Cataphract

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cataphract hay thiết kỵ là tên gọi của một loại kỵ binh nặng của phương Đông, trang bị bởi một bộ áo giáp dạng lưới hoặc/và dạng vảy cá che kín toàn thân và cả con ngựa. cái tên bắt nguồn từ chữ Hy Lạp κατάφρακτος (kataphraktos), số nhiều là κατάφρακτοι (kataphraktoi) có nghĩa là "được bảo vệ toàn thân". Cataphract thường được các bộ lạc du mục và các triều đại phía đông Iran, các vương quốc ở Trung Cận Đông thời cổ đại sử dụng. Sau này, những người Hy LạpLa Mã cũng học tập và tạo nên các đội Cataphract của mình. Cuối cùng Capatphract lan đến các quốc gia Đông Âu và Nga. Cụ thể, một số quốc gia, dân tộc có các đội quân Cataphract "nổi tiếng" là đế chế Ba Tư Achaemenid, đế chế Ba Tư Parthia, vương quốc Pergamum, vương quốc Armenia cổ đại, người SarmatianIran, đế chế Seleucid, đế chế Ba Tư Sassanid, đế chế La Mã và đế chế Byzantine.

Lực lượng Cataphract thường được so sánh với các hiệp sĩ Tây Âu trung đại. Cả Cataphract và hiệp sĩ đều là những đơn vị kỵ binh nặng và có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến trận Trung cổ. Tuy nhiên chiến thuật sử dụng Cataphract nhìn chung khá khác biệt, và vai trò, vị trí của Cataphract trong xã hội Trung cổ không nổi bật như hiệp sĩ. Những hiệp sĩ vừa là chiến binh và cũng có thể được coi là những nhà quý tộc có ảnh hưởng lớn, giống samurai; còn Cataphract đơn thuần chỉ là những chiến binh chuyên nghiệp, họ không có một địa vị thật sự rõ rệt và ổn định ngoài xã hội (mặc dù họ vẫn được xem trọng hơn dân thường, tất nhiên).

Lịch sử phát triển và chiến thuật sử dụng Cataphract[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc và tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của các Cataphract và cả "tinh thần Cataphract" có thể đến từ các đơn vị kỵ binh tinh nhuệ (tuyển lựa chủ yếu từ con em các quý tộc) của các bộ tộc du mục vùng Trung Á[1], sau đó dần dần truyền sang các quốc gia vùng Cận Đông. Các tài liệu châu Âu nhắc đến từ "kataphraktos" lần đầu tiên trong các cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Ba Tư. Quân đội Ba Tư lúc đó đã có những đội kỵ binh tinh nhuệ trang bị giáp từ đầu tới chân (tất nhiên là giáp lưới và vảy cá). Tuy nhiên tên gọi này vẫn chưa được dùng để chỉ một loại quân, nó chỉ đơn giản là bọc giáp từ đầu tới chân. Người Hy Lạp còn dùng từ "kataphraktes" để chỉ áo giáp lưới.

Tên gọi "cataphract" đúng nghĩa như ngày nay xuất hiện sớm nhất trong tác phẩm của nhà sử học La Mã Sisenus:"… loricatos, quos cataphractos vocant …" tức là "...đội quân thiết giáp được gọi là cataphractos thì...". Lần này thì cái tên mang hơi hướm La Mã: cataphractius (số nhiều là cataphractii). Một điều khá thú vị là, theo nhà sử học Vegetius (thế kỷ IV) thì các đơn vị kị binh nặng khác cũng được gọi là "cataphract". Nhiều đơn vị "cataphract" thời đó chỉ đơn giản mang mọt tấm áo giáp lưới lorica hamata hoặc áo giáp vảy cá lorica squamata. Đến thời vua Heraclius (610-648), khi tiếng Hy Lạp thay thế tiếng Latin trở thành quốc ngữ của đế quốc thì từ kataphractoi cũng xuất hiện thay cho cataphractius. Cibanarius cũng có từ Hy Lạp của nó là klibanophoroi.

Cataphracts[sửa | sửa mã nguồn]

Cataphracts được áp dụng rộng rãi bởi đế chế Seleucid,những người thừa kế Hy Lạp hóa của vương quốc của Alexander đại đế. Những người cai trị đã chinh phục Ba Tư và Tiểu Á sau cái chết của ông năm 323 TCN. Người Parthia,những người cuối cùng đã kiểm soát Ba Tư từ đế chế Seleucid cũng đã thể hiện sự tin tưởng của họ với Cataphract như ngựa bắn cung trong các trận đánh.

