Nhà Liêu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại Liêu
Thủ đô Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ
Quân chủ
 -Q/c khai quốc
 -Q/c diệt vong
9 vị
Da Luật A Bảo Cơ
Da Luật Diên Hy
Thành lập 916
Da Luật A Bảo Cơ kiến quốc Khiết Đan
Diệt vong 1125
Thiên Tộ Đế bị binh Kim bắt
Cương vực triều Liêu
 Cương vực triều Liêu năm 1111.

Nhà Liêu hay triều Liêu (Trung văn giản thể: 辽朝; Trung văn phồn thể: 遼朝; bính âm: Liáo Cháo; Hán-Việt: Liêu triều 907/916-1125), còn gọi là Khiết Đan Quốc (契丹國, đại tự Khiết Đan: 契丹國.png)[chú 1] là một triều đại phong kiến do người Khiết Đan kiến lập trong lịch sử Trung Quốc, vận nước kéo dài từ năm 907 đến năm 1218, dài 331 năm, đối kháng kéo dài với triều Tống ở phía nam.

Ngày 27 tháng 2 năm 907, thủ lĩnh tộc Khiết Đan là Da Luật A Bảo Cơ xưng là "Thiên hoàng đế", đến ngày 17 tháng 3 năm 916 thì Da Luật A Bảo Cơ đăng cơ, xưng là "Đại Thánh Đại Minh Thiên hoàng đế", quốc hiệu là "Khiết Đan". Năm 918, Da Luật A Bảo Cơ định đô tại Lâm Hoàng phủ (nay là Nam Ba La thành, Ba Lâm Tả, Xích Phong, Nội Mông). Năm 936, Da Luật Đức Quang nam hạ Trung Nguyên, diệt triều Hậu Tấn, sau đó cải quốc hiệu thành "Đại Liêu",[chú 2] năm 983 thời Liêu Thánh Tông thì cải thành "Khiết Đan", năm 1066 thời Liêu Đạo Tông thì cải thành "Đại Liêu",[2]:225 đến 25 tháng 3 năm 1125 thì bị Kim tiêu diệt. Sau khi triều Liêu diệt vong, Da Luật Đại Thạch suất dư chúng dời về phía tây, đến lưu vực sông ChuyTrung Á, lập ra Tây Liêu vào năm 1132. Năm 1211, Tây Liêu bị Khuất Xuất Luật soán vị, cuối cùng bị đế quốc Mông Cổ tiêu diệt vào năm 1218.

Quan điểm rộng rãi nhất trong giới sử học cho rằng từ "Khiết Đan" có ý chỉ sắt tinh luyện hoặc đao kiếm[chú 3] Và sau này cải quốc hiệu thành "Liêu" thì cũng là có ý là sắt, đồng thời "Liêu" cũng là tên vùng đất phát tường của người Khiết Đan- lưu vực Liêu Thủy. Người Khiết Đan và chính quyền Trung Nguyên ở phương nam trường kỳ đối kháng, họ tự gọi mình là "Bắc triều", và gọi triều đại Trung Nguyên là "Nam triều".[3]

Thời toàn thịnh, triều Liêu có cương vực đến biển Nhật Bản ở phía đông, tây đến dãy núi Altay, bắc đến khu vực sông Argun-Đại Hưng An lĩnh, nam đến sông Bạch Câu ở nam bộ tỉnh Hà Bắc. Tộc Khiết Đan vốn là một dân tộc du mục, hoàng đế Liêu khiến cho nông-mục nghiệp cùng phát triển phồn vinh, lập ra thể chế quản lý độc đáo và tương đối hoàn chỉnh. Triều Liêu đặt trọng tâm vào vùng đất phát tường dân tộc Khiết Đan, thống trị riêng rẽ dân tộc du mục và dân tộc nông nghiệp để bảo tồn đặc tính dân tộc, chủ trương dựa theo tập quán mà cai trị, khai sáng ra thể chế chính trị lưỡng viện chế. Đồng thời, người Khiết Đan cũng tạo ra văn tự Khiết Đan, bảo tồn văn hóa của mình. Ngoài ra, Liêu cũng tiếp thu văn hóa từ Bột Hải, Ngũ Đại, Bắc Tống, Tây Hạ và các nước Tây Vực, có hiệu quả trong việc xúc tiến các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa phát triển. Lực lượng quân sự và tầm ảnh hưởng của Liêu bao trùm cả khu vực Tây Vực, vì vậy sau khi triều Đường diệt vong, các nước Trung Á, Tây Á, và Đông Âu xem triều Liêu (Khiết Đan) là danh xưng đại diện cho Trung Quốc.[4]:3

Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
  Đông Tấn 317–420
Thập Lục Quốc
304–439
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay
Một phần của loạt bài về
Lịch sử Mông Cổ
Quốc huy Mông Cổ
Thời kỳ tiền Mông Cổ
Hung Nô 209 TCN–155
Tiên Ti 93–234
Nhu Nhiên 330–555
Hãn quốc Đột Quyết 552–744
Hồi Cốt 742–848
Kiên Côn 539–1219
Khiết Đan 916–1125
Thời kỳ trung đại
Mông Ngột Quốc 1120–1206
Đế quốc Mông Cổ 1206–1271
Nguyên 1271–1368
Bắc Nguyên 1368–1636
Thanh trị 1636/1691–1911
Thời hiện đại
Cách mạng Dân tộc 1911
Hãn quốc Bác Khắc Đa 1911–1924
Chiếm đóng 1919–1921
Cách mạng Nhân dân 1921
Cộng hòa Nhân dân 1924–1992
Cách mạng Dân chủ 1990
Mông Cổ hiện đại 1990–nay
Portal icon

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quật khởi và kiến quốc[sửa | sửa mã nguồn]

"Kị xạ đồ" của Lý Tán Hoa (Da Luật Bội).

Người Khiết Đan vốn là hậu duệ của người Tiên Ti, xuất hiện từ thời Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế, đương thời tụ cư ở khu vực thượng du Liêu Thủy, tự xưng là hậu duệ của thanh ngưu bạch mã.[5]:378[6] Năm Trinh Quán thứ 22 (648) thời Đường Thái Tông, triều Đường đặt ra Tùng Mạc đô đốc phủ ở vùng đất người Khiết Đan cư trú, tù trưởng nhậm chức đô đốc đồng thời được ban cho họ Lý, đến năm Hiển Khánh thứ 5 (660) thời Đường Cao Tông thì người Khiết Đan nổi dậy tự lập, thoát ly quan hệ với triều Đường.[4] Da Luật A Bảo Cơ sinh năm 872, là con trai của tù trưởng Điệt Lạt bộ. Đương thời, Điệt Lạt là bộ lạc lớn nhất và mạnh nhất trong số tám bộ lạc Khiết Đan liên minh; tuy nhiên, ngôi vị đại hãn nằm trong tay Diêu Liễn thị. Năm 901, A Bảo Cơ được hội đồng bộ lạc bầu làm tù trưởng Điệt Lạt bộ. Năm 903, A Bảo Cơ trở thành lãnh đạo quân sự của toàn thể người Khiết Đan, chỉ dưới quyền Đại hãn. Năm 905, Da Luật A Bảo Cơ kết nghĩa huynh đệ với Tấn vương Lý Khắc Dụng- một trong các quân phiệt chính thời vãn Đường. Da Luật A Bảo Cơ sau đó thay thế Ngân Đức Cận khả hãn, kết thúc chín đời Diêu Liễn thị nắm giữ ngôi vị khả hãn, trở thành khả hãn vào năm 907. Cùng năm A Bảo Cơ trở thành đại hãn, tại Trung Nguyên, quân phiệt Chu Ôn soán Đường và tuyên bố là Hoàng đế, mở ra thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc đầy biến động. Da Luật A Bảo Cơ trước sau trấn áp các quý tộc Khiết Đan làm loạn, chinh phục các bộ lạc Hề, Thất Vi, Hiệt Kiết Tư, Trở Bốc; đồng thời khống chế khu sản xuất muối ở Mông Cổ; trên phương diện kinh tế và quân sự đều rất cường thịnh.[7]:44

Bản đồ giai đoạn nhà Hậu Lương (907-923)

   Bột Hải Quốc (渤海國)

   Yên (燕)

   Tấn (晉), tiền thân của nhà Hậu Đường

   Triệu (趙)

   Kỳ (岐)

   Nhà Hậu Lương (後梁)

