao chiến với nhau xuất hiện lần đầu tiên trong các phù điêu Parthia tại núi Behistun.[210]

Trong tranh chân dung, người Parthia ủng hộ và nhấn mạnh việc điêu khắc theo mặt trước, có nghĩa là người được miêu tả trong bức tranh, trong tác phẩm điêu khắc, hoặc mặt trước sau của đồng tiền phải đối diện trực tiếp với người xem thay vì hiển thị theo chiều nghiêng.[211] Mặc dù phong cách vẽ điêu khắc theo mặt trước trong chân dung vào giai đoạn này là một kỹ thuật nghệ thuật đã cũ, Daniel Schlumberger giải thích sự đổi mới của vẽ điêu khắc theo mặt trước thời Parthia:[212]

'Điêu khắc theo mặt trước kiểu Parthia', cũng như bây giờ chúng ta đã quen gọi nó, khác xa cả với kiểu Cận Đông cổ đại và điêu khắc theo mặt trước kiểu Hy Lạp, mặc dù nó là, không cần phải nghi ngờ, hậu duệ đời sau. Đối với cả hai trong nghệ thuật phương Đông và trong nghệ thuật Hy Lạp, điêu khắc theo mặt trước là một điều đặc biệt: trong nghệ thuật phương Đông nó dành riêng cho một số ít các nhân vật được thờ cúng hay trong thần thoại; trong nghệ thuật Hy Lạp nó chỉ được dùng đến vì những lý do nhất định, khi được đối tượng yêu cầu, và, trên toàn bộ, hiếm khi được sử dụng. Với nghệ thuật Parthia, thì ngược lại, nó trở nên bình thường. Cho nên điêu khắc theo mặt trước kiểu Parthia thực sự là gì, nhưng thói quen cho thấy, trong hội họa, tất cả các nhân vật đều được thể hiện rõ nét... Điều đặc biệt này dường như đã bắt đầu trong quá trình thế kỷ thứ 1.[212]

Nghệ thuật kiến trúc Parthia chấp nhận các yếu tố của kiến trúc Achaemenes và Hy Lạp, nhưng vẫn khác biệt với cả hai. Phong cách này lần đầu tiên được chứng thực tại Mithridatkert /Nisa.[213] Đại sảnh tròn của Nisa thì tương tự như cung điện Hy Lạp cổ đại, nhưng khác nhau ở chỗ nó tạo thành một vòng tròn và khung vòm trong một không gian vuông [213] Tuy nhiên, các tác phẩm nghệ thuật của Nisa, bao gồm cả bức tượng bằng đá cẩm thạch và những cảnh tượng khắc trên rhyton bằng ngà voi, thì không còn nghi ngờ gì nữa là chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp.[214]

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sheldon 2010, tr. 231
  2. ^ Waters 1974, tr. 424.
  3. ^ Brosius 2006, tr. 84
  4. ^ "roughly western Khurasan" Bickerman 1983, tr. 6.
  5. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 379.