Người La Mã biết đến Cataphract trong những trận đánh thường xuyên với các quốc gia Hy Lạp hóa ở phương đông. Trong những cuộc chạm trán đầu tiên, Cataphracts vẫn không có hiệu quả chống lại các lính bộ binh La Mã, bằng chứng là thất bại tại Trận Magnesia (190 TCN) và trong cuộc chiến của Lucullus với Tigranes Đại đế gần Tigranocerta trong năm 69 TCN. Vào năm 38 TCN, có thể thống chế La Mã Publius Ventidius bằng cách sử dụng rộng rãi lính ném đá có tầm xa hiệu quả đánh bại uphill-storming kị binh mang giáp của Parthia, buộc người Parthia phải từ bỏ hết các tỉnh La Mã chiếm được từ Carrhae.

Vào thời kì của Augustus, nhà địa lý Hy lạp Strabo coi Cataphracts cùng với ngựa trang bị giáp là tiêu biểu của Armenian, Albanian và quân đội Midian. Nhưng theo Plutarch tổ chức của họ còn khá thấp và chiến thuật nghèo nàn khi chống lại lính bộ binh có kỷ luật và kị binh nhẹ.

Cataphractius và Clibanarius[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Clibanarius

Nhà sử học cùng thời Ammianus Marcellinus thì nói câu: "cataphracti equites (quos clibanarios dictitant)" tức là "kỵ binh cataphract (được gọi là clibanarii)". Tức là ở đây, phải chăng Cataphract và Clibanarii cũng là một loại kỵ binh ?

Thật ra clibanarius (số nhiều clibanarii), cũng là một loại kị binh trang bị tương tự cataphractius, nhưng trong khi cataphractius dùng thương thì clibanarius dùng chùy hoặc kiếm. Thỉnh thoảng clibanarius cũng được dùng ám chỉ các cataphract dùng cung (Equites Sagitarii Clibanarii) hoặc đơn giản chỉ là kỵ binh nặng. Đôi khi clibanarius và cataphractius dùng lẫn lộn với nhau, có trường hợp clibanarius được dùng để nói về cataphract ở các vương quốc Cận Đông, còn các đồng nghiệp phía Tây vẫn giữ tên cũ cataphractius. Đôi lúc, các cataphract chỉ dùng thương, không dùng cung lại được gọi là lancer.

Vì vậy, không ngạc nhiên khi hiện nay, các học giả vẫn còn tranh cãi ở nhiều vấn đề về cataphract và clibanarius, cũng như vẫn có những điểm mơ hồ về trang bị của cataphract trong thời kỳ sau của nó (TK 3-15).

Sự phát triển và đặc điểm, chiến thuật sử dụng Cataphract[sửa | sửa mã nguồn]

Một loại áo giáp kiểu cataphract của một thành viên trong hoàng tộc Saka của Issyk kurgan.

Lịch sử chủ yếu của kiểu Cataphract điển hình mà chúng ta biết thì diễn ra ở khu vực Đông Âu và Trung Cận Đông ngày nay.

Đầu tiên, Cataphract "ra mắt" phương Tây trong đội hình đế quốc Achaemenid trong cuộc chiến với các đối thủ Hy Lạp. Đến thời kỳ Hy Lạp hóa, khi Alexander Đại đế chinh phục Ba Tư, thì Cataphract dần cũng xuất hiện rộng rãi trong các vương quốc của người Hy Lạp, cụ thế là các quốc gia Pergamum, đế quốc Seleucid, vương quốc Epirus, đặc biệt là ở đế quốc Seleucid. Về sau, khi vương quốc Parthia thay thế Seleucid thì họ cũng tiếp tục "truyền thống" Cataphract đã quá nổi tiếng ở khu vực này. Một số vương quốc lân bang như Pontus và Armenia cũng duy trì một lực lượng Cataphract đáng kể.

Các cataphract đang bỏ chạy trước sự tấn công của kỵ binh La Mã trên phù điêu của các cột Trajan.