Trong phần lớn lịch sử Trung Quốc, ngôi vị hoàng đế được truyền theo chế độ thế tập; tức được truyền từ cha cho con trai cả khi người cha qua đời. Trong khi đó, mặc dù người Khiết Đan cũng kế vị dựa trên quan hệ gia đình, song yếu tố quan trọng là khả năng của người đó, toàn bộ các huynh đệ và cháu trai cũng như con trai của vị thủ lĩnh trước đều có thể kế vị hợp lệ. Những thủ lĩnh Khiết Đan chắc rằng sẽ bàn giao quyền lực cho một người họ nội sau nhiệm kỳ ba năm.[8] Từ năm 907 đến năm 910 quyền lực của A Bảo Cơ không bị thách thức. Tuy nhiên, sau năm 910, khi A Bảo Cơ bỏ qua truyền thống Khiết Đan là cần giao lại ngôi vị đại hãn cho một thành viên khác trong gia tộc, quyền cai trị của ông bị thách thức trực tiếp, Trong cả năm 912 và 913, các thành viên trong gia tộc của A Bảo Cơ, bao gồm hầu hết các em trai của ông, cố gắng tiến hành nổi dậy vũ trang. Sau khi cuộc nổi dậy đầu tiên bị phát giác và đánh bại, A Bảo Cơ tha thứ cho những người chủ mưu. Sau lần thứ hai, chỉ có các em trai của ông được tha, những người chủ mưu khác bị xử tử. Các em của ông tiếp tục âm mưu làm phản vào các năm 917 và 918, song đều dễ dàng bị đè bẹp.[9] Ngày 17 tháng 3 năm 916, Da Luật A Bảo Cơ kiến lập Khiết Đan Quốc, tức Liêu Thái Tổ. A Bảo Cơ tiến hành một số thay đổi để khiến quốc gia Khiết Đan tiến gần hơn đến mô hình quản lý nhà nước của các triều đại Trung Hoa. Ông xưng là Hoàng đế và đặt ra niên hiệu, xác định con trưởng là Da Luật Bội làm người kế vị, ủy quyền xây dựng miếu thờ Khổng Tử. Hai năm sau, Da Luật A Bảo Cơ thành lập thủ đô Thượng Kinh, dựa theo mô hình thủ đô Trung Hoa.[10]

Liêu Thái Tổ cưỡng đoạt nhân khẩu ở Trung Nguyên, thu nạp các lưu dân Hà Bắc chạy chiến loạn, cho xây thành theo phong cách Trung Nguyên để an trí họ. Đồng thời, Liêu Thái Tổ cũng bổ nhiệm sử dụng những người Hán như Hàn Diên Huy, Hàn Trí Cổ, Khang Mặc KýLô Văn Tiến. Năm 918, Liêu Thái Tổ cho xây hoàng đô Lâm Hoàng phủ, nay thuộc Ba Lâm Tả của Nội Mông. Hai năm sau, Liêu Thái Tổ lại sáng kiến ra đại tự Khiết Đan đồng thời thúc đẩy việc sử dụng.[4] Trên phương diện quân sự, Liêu Thái Tổ vào năm 925 đông chinh Bột Hải Quốc, trên lãnh thổ cũ của nước này lập ra Đông Đan Quốc để thống trị dân Bột Hải, lập Hoàng thái tử Da Luật Bội làm Đông Đan hoàng vương. Liêu Thái Tổ luôn có ý đồ nam hạ Trung Nguyên,[11]

Liêu Thái Tông kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 916, Da Luật A Bảo Cơ chính thức chỉ định Da Luật Bội làm người kế vị.[12] Kế vị theo hình thức thế tập là tiêu chuẩn có từ lâu trong văn hóa Hán, song không được người Khiết Đan chấp thuận, gây ra xích mích giữa mong muốn của Da Luật A Bảo Cơ và sự tin tưởng của thượng tầng Khiết Đan, trong đó có Hoàng hậu Thuật Luật Bình. Da Luật A Bảo Cơ cảm nhận được khả năng quá trình kế vị có thể rơi vào khó khăn, do vậy ông buộc các thủ lĩnh Khiết Đan phải thề trung thành với Da Luật Bội sau khi ông bổ nhiệm người con này là người kế vị. Đối với người Khiết Đan, điều này được xem là một động thái mang tính cấp tiến.[13] Xích mích giữa kế vị theo thế tập hay chọn ứng cử viên mạnh nhất dẫn đến các cuộc khủng hoảng kế vị lặp đi lặp lại trong hoàng tộc Da Luật, lần đầu tiên diễn ra sau cái chết đột ngột và bất ngờ của Da Luật A Bảo Cơ vào năm 926.[14]