  6. ^ Katouzian 2009, tr. 41; Curtis 2007, tr. 7; Bivar 1983, tr. 24–27; Brosius 2006, tr. 83–84
  7. ^ Bivar 1983, tr. 24; Brosius 2006, tr. 84
  8. ^ Bivar 1983, tr. 24–27; Brosius 2006, tr. 83–84
  9. ^ Curtis 2007, tr. 7–8; Brosius 2006, tr. 83–84
  10. ^ Bivar 1983, tr. 28–29
  11. ^ a ă Curtis 2007, tr. 7
  12. ^ a ă â Katouzian 2009, tr. 41
  13. ^ Garthwaite 2005, tr. 67
  14. ^ Brosius 2006, tr. 85
  15. ^ Bivar 1983, tr. 29–31
  16. ^ a ă Curtis 2007, tr. 8
  17. ^ a ă Brosius 2006, tr. 86
  18. ^ a ă Brosius 2006, tr. 85–86
  19. ^ a ă Bivar 1983, tr. 29; Brosius 2006, tr. 86; Kennedy 1996, tr. 74
  20. ^ Bivar 1983, tr. 29–31; Brosius 2006, tr. 86
  21. ^ Bivar 1983, tr. 31
  22. ^ Bivar 1983, tr. 33; Brosius 2006, tr. 86
  23. ^ Curtis 2007, tr. 10–11; Bivar 1983, tr. 33; Garthwaite 2005, tr. 76
  24. ^ a ă Curtis 2007, tr. 10–11; Brosius 2006, tr. 86–87; Bivar 1983, tr. 34; Garthwaite 2005, tr. 76;
  25. ^ Garthwaite 2005, tr. 76; Bivar 1983, tr. 35
  26. ^ Brosius 2006, tr. 103, 110–113
  27. ^ Kennedy 1996, tr. 73; Garthwaite 2005, tr. 77
  28. ^ Garthwaite 2005, tr. 77; Bivar 1983, tr. 38–39
  29. ^ a ă Brosius 2006, tr. 103
  30. ^ Bivar 1983, tr. 34
  31. ^ Brosius 2006, tr. 89; Bivar 1983, tr. 35
  32. ^ Bivar 1983, tr. 36–37; Curtis 2007, tr. 11
  33. ^ Garthwaite 2005, tr. 76–77; Bivar 1983, tr. 36–37; Curtis 2007, tr. 11
  34. ^ Bivar 1983, tr. 37–38; Garthwaite 2005, tr. 77; see also Brosius 2006, tr. 90 and Katouzian 2009, tr. 41–42
  35. ^ Torday 1997, tr. 80–81
  36. ^ Garthwaite 2005, tr. 76; Bivar 1983, tr. 36–37; Brosius 2006, tr. 89, 91
  37. ^ Brosius 2006, tr. 89
  38. ^ Bivar 1983, tr. 38; Garthwaite 2005, tr. 77
  39. ^ Bivar 1983, tr. 38–39; Garthwaite 2005, tr. 77; Curtis 2007, tr. 11; Katouzian 2009, tr. 42
  40. ^ Bivar 1983, tr. 38–39
  41. ^ Bivar 1983, tr. 40–41; Katouzian 2009, tr. 42
  42. ^ Garthwaite 2005, tr. 78
  43. ^ Bivar 1983, tr. 40; Curtis 2007, tr. 11–12; Brosius 2006, tr. 90
  44. ^ Curtis 2007, tr. 11–12
  45. ^ Brosius 2006, tr. 91–92; Bivar 1983, tr. 40–41
  46. ^ a ă Bivar 2007, tr. 26
  47. ^ Bivar 1983, tr. 41
  48. ^ Garthwaite 2005, tr. 78; Brosius 2006, tr. 122–123
  49. ^ Brosius 2006, tr. 123–125
  50. ^ Wang 2007, tr. 100–101
  51. ^ Kurz 1983, tr. 560
  52. ^ Ebrey 1999, tr. 70; for an archaeological survey of Roman glasswares in ancient Chinese burials, see An 2002, tr. 79–84
  53. ^ a ă Brosius 2006, tr. 92
  54. ^ Kennedy 1996, tr. 73–78; Brosius 2006, tr. 91; Sheldon 2010, tr. 12–16
  55. ^ a ă â b Kennedy 1996, tr. 77–78
  56. ^ a ă Bivar 1983, tr. 41–44; also see Garthwaite 2005, tr. 78
  57. ^ Brosius 2006, tr. 91–92
  58. ^ Bivar 1983, tr. 44–45
  59. ^ Bivar 1983, tr. 45–46; Brosius 2006, tr. 94
  60. ^ Bivar 1983, tr. 46–47
  61. ^ Bivar 1983, tr. 47; Cassius Dio writes that Lucius Afranius reoccupied the region without confronting the Parthian army, whereas Plutarch asserts that Afranius drove him out by military means.
  62. ^ Bivar 1983, tr. 48–49; see also Katouzian 2009, tr. 42–43
  63. ^ Bivar 1983, tr. 48–49; also, Brosius 2006, tr. 94–95 mentions this in passing.