Người La Mã chạm trán Cataphract lần đầu tiên vào năm 275 TCN khi vua Pyrrhus của Epirus dẫn quân sang miền Nam Italia để giúp đỡ các thành bang Hy Lạp chống lại sự xâm lăng của La Mã. Tuy nhiên những kỷ niệm nhớ đời nhất về Cataphract đối với La Mã chính là những lần giao tranh với người Parthia. Không ai khác, chính Cataphract cùng với lực lượng kỵ binh bắn cung Parthia đã "làm cỏ" quân La Mã trong Trận Carrhae năm 53 TCN. Trong suốt một thời gian dài, những quân đoàn La Mã lừng danh đã buộc phải bó tay không biết đối phó thế nào với đoàn thiết kỵ binh Cataphract dũng mãnh cùng đám cung thủ cưỡi ngựa đáng sợ.

Rồi thì cũng giống như người Hy Lạp, La Mã cũng tự tạo cho mình những đạo quân Cataphract, cụ thể là trong thời kỷ của hoàng đế Hadrian (117-138). Đến thế kỷ thứ 3, do nhu cầu đối phó với các toán kỵ binh nhanh nhẹn của các bộ tộc Germania, Cataphract càng ngày càng quan trọng và chính đơn vị từng gây ra nỗi kinh hoàng tột độ cho các quân đoàn La Mã này lại trở thành một phần không thể thiếu của quân đội đế quốc. Thật vậy, Cataphract xuất hiện trên khắp mọi miền đế chế, từ các tỉnh vùng Cận Đông đến các miền đất của La Mã ở Anh quốc. Chính những hiệp sĩ thời Trung đại đã kế thừa "tinh thần" của các Cataphract này. Trong việc này phải kể đến công lao khá quan trọng của hoàng đế Gallienus (253-268) và vị tướng của mình, Aureolus.

Phù điêu Hiệp sĩ Ba Tư, Vương triều Sassanid (226-637), Kermanshah, Iran.

Trở lại với địch thủ vùng Trung Cận Đông. Sau khi vương triều Parthia sụp đổ, Cataphract lâm vào một giai đoạn thoái trào ngắn. Lý do là vương triều mới Sassanid phải đối phó với các cuộc tấn công của các dân tộc du mục, như người Nhục Chi (Scythia), người Đột Quyết (Turk), người Hung Nô, cũng như phải đối phó với vương quốc Kushan đang lên. Cụ thể, là, kỵ binh Sassanid lúc này không có sự phân loại rõ rệt, một người kỵ binh có thể chiến đấu cận chiến hoặc có thể dùng cung tên. Tuy nhiên, kể từ thời Shapur II (310-379), khi xung đột giữa La Mã và Sassanid càng lúc càng quyết liệt, vương triều Sassanid cảm thấy sự cần thiết của những đơn vị siêu-kỵ-binh để đối đầu hiệu quả với bộ binh nặng La Mã. Cataphract Ba Tư hồi sinh. Theo nhà sử học Ammianus Marcellinus, đơn vị Cataphract tốt nhất của Ba Tư (có thể là Vệ Binh Pushtigban) có thể húc đổ 2 binh sĩ La Mã trong một lần đột kích. Cataphract bắn cung cũng phát triển như là một đối trọng của các đơn vị La Mã lúc bấy giờ đã trở nên cơ động và khéo léo hơn.

Những cuộc xung đột giữa Ba Tư Sassanid và La Mã lúc này cũng kèm theo những cuộc đối đầu thú vị và cân não giữa các Cataphract ngang tài ngang sức. Một ví von của nhà sử học Procopius là, trong cuộc chiến Sassanid-La Mã dưới thời Justinian I (527-565), Cataphract Ba Tư có khả năng bắn tên cực nhanh, còn các Cataphract La Mã bắn chậm hơn nhiều nhưng chính xác hơn, có thể bắn tên qua trái hay phải, bắn khi truy kích hay bắn ra sau lưng, và phát bắn rất mạnh và uy lực dù chậm.