Da Luật Bội khi đó 26 tuổi, ông là một nhà thông thái, do vậy mang nhiều nét của giới quý tộc Trung Hoa; ông là một chuyên gia về âm nhạc, y học, bói toán, hội họa và văn chương (bằng cả tiếng Hán và Khiết Đan).[15] Ông cũng là một quân nhân có đầy đủ tài năng, lãnh đạo binh sĩ Khiết Đan chiến đấu trong chiến dịch tiêu diệt Bột Hải. Sau khi chiến dịch kết thúc với thắng lợi của Liêu vào năm 926, Da Luật A Bảo Cơ ban cho Da Luật Bội quyền quản lý lãnh thổ vừa chinh phục được, lãnh thổ này trở thành Đông Đan Quốc, còn Da Luật Bội trở thành Đông Đan hoàng vương.[16]

Hoàng hậu Thuật Luật Bình là một nhân vật mạnh mẽ khác thường. Thuật Luật Bình từng chỉ huy một đội quân gồm 20 vạn kị binh làm nhiệm vụ duy trì trật tự trong lúc Da Luật A Bảo Cơ tiến hành chiến dịch quân sự ở bên ngoài. Bà cũng từng tự mình lãnh đạo chiến dịch quân sự. Sau khi phu quân qua đời, Hoàng hậu từ chối tuẫn táng cùng ông theo phong tục truyền thống của Khiết Đan, và chọn cách chặt đứt bàn tay phải để chôn theo ông.[17] Thuật Luật Bình sau đó nắm giữ quyền lực về quân sự và dân sự, và có thể giám sát việc kế vị hoàng vị theo điều kiện của bà.[15] Việc Hoàng hậu từ chối tử tử để tuẫn táng cùng phu quân khiến phong tục lâu đời này chấm dứt.[18]

Do Hoàng vương Da Luật Bội mang cả giá trị Hán và Khiết Đan, Hoàng hậu Thuật Luật Bình phản đối Da Luật Bội trở thành hoàng đế. Bà tin rằng sự cởi mở của Da Luật Bội với văn hóa Hán có thể làm suy giảm khả năng lãnh đạo của ông trong vai trò là một người Khiết Đan, thay vào đó bà ủng hộ người con trai thứ hai của Da Luật A Bảo Cơ, là người mang tính truyền thống hơn, đó là Da Luật Đức Quang, sự ủng hộ dành cho Da Luật Đức Quang còn đến từ giới quý tộc Khiết Đan. Nhận thấy rằng mình không thể kế vị hoàng vị, và sẽ nguy hiểm nếu cố gắng tiến hành, Da Luật Bột đành vận động cho em trai kế vị, và đến cuối năm 927, ông chính thức tuyên bố với Thuật Luật Bình rằng Da Luật Đức Quang có khả năng hơn, về mặt chức năng thì kết thúc khả năng ông có thể thách thức việc Da Luật Đức Quang đăng cơ.[19]

Mặc dù Da Luật Bội tự nguyện từ bỏ quyền kế vị hoàng vị, song Hoàng đế Da Luật Đức Quang vẫn xem anh trai là một mối đe dọa. Da Luật Bội vẫn giữ chức Đông Đan hoàng vương, và trở lại Đông Đan sau khi từ bỏ quyền kế vị hoàng vị. Để ngăn cản Da Luật Bội tạo lập quyền lực riêng tại Đông Đan, Da Luật Đức Quang hạ lệnh rằng thủ đô của Đông Đan và toàn bộ dân trong thành phải dời đến khu vực nay là Liêu Dương.[20] Bản thân Hoàng vương Da Luật Bội bị đặt dưới sự giám sát của Hoàng đế.[13] Năm 930, Hoàng vương Da Luật Bội chạy sang Hậu Đường, tại đây ông trở thành một khách quý của Hậu Đường Minh Tông Lý Tự Nguyên, thậm chí còn được vị Hoàng đế này ban cho họ Lý của hoàng tộc.[13]