  64. ^ Bivar 1983, tr. 49–50; Katouzian 2009, tr. 42–43
  65. ^ Bivar 1983, tr. 55–56; Garthwaite 2005, tr. 79; see also Brosius 2006, tr. 94–95 and Curtis 2007, tr. 12–13
  66. ^ 1983 Bivar, tr. 52–55
  67. ^ 1983 Bivar, tr. 52
  68. ^ 1983 Bivar, tr. 52–55; Brosius 2006, tr. 94–95; Garthwaite 2005, tr. 78–79
  69. ^ Katouzian 2009, tr. 42–43; Garthwaite 2005, tr. 79; Bivar 1983, tr. 52–55; Brosius 2006, tr. 96
  70. ^ Bivar 1983, tr. 52–55; Brosius 2006, tr. 96
  71. ^ Bivar 1983, tr. 55–56; Brosius 2006, tr. 96
  72. ^ Kennedy 1996, tr. 80 asserts that permanent occupation was the obvious goal of the Parthians, especially after the cities of Roman Syria and even the Roman garrisons submitted to the Parthians and joined their cause.
  73. ^ Kennedy 1996, tr. 78–79; Bivar 1983, tr. 56
  74. ^ Bivar 1983, tr. 56–57; Strugnell 2006, tr. 243
  75. ^ a ă â Bivar 1983, tr. 57; Strugnell 2006, tr. 244; Kennedy 1996, tr. 80
  76. ^ Syme 1939, tr. 214–217
  77. ^ Bivar 1983, tr. 57
  78. ^ a ă Bivar 1983, tr. 57–58; Strugnell 2006, tr. 239, 245; Brosius 2006, tr. 96; Kennedy 1996, tr. 80
  79. ^ Bivar 1983, tr. 58; Brosius 2006, tr. 96; Kennedy 1996, tr. 80–81; see also Strugnell 2006, tr. 239, 245–246
  80. ^ Garthwaite 2005, tr. 79
  81. ^ Bivar 1983, tr. 58–59; Kennedy 1996, tr. 81
  82. ^ Bivar 1983, tr. 58–59
  83. ^ Bivar 1983, tr. 60–63; Garthwaite 2005, tr. 80; Curtis 2007, tr. 13; see also Kennedy 1996, tr. 81 for analysis on Rome's shift of attention away from Syria to the Upper Euphrates, starting with Antony.
  84. ^ a ă Bivar 1983, tr. 64–65
  85. ^ Bivar 1983, tr. 65–66
  86. ^ Garthwaite 2005, tr. 80; see also Strugnell 2006, tr. 251–252
  87. ^ Bivar 1983, tr. 66–67
  88. ^ Bivar 1983, tr. 67; Brosius 2006, tr. 96–99
  89. ^ Bivar 1983, tr. 68; Brosius 2006, tr. 97–99; see also Garthwaiete 2005, tr. 80
  90. ^ Bivar 1983, tr. 68–69; Brosius 2006, tr. 97–99
  91. ^ Bivar 1983, tr. 69–71
  92. ^ Bivar 1983, tr. 71
  93. ^ Bivar 1983, tr. 71–72
  94. ^ Bivar 1983, tr. 72–73
  95. ^ See Brosius 2006, tr. 137–138 for more information on Roman coins depicting Parthians returning the lost military standards to La Mã.