Các đơn vị quân trang bị tương tự Cataphract[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đầu tiên phải kể đến sự xuất hiện của cách phân loại giữa Clibanarius và Cataphractius. Xem thêm Clibanarius.
  • Đội Equites Sagitarius Clibanarius là một dạng Cataphract bắn cung, bắt nguồn từ những đơn vị tương tự bên phía Sassanid.
Về sau thì các đơn vị này đều nằm chung nhóm với Cataphract, vì đơn giản là Clibanarius và Cataphractius nhiều khi dùng lẫn lộn nhau, và nhiều Cataphractius và Clibanarius cũng chuyên nghề bắn cung.
  • Trong một tài liệu quân sự thế kỷ V ở La Mã có đề cập đến một đơn vị chiến xa được bọc giáp toàn bộ như Cataphract, nhưng không biết có dùng trong thực tế hay không.
  • Lạc đà được dùng khá phổ biến ở Bắc Phi và Cận Đông, trong cả dân sự lẫn quân sự vì vậy nhanh chóng ra đời Cataphract cưỡi lạc đà (về sau Byzantine cũng áp dụng "chiêu" này). Điểm mạnh của Cataphract lạc đà là mùi của lạc đà khiến ngựa sợ hãi, và lạc đà rất phù hợp khi sử dụng trong các hoang mạc khô nóng, còn điểm yếu của nó chính là tốc độ, thứ nữa là chân lạc đà không được bảo vệ bằng móng guốc như ngựa.
  • Bắc Phi và Cận Đông cũng là nơi Cataphract cưỡi voi cũng xuất hiện. Quốc gia xài Cataphract voi nhiều nhất là đế chế Seleucid. Bọn voi được bọc giáp toàn thân, mắt được tô đỏ tăng phần dữ tợn.

Cataphract ở Viễn Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Học giả đầu tiên sử dụng cụm từ "Cataphract" cho kị binh hạng nặng Trung Quốc là Chris Peers, tác giả của series Osprey về quân đội Trung Quốc. Cách sử dụng này hoàn toàn tự do, bộc phát chứ không mang tính phân loại khoa học. Quả thật khá khó khăn để chỉ ra đâu thật sự là Cataphract, vì cụm từ này chính nó cũng được sử dụng rất mờ ảo. Cụm từ thường được dịch ra "Cataphract" trong các văn bản cổ Trung Quốc là Kaima - Khải Mã (鎧馬) hay Tieqi-Thiết Kị (鐵騎).

Có lẽ Cataphract được dùng lần đầu trong thời Tam Quốc bên Trung Hoa. Tuy nhiên, nguồn tài liệu sớm nhất mà ta có thể xác định được sự xuất hiện lần đầu tiên của Cataphract là năm 312, trong cuốn Tấn Thư, phần tiểu sử của Thạch Lặc. Sau khi đánh bại được tộc Đoàn Tiên Ti (Duan Xianbei), vị tướng này đã lấy được 5000 giáp ngựa. Cũng theo nguồn này thì năm 316, Thạch Lặc lại thu gom được thêm 10.000 giáp nữa khi ông thắng tộc người Tuoba Xianbei (Thác Bạt Tiên Ti), những nhà sáng lập của vương triều Bắc Ngụy.

Cataphract được sử dụng rộng rãi dưới triều Bắc Nguỵ, và dần dần Nam triều cũng phát triển lực lượng này. Sự phát triển trở nên phổ cập tới múc đây là hình mẫu cho quân đội Bắc Trung Quốc trong suốt thời kì này, bằng chứng là có rất nhiều tượng gốm mang hình kị binh hạng nặng được phát hiện trong các lăng mộ triều Bắc Nguỵ, Đông NguỵBắc Chu (Châu). Đối với Nam Triều, do không thể tiếp cận trực tiếp với thảo nguyên như thời Hán nên kị binh nói chung và Cataphract nói riêng chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong quân đội. Thật vậy, ngựa được vận chuyển từ Cam Túc qua Tứ Xuyên trong thời kì hoà hoãn giữa miền Nam và miền Bắc. Nhưng con đường rất trắc trở và nguy hiểm, cũng như phí vận chuyển khá cao nên kị binh Nam Triều tỏ ra yếu thế hơn Bắc Triều là vì vậy.

Ngoài giáp ngựa ra, áo giáp người cưỡi ngựa cũng là điểm đáng chú ý. Tựu trung, có 2 loại giáp cho kị binh: Minh Quang Giáp (Mingguang Jia) và Lưỡng Đương Giáp (Liangdiang Jia). Loại đầu có lẽ chỉ được sử dụng bởi sĩ quan cấp cao. Cả hai cũng được sử dụng bởi bộ binh Bắc Triều. Một đặc điểm nữa đáng chú ý là Cataphract Trung Hoa hay có một nhúm lông dài (plume) về phía sau yên ngựa. Một số học giả cho rằng đây có thể dùng làm tín hiệu liên lạc giữa các đội kị binh với nhau. Thuyết này chủ yếu dựa vào phần mô tả trận đánh sông Phì nổi tiếng trong Tấn Thư. Nhưng một số học giả khác lại chỉ nghĩ nó dùng để...trang trí mà thôi.