Nam hạ Trung Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Hậu Đường Minh Tông qua đời vào năm 933, triều Hậu Đường bắt đầu sụp đổ vì cuộc khủng hoảng kế vị nội bộ. Con trai và người kế thừa của Hậu Đường Minh Tông là Lý Tòng Hậu chỉ trị vì được ba tháng rồi bị sát hại trong cuộc chính biến vào năm 934, thủ lĩnh chính biến là Lý Tự Nguyên trở thành hoàng đế, tức Hậu Đường Mạt Đế. Da Luật Bội là khách quý của triều đình Hậu Đường, ông viết thư cho Da Luật Đức Quang, khuyên em trai xâm lược Hậu Đường, song Da Luật Đức Quang không làm theo. Năm 936, Hà Đông tiết độ sứ Thạch Kính Đường của Hậu Đường tự xưng là "nhi hoàng đế", cắt nhượng Yên Vân thập lục châu làm điều kiện, thỉnh cầu Liêu Thái Tông chi viện tấn công Hậu Đường. Da Luật Đức Quang tự thân suất 5 vạn kị binh, đánh bại quân Hậu Đường ở Tấn Dương, Lạc Dương; cuối cùng hiệp trợ Thạch Kính Đường đánh diệt Hậu Đường, Thạch Kính Đường thành lập nhà Hậu Tấn. Để cai trị người Hán ở Yên Vân thập lục châu, Liêu Thái Tông lựa chọn phương thức "nhân tục nhi trị" (theo tập quán mà cai trị), tiến hành phân trị đối với người Khiết Đan và người Hán, thi hành lưỡng viện chế Nam diện quan và Bắc diện quan. Đồng thời, Liêu Thái Tông cũng đổi U châu thành Nam Kinh, Vân châu thành Tây Kinh.[4]:8 Yên Vân thập lục châu là lãnh thổ trải dài từ Đại Đồng (Sơn Tây) hiện nay đến bờ biển của Bột Hải ở phía đông Bắc Kinh hiện nay.[21] Do Yên Vân thập lục châu có nhiều cửa ải và thành chiến lược, người Khiết Đan nay có thể tiếp cận vùng bình nguyên ở Hoa Bắc.[22]

Mối quan hệ giữa Liêu và Hậu Tấn trở nên căng thẳng sau khi Thạch Kính Đường qua đời vào năm 942 và Thạch Trọng Quý kế vị, Thạch Trọng Quý chỉ thượng biểu xưng là "tôn" (cháu) thay vì xưng thần với Liêu Thái Tông. Quanh Thạch Trọng Quý là các quân sư chống Khiết Đan, và đến năm 943 thì Thạch Trọng Quý trục xuất sứ Khiết Đan khỏi kinh thành Khai Phong và tịch thu tài sản của các thương nhân Khiết Đan trong thành. Trong những năm cuối của mình, Da Luật Đức Quang tiến hành chiến dịch xâm lược Hậu Tấn, chiến dịch này phải mất đến ba năm và quân Khiết Đan phải đối mặt với nhiều trở ngại, đến cuối năm 946 thì tướng chỉ huy quân đội chống Khiết Đan của Hậu Tấn quyết định đầu hàng Da Luật Đức Quang, quân Khiết Đan có thể tiến vào Khai Phong vào ngày 10 tháng 1 năm 947 mà không gặp kháng cự.[23]

Tranh mô tả các thợ săn người Khiết Đan, được vẽ vào thời Tống

Tháng 2, Liêu Thái Tông cải quốc hiệu thành "Đại Liêu", triều Liêu chính thức thành lập. Mặc dù Liêu Thái Tông có ý muốn trường kỳ mưu hoạch phát triển Trung Nguyên, song vì binh sĩ Khiết Đan cướp đoạt tài vật của nhân dân, không để cho các tiết độ sứ trở về nơi trấn thủ, khiến nhân dân Trung Nguyên phản kháng. Tháng 4, Liêu Thái Tông buộc phải dẫn quân về bắc, bệnh mất tại Loan Thành ở Hà Bắc.[24]:236 Việc Liêu Thái Tông qua đời dẫn đến cuộc khủng hoảng kế vị thứ hai, một lần nữa chủ mưu là Ứng Thiên thái hậu Thuật Luật Bình và được thúc đẩy bằng cuộc xung đột giữa phong tục thế tập của người Hán và truyền thống kế vị Khiết Đan. Da Luật Nguyễn là con trai cả của Hoàng vương Da Luật Bội và là cháu trai của Liêu Thái Tông, ông xưng đế trong khi vẫn ở Hà Bắc. Da Luật Nguyễn tháp tùng Hoàng đế trong cuộc xâm lược Hậu Tấn, và thu được danh tiếng như là một chiến binh và chỉ huy có khả năng, một người có tính cách nhã nhặn và hào hiệp. Ứng Thiên thái hậu ủng hộ em trai của Liêu Thái Tông là Da Luật Lý Hồ. Thái hậu phái hai đội quân lần lượt đến đối mặt với Da Luật Nguyễn, song họ đều bị đánh bại. Da Luật Lý Hồ không được lòng giới quý tộc Khiết Đan, do vậy không thể thu được đủ sự ủng hộ để tiếp tục thách thức Da Luật Nguyễn, và sau một hòa ước do đại thần Da Luật Ốc Chất dàn xếp, Da Luật Nguyễn chính thức đảm nhiệm vai trò hoàng đế, tức Liêu Thế Tông. Liêu Thế Tông nhanh chóng đày Ứng Thiên thái hậu và Da Luật Lý Hồ khỏi kinh thành, kết thúc tham vọng chính trị của họ.[25]