  96. ^ Bivar 1983, tr. 73
  97. ^ Bivar 1983, tr. 73–74
  98. ^ Bivar 1983, tr. 75–76
  99. ^ Bivar 1983, tr. 76–78
  100. ^ a ă Watson 1983, tr. 543–544
  101. ^ Watson 1983, tr. 543–544; Yü 1986, tr. 460–461; de Crespigny 2007, tr. 239–240; see also Wang 2007, tr. 101
  102. ^ Wood 2002, tr. 46–47; Morton & Lewis 2005, tr. 59
  103. ^ Yü 1986, tr. 460–461; de Crespigny 2007, tr. 600
  104. ^ Bivar 1983, tr. 79
  105. ^ Bivar 1983, tr. 79–81; Kennedy 1996, tr. 81
  106. ^ Garthwaite 2005, tr. 82; Bivar 1983, tr. 79–81
  107. ^ Bivar 1983, tr. 81
  108. ^ Bivar 1983, tr. 81–85
  109. ^ Bivar 1983, tr. 83–85
  110. ^ Brosius 2006, tr. 99–100; Bivar 1983, tr. 85
  111. ^ Bivar 1983, tr. 86
  112. ^ Kennedy 1996, tr. 67, 87–88
  113. ^ Kennedy 1996, tr. 87
  114. ^ Kennedy 1996, tr. 87–88; see also Kurz 1983, tr. 561–562
  115. ^ Sheldon 2010, tr. 231–232
  116. ^ Sheldon 2010, tr. 9–10, 231–235
  117. ^ Bivar 1983, tr. 86–87
  118. ^ Bivar 1983, tr. 88; Curtis 2007, tr. 13; Lightfoot 1990, tr. 117
  119. ^ Lightfoot 1990, tr. 117–118; see also Bivar 1983, tr. 90–91
  120. ^ Bivar 1983, tr. 88–89
  121. ^ Bivar 1983, tr. 88–90; Garthwaite 2005, tr. 81; Lightfoot 1990, tr. 120; see also Katouzian 2009, tr. 44
  122. ^ Bivar 1983, tr. 90–91
  123. ^ Lightfoot 1990, tr. 120; Bivar 1983, tr. 90–91
  124. ^ Bivar 1983, tr. 91; Curtis 2007, tr. 13; Garthwaite 2005, tr. 81
  125. ^ Mommsen 2004, tr. 69
  126. ^ Bivar 1983, tr. 90–91; see also Brosius 2006, tr. 137 and Curtis 2007, tr. 13
  127. ^ Lightfoot 1990, tr. 120–124
  128. ^ Brosius 2006, tr. 100; see also Lightfoot 1990, tr. 115; Garthwaite 2005, tr. 81; and Bivar 1983, tr. 91
  129. ^ Bivar 1983, tr. 92–93
  130. ^ Bivar 1983, tr. 93
  131. ^ Brosius 2006, tr. 100; Bivar 1983, tr. 93–94
  132. ^ a ă Brosius 2006, tr. 100; Curtis 2007, tr. 13; Bivar 1983, tr. 94; Katouzian 2009, tr. 44
  133. ^ a ă Bivar 1983, tr. 94–95
  134. ^ Brosius 2006, tr. 100–101; see also Katouzian 2009, tr. 44, who mentions this in passing
  135. ^ a ă Brosius 2006, tr. 101; Bivar 1983, tr. 95–96; Curtis 2007, tr. 14; see also Katouzian 2009, tr. 44
  136. ^ Bivar 1983, tr. 95–96
  137. ^ Frye 1983, tr. 173–174
  138. ^ Widengren 1983, tr. 1261–1262
  139. ^ Yarshater 1983, tr. 359
  140. ^ Widengren 1983, tr. 1261
  141. ^ Garthwaite 2005, tr. 67, 75; Bivar 1983, tr. 22
  142. ^ Garthwaite 2005, tr. 75; Bivar 1983, tr. 80–81
  143. ^ Kurz 1983, tr. 564; see also Brosius 2006, tr. 138 for further analysis: "Curiously, at the same time as the Parthian was depicted as uncivilised, he was also 'orientalised' in traditional fashion, being described as luxury-loving, leading an effeminate lifestyle, and demonstrating excessive sexuality."
  144. ^ Widengren 1983, tr. 1261, 1264
  145. ^ Widengren 1983, tr. 1264
  146. ^ Widengren 1983, tr. 1265–1266
  147. ^ a ă Widengren 1983, tr. 1265, 1267
  148. ^ Brosius 2006, tr. 80; Posch 1998, tr. 363
  149. ^ Posch 1998, tr. 358
  150. ^ Watson 1983, tr. 541–542
  151. ^ Wang 2007, tr. 90
  152. ^ Wang 2007, tr. 88
  153. ^ Wang 2007, tr. 89–90; Brosius 2006, tr. 90–91, 122
  154. ^ Brosius 2006, tr. 118; see also Wang 2007, tr. 90 for a similar translation
  155. ^ Garthwaite 2005, tr. 67–68
  156. ^ Widengren 1983, tr. 1263
  157. ^ Lukonin 1983, tr. 701
  158. ^ Lukonin 1983, tr. 701; Curtis 2007, tr. 19–21
  159. ^ Brosius 2006, tr. 113–114
  160. ^ Brosius 2006, tr. 115–116
  161. ^ Brosius 2006, tr. 114–115
  162. ^ “Trận Carrhae Đế quốc Parthia (247 TCN – 226 CN)”. Persianempire.info. 20 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2011. 