Sự phát triển của kị binh hạng nặng thời kì này khiến cho việc sử dụng nỏ trở nên ít hơn so với thời Hán.

Cũng cần nhấn mạnh là theo khá nhiều sử gia, đặc biệt là Albert Dien, thì sự phát triển Cataphract tại Trung Quốc là hoàn toàn độc lập, ít nhất là cho đến nay chưa có bằng chứng gì về sự liên hệ giữa Trung Quốc và các vùng có truyền thống về chủng loại kị binh này.

Cataphract vẫn tiếp tục phát triển dưới thời Tùy và không còn trở nên thông dụng nữa vào thời Đường (thời kì này kị binh Trung Quốc trở về chiến thuật hạng nhẹ, sử dụng tính cơ động cao để đối pho với các đạo quân bộ binh nặng nề từ Đế chế Tubo (Tây Tạng)). Tuy vậy, một hình thức khác của Cataphract lại xuất hiện vào thời Tống để đối phó lực lượng kị binh hạng nặng từ nước Liêu, nước Kim và sau cùng là Mông Cổ. Tuy vậy, kị binh thời Tống trở nên khan hiếm hơn nhiều so với thời Đường vì Trung Quốc không còn kiểm soát vùng Trung Á, do vậy mà tình hình Nam Tống trở nên tương tự như thời kì Nam triều, quân đội chủ yếu dựa vào bộ binh.

Một số quốc gia Viễn Đông khác cũng áp dụng Cataphract như Tây Tạng và Triều Tiên. Cataphract xuất hiện ở Triều Tiên vào thời Tam Quốc Triều Tiên. Đội kỵ binh áo giáp trong phim Truyền thuyết Jumong cũng có những trang bị như Cataphract. Trong phim Hải thần thì cũng có xuất hiện những bức vẽ của các kỵ binh dạng Cataphract. Trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng không dưới 1 lần nhắc đến loại kỵ binh hạng nặng này trong quân đội Trung Hưng nhà Lê. Trịnh Tùng từng sử dụng 400 quân thiết kỵ làm trợ chiến để đẩy lùi cuộc xâm lấn của quân Bắc triều. Năm 1592 ông huy động tới 5000 kỵ binh nặng, trang bị giáp sắt cho cả ngựa để vây hãm Đông Kinh của nhà Mạc.

Buổi hoàng hôn của Cataphract[sửa | sửa mã nguồn]

Cataphract và các hiệp sĩ Tây Âu là hai đơn vị kỵ binh nặng nổi tiếng ở châu Âu Trung đại, đại diện cho hai trường phái kỵ binh khác nhau ở Đông ÂuTây Âu. So với đồng sự Tây Âu, Cataphract rõ ràng có truyền thống lâu đời hơn rất nhiều và từng một thời gian dài chiếm ưu thế, nhưng trong khi các hiệp sĩ vẫn tồn tại trên chiến trường đến tận đầu thời Cận đại thì Cataphract không được may mắn như thế. Vì Cataphract điển hình thuộc về các quốc gia vùng Cận Đông và Đông, Nam Âu, đặc biệt là đế quốc Byzantine, nên thì "cái chết" của Cataphract ở Byzantine và các quốc gia khác trong khu vực cũng là cái mốc điển hình đánh dấu sự khai tử của Cataphract.

Cụ thể khoảng năm nào thì Cataphract "từ giã cuộc sống" ở châu Âu ? Không rõ. Thật ra rất khó xác định rõ thời điểm này. Theo các sử liệu còn sót lại thì trận đánh cuối cùng của Cataphract Byzantine diễn ra vào năm 970 và tài liệu gần đây nhất về nó là một bản ghi nhận về một đơn vị Cataphract đồn trú vào năm 1001, sau đó hoàn toàn bặt tăm. Chỉ biết rằng, Cataphract Byzantine bắt đầu xuống dốc vào cuối thế kỷ thứ 11, cùng lúc với sự suy sụp của vương triều Macedonia của Byzantine. Lúc này, trước sức tấn công mãnh liệt của người Đột Quyết (Turks), gần như toàn bộ lãnh thổ Byzantine ở vùng Tiểu Á đã bị mất trắng. Điều này đồng nghĩa với việc đế quốc bị mất đi những nguồn cung ứng quan trọng về vật tư và trang bị cho những đội Cataphract đắt tiền (nhất là nguồn cung cấp các giống ngựa tốt ở vùng Anatolia). Có thể Cataphract đã có một sự phục hồi nhất định trong thời kỳ thịnh đạt của vương triều Komnenos (1081-1180)[2], nhưng rõ ràng nó đã bị các loại kỵ binh khác lấn át và không còn giữ vai trò trọng yếu như trước đây. Với lại, các đơn vị kỵ binh nặng của Byzantine lúc này chủ yếu là các Latinkon (hay Latinikoi), tức những lính đánh thuê từ phương Tây có phong cách chiến đấu theo kiểu Tây Âu. Hoàng đế Manuel I Komnenos (1148-1180) đã trang bị cho các đơn vị kỵ binh tinh nhuệ theo chuẩn của các hiệp sĩ Tây Âu chứ không theo truyền thống Cataphract nữa.