Liêu Thế Tông bổ nhiệm sử dụng hiền thần Da Luật Ốc Chất, tiến hành một loạt cải cách, hợp nhất Nam diện quan và Bắc diện quan thời Liêu Thái Tông, thành lập Nam Bắc Xu mật viện, phế Nam Bắc đại vương. Về sau, Nam Bắc Xu mật viện hợp nhất thành một Xu mật viện. Cải cách của Liêu Thế Tông khiến triều Liêu chuyển từ hình thức liên minh bộ lạc sang thời đại trung ương tập quyền. Trong thời gian Liêu Thế Tông tại vị, ông vẫn giữ kỳ vọng chiếm lĩnh Trung Nguyên, nhiều lần dụng binh đối với chính quyền Trung Nguyên. Tuy nhiên, Liêu Thế Tông lại là người hiếu tửu sắc, yêu thích săn bắn. Những năm cuối, Liêu Thế Tông dùng gian nịnh thần, giảm phong thưởng, khiến triều đình không được chỉnh trị, chính trị hủ bại. Tháng chín năm 951, Liêu Thế Tông hiệp trợ Bắc Hán tấn công Hậu Chu, lúc hành quân đến Tường Cổ Sơn ở Quy Hóa (nay thuộc Hô Hòa Hạo Đặc), bộ binh Liêu vẫn chưa đến nơi, nên trước tiên ông đóng quân tại Hỏa Thần Điến (nay ở phía tây Tuyên Hóa, Trương Gia Khẩu). Trong thời gian này, ông uống rượu, đánh người, săn bắn khiến cho nhiều người bất mãn, cuối cùng bị Da Luật Sát Cát giết chết trong lúc đang mơ màng.[4]:8

Suy thoái và ổn định[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 951, Da Luật Sát Cát giết Liêu Thế Tông, đồng thời tự tiến hành xưng đế. Con cả của Liêu Thái Tông là Da Luật Cảnh cùng với Da Luật Ốc Chất suất quân giết chết Da Luật Sát Cát, sau đó Da Luật Cảnh được lập làm hoàng đế, tức Liêu Mục Tông, là hoàng đế Liêu thứ hai và cuối cùng không phải là hậu duệ trực tiếp của Da Luật Bội. Liêu Mục Tông tuy không thích nữ sắc, song lại hay uống rượu, đến sáng mới ngủ, trưa mới tỉnh dậy, nên thường không lo triều chính, quốc nhân gọi là "thụy vương" (tức vua ngủ). Vào tiền kỳ thời Liêu Mục Tông, nội bộ triều đình không ổn định, trong lòng bất đồng, phát sinh các sự kiện làm loạn hoặc chạy đến Trung Nguyên: tháng 6 năm 952, Tiêu Mi Cổ Đắc muốn phản Liêu chạy sang Hậu Chu, việc bại lộ nên bị giết. Tháng 7, Chính sự lệnh Da Luật Lâu Quốc và Lâm nha Da Luật Địch Liệt âm mưu làm loạn, bị tróc nã, rồi bị xử tử. Tháng 10 năm 953, con của Da Luật Lý Hồ là Da Luật Uyển và những người khác mưu phản, sau khi bại lộ thì bị tróc nã. Tháng 7 năm 960, Chính sự lệnh Da Luật Thọ Viễn và Thái bảo Sở A Bất mưu phản, việc thất bại và bị xử tử. Sang tháng 10, con của Da Luật Lý Hồ là Da Luật Hi Ẩn mưu phản, việc thất bại nên bị tróc nã, do khai rằng sự việc của liên hệ với Da Luật Lý Hồ nên Da Luật Lý Hồ bị giam vào ngục đến chết.[26]

Mặt nạ bồi táng thời Liêu

Do cục thế chính trị có nhiều biến động, Liêu Mục Tông buộc phải đình chỉ chính sách nam phạt Trung Nguyên của Thái Tông và Thế Tông, nhằm khôi phục quốc lực bị tổn hại do chiến sự trường kỳ; liên hiệp với Nam Đường, Bắc Hán đối kháng với Hậu Chu đang dần cường thịnh. Năm