  163. ^ a ă Brosius 2006, tr. 103–104
  164. ^ Lukonin 1983, tr. 699–700
  165. ^ Lukonin 1983, tr. 700–704
  166. ^ Brosius 2006, tr. 99–100, 104
  167. ^ a ă Brosius 2006, tr. 104–105, 117–118
  168. ^ Lukonin 1983, tr. 704; Brosius 2006, tr. 104
  169. ^ Brosius 2006, tr. 116, 122; Sheldon 2010, tr. 231–232
  170. ^ a ă Kennedy 1996, tr. 84
  171. ^ Wang 2007, tr. 99–100
  172. ^ a ă Brosius 2006, tr. 120; Garthwaite 2005, tr. 78
  173. ^ Brosius 2006, tr. 120; Kennedy 1996, tr. 84
  174. ^ Brosius 2006, tr. 116–118; see also Garthwaite 2005, tr. 78 and Kennedy 1996, tr. 84
  175. ^ Brosius 2006, tr. 120; Garthwaite 2005, tr. 78; Kurz 1983, tr. 561
  176. ^ Brosius 2006, tr. 122
  177. ^ Kennedy 1996, tr. 83
  178. ^ Curtis 2007, tr. 9, 11–12, 16
  179. ^ Curtis 2007, tr. 7–25; Sellwood 1983, tr. 279–298
  180. ^ Sellwood 1983, tr. 280
  181. ^ Sellwood 1983, tr. 282
  182. ^ Curtis 2007, tr. 14–15; see also Katouzian 2009, tr. 45
  183. ^ Garthwaite 2005, tr. 85; Curtis 2007, tr. 14–15
  184. ^ Curtis 2007, tr. 11
  185. ^ Curtis 2007, tr. 16
  186. ^ Garthwaite 2005, tr. 80–81; see also Curtis 2007, tr. 21 and Schlumberger 1983, tr. 1030
  187. ^ Schlumberger 1983, tr. 1030
  188. ^ Bivar 1983, tr. 56
  189. ^ a ă Shahbazi 1987, tr. 525
  190. ^ Garthwaite 2005, tr. 85; Brosius 2006, tr. 128–129
  191. ^ Lukonin 1983, tr. 697
  192. ^ Lukonin 1983, tr. 687; Shahbazi 1987, tr. 525
  193. ^ Duchesne-Guillemin 1983, tr. 867–868
  194. ^ a ă Katouzian 2009, tr. 45
  195. ^ Neusner 1983, tr. 909–923
  196. ^ Asmussen 1983, tr. 924–928
  197. ^ a ă Brosius 2006, tr. 125
  198. ^ Garthwaite 2005, tr. 68, 83–84; Colpe 1983, tr. 823; Brosius 2006, tr. 125
  199. ^ Duchesne-Guillemin 1983, tr. 872–873
  200. ^ Colpe 1983, tr. 844
  201. ^ Katouzian 2009, tr. 45; Brosius 2006, tr. 102–103
  202. ^ Bivar 1983, tr. 85–86; Garthwaite 2005, tr. 80–81; Duchesne-Guillemin 1983, tr. 867
  203. ^ Garthwaite 2005, tr. 67; Asmussen 1983, tr. 928, 933–934
  204. ^ Bivar 1983, tr. 97
  205. ^ Emmerick 1983, tr. 957
  206. ^ Demiéville 1986, tr. 823; Zhang 2002, tr. 75
  207. ^ a ă â b Brosius 2006, tr. 127
  208. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên brosius_2006_128
  209. ^ Brosius 2006, tr. 127; see also Schlumberger 1983, tr. 1041–1043
  210. ^ Brosius 2006, tr. 129, 132
  211. ^ Brosius 2006, tr. 127; Garthwaite 2005, tr. 84; Schlumberger 1983, tr. 1049–1050
  212. ^ a ă Schlumberger 1983, tr. 1051
  213. ^ a ă Brosius 2006, tr. 111–112
  214. ^ Brosius 2006, tr. 111–112, 127–128; Schlumberger 1983, tr. 1037–1041

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • An, Jiayao (2002), “When Glass Was Treasured in China”, trong Juliano, Annette L. and Judith A. Lerner, Silk Road Studies: Nomads, Traders, and Holy Men Along China's Silk Road 7, Turnhout: Brepols Publishers, tr. 79–94, ISBN 2503521789 .