Thêm vào đó, các binh sĩ Trung đại cũng dễ nhận thấy rằng các loại giáp trụ kiểu lưới và vảy cá truyền thống vừa khó mặc lại vừa khó chống đỡ trước sức tấn công của các vũ khí như rìu chiến, nỏ, chùy hay kiếm song thủ. Sự ra đời và phát triển của các loại súng ở Tây Âu từ thế kỷ 13 lại càng cho thấy rằng các loại giáp trụ dạng lưới và vảy cá cũ cần được thay thế bằng các giáp trụ dạng tấm chắc chắn hơn rất nhiều. Hơn nữa, tay nghề của các thợ rèn về cuối thời Trung cổ đã rất cao, họ có thể chế tạo các bộ giáp trụ dạng tấm rất chắc chắn, bọc kín toàn thân như các cataphract, nhưng lại không gây bất cứ khó khăn nào đáng kể cho việc cử động của người mặc. Và việc mặc các bộ giáp trụ dạng tấm trông gọn gàng, oai phong và khỏe khoắn hơn nhiều so với bộ kataphraktos lùng nhùng. Hệ quả là đến thế kỷ thứ 15, các quốc gia Tây Âu lẫn các quốc gia Đông Âu như Bulgaria, Serbia, các công quốc Nga đua nhau trang bị cho quân đội của mình theo kiểu Tây phương. Còn Byzantine, do các khó khăn bên ngoài vẫn bên trong, vẫn cứ giữ các đơn vị Cataphract và các chiến thuật quân sự đã càng lúc càng tỏ ra lạc hậu. Và, như đã nói, mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi, nhưng có lẽ ngày thành Constantinople mất vào tay quân Thổ (29-5-1453) được tạm xem là "ngày giỗ" của Cataphract khi quốc gia cuối cùng ở châu Âu dùng nó bị diệt vong.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trên phim ảnh và trò chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong xêri game Rome: Total War, Cataphract là đơn vị kỵ binh là mạnh nhất game. Ở bản gốc, Cataphract được đào tạo bởi phe Parthia, phe Armenia. Phe Pontus cũng có một đơn vị gần giống là Capcadocian Cavalry. Ở bản mở rộng Barbarian Invansion, đế quốc Sassanid sở hữu các đơn vị Clibanarius và Cataphractius mạnh nhất, tiếp đó là đế quốc Đông La Mã. Cataphract được đánh giá là có sức tấn công yếu nhưng phòng thủ cực mạnh và có chỉ số "đột kích" (charging) rất cao.

Trong xêri Medieval: Total War, Byzantine, Nga và các quốc gia Hồi Giáo có thể đào tạo được các đội Catapharct hoặc các đơn vị kỵ binh có trang bị và chiến thuật gần giống. Cataphract lần này có các chỉ số công thủ cao hơn hẳn các kỵ binh nặng Tây Âu, nhưng charging hơi thấp. Điều đáng tiếc là Kataphractoi của Byzantine chỉ có sức mạnh trung bình khá.

Trong phim Truyền thuyết Jumong, đội kỵ binh áo giáp của nhà Hán cũng có những trang bị như Cataphract. Trong phim Hải thần thì cũng có xuất hiện những bức vẽ của các kỵ binh dạng Cataphract.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mielczarek, Mariusz (1993) Cataphracti and Clibanarii. Studies on the Heavy Armoured Cavalry of the Ancient World, p. 14
  2. ^ theo J. Birkenmeier trong "The development of the Komnenian army: 1081-1180"