  • Asmussen, J.P. (1983), “Christians in Iran”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 924–948, ISBN 0-521-20092-X .
  • Bickerman, Elias J. (1983), “The Seleucid Period”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.1, London & New York: Cambridge University Press, tr. 3–20, ISBN 0-521-20092-X .
  • Bivar, A.D.H. (1983), “The Political History of Iran Under the Arsacids”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.1, London & New York: Cambridge University Press, tr. 21–99, ISBN 0-521-20092-X .
  • Bivar, A.D.H. (2007), “Gondophares and the Indo-Parthians”, trong Curtis, Vesta Sarkhosh and Sarah Stewart, The Age of the Parthians: The Ideas of Iran 2, London & New York: I.B. Tauris & Co Ltd., in association with the London Middle East Institute at SOAS and the British Museum, tr. 26–36, ISBN 978-1-84511-406-0 .
  • Boyce, Mary (1983), “Parthian Writings and Literature”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 1151–1165, ISBN 0-521-20092-X .
  • Brosius, Maria (2006), The Persians: An Introduction, London & New York: Routledge, ISBN 0-415-32089-5 .
  • Colpe, Carsten (1983), “Development of Religious Thought”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 819–865, ISBN 0-521-20092-X .
  • Curtis, Vesta Sarkhosh (2007), “The Iranian Revival in the Parthian Period”, trong Curtis, Vesta Sarkhosh and Sarah Stewart, The Age of the Parthians: The Ideas of Iran 2, London & New York: I.B. Tauris & Co Ltd., in association with the London Middle East Institute at SOAS and the British Museum, tr. 7–25, ISBN 978-1-84511-406-0 .
  • de Crespigny, Rafe (2007), A Biographical Dictionary of Later Han to the Three Kingdoms (23-220 AD), Leiden: Koninklijke Brill, ISBN 90-04-15605-4 .
  • Demiéville, Paul (1986), “Philosophy and religion from Han to Sui”, trong Twitchett and Loewe, Cambridge History of China: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220 1, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 808–872, ISBN 0521243270 .
  • Duchesne-Guillemin, J. (1983), “Zoroastrian religion”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 866–908, ISBN 0-521-20092-X .
  • Ebrey, Patricia Buckley (1999), The Cambridge Illustrated History of China, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 052166991X  (paperback).
  • Emmerick, R.E. (1983), “Buddhism Among Iranian Peoples”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 949–964, ISBN 0-521-20092-X .
  • Frye, R.N. (1983), “The Political History of Iran Under the Sasanians”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.1, London & New York: Cambridge University Press, tr. 116–180, ISBN 0-521-20092-X .
  • Garthwaite, Gene Ralph (2005), The Persians, Oxford & Carlton: Blackwell Publishing, Ltd., ISBN 1-5578-6860-3 .
  • Katouzian, Homa (2009), The Persians: Ancient, Medieval, and Modern Iran, New Haven & London: Yale University Press, ISBN 978-0-300-12118-6 .
  • Kennedy, David (1996), “Parthia and Rome: eastern perspectives”, The Roman Army in the East, Ann Arbor: Cushing Malloy Inc., Journal of Roman Archaeology: Supplementary Series Number Eighteen, tr. 67–90, ISBN 1-887829-18-0 
  • Kurz, Otto (1983), “Cultural Relations Between Parthia and Rome”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.1, London & New York: Cambridge University Press, tr. 559–567, ISBN 0-521-20092-X .
  • Lightfoot, C.S. (1990), “Trajan's Parthian War and the Fourth-Century Perspective”, The Journal of Roman Studies 80: 115–126, doi:10.2307/300283 
  • Lukonin, V.G. (1983), “Political, Social and Administrative Institutions: Taxes and Trade”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 681–746, ISBN 0-521-20092-X .
  • Mommsen, Theodor (2004 (original publication 1909 by Ares Publishers, Inc.)), The Provinces of the Roman Empire: From Caesar to Diocletian 2, Piscataway (New Jersey): Gorgias Press, ISBN 1-59333-026-X .
  • Morton, William S.; Lewis, Charlton M. (2005), China: Its History and Culture, New York: McGraw-Hill, ISBN 0071412794 .
  • Neusner, J. (1983), “Jews in Iran”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 909–923, ISBN 0-521-20092-X .
  • (tiếng Đức) Posch, Walter (1998), “Chinesische Quellen zu den Parthern”, trong Weisehöfer, Josef, Das Partherreich und seine Zeugnisse, Historia: Zeitschrift für alte Geschichte, vol. 122, Stuttgart: Franz Steiner, tr. 355–364 .
  • Schlumberger, Daniel (1983), “Parthian Art”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 1027–1054, ISBN 0-521-20092-X .
  • Sellwood, David (1983), “Parthian Coins”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.1, London & New York: Cambridge University Press, tr. 279–298, ISBN 0-521-20092-X .
  • Shahbazi, Shahpur A. (1987), “Arsacids. I. Origin”, Encyclopaedia Iranica 2: 255 
  • Sheldon, Rose Mary (2010), Rome's Wars in Parthia: Blood in the Sand, London & Portland: Valentine Mitchell, ISBN 978-0-85303-981-5 
  • Strugnell, Emma (2006), “Ventidius' Parthian War: Rome's Forgotten Eastern Triumph”, Acta Antiqua 46: 239–252, doi:10.1556/AAnt.46.2006.3.3 
  • Syme, Ronald (1939), The Roman Revolution, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0-19-280320-4 (pbk.) 
  • Torday, Laszlo (1997), Mounted Archers: The Beginnings of Central Asian History, Durham: The Durham Academic Press, ISBN 1-900838-03-6 
  • Wang, Tao (2007), “Parthia in China: a Re-examination of the Historical Records”, trong Curtis, Vesta Sarkhosh and Sarah Stewart, The Age of the Parthians: The Ideas of Iran 2, London & New York: I.B. Tauris & Co Ltd., in association with the London Middle East Institute at SOAS and the British Museum, tr. 87–104, ISBN 978-1-84511-406-0 .
  • Waters, Kenneth H. (1974), “The Reign of Trajan, part VII: Trajanic Wars and Frontiers. The Danube and the East”, trong Temporini, Hildegard, Aufstieg und Niedergang der römischen Welt. Principat. II.2, Berlin: Walter de Gruyter, tr. 415–427 .
  • Watson, William (1983), “Iran and China”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.1, London & New York: Cambridge University Press, tr. 537–558, ISBN 0-521-20092-X .
  • Widengren, Geo (1983), “Sources of Parthian and Sasanian History”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.2, London & New York: Cambridge University Press, tr. 1261–1283, ISBN 0-521-20092-X .
  • Wood, Frances (2002), The Silk Road: Two Thousand Years in the Heart of Asia, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, ISBN 0520243404 .
  • Yarshater, Ehsan (1983), “Iranian National History”, trong Yarshater, Ehsan, Cambridge History of Iran 3.1, London & New York: Cambridge University Press, tr. 359–480, ISBN 0-521-20092-X .
  • Yü, Ying-shih (1986), “Han Foreign Relations”, trong Twitchett, Denis and Michael Loewe, Cambridge History of China: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220 1, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 377–462, ISBN 0-521-24327-0 .
  • "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - Editions "La Renaissance du Livre" 1926 - Ré-Edition par Albin Michel 1972, Paris.
  • Zhang, Guanuda (2002), “The Role of the Sogdians as Translators of Buddhist Texts”, trong Juliano, Annette L. and Judith A. Lerner, Silk Road Studies: Nomads, Traders, and Holy Men Along China's Silk Road 7, Turnhout: Brepols Publishers, tr. 75–78, ISBN 2503521789 .

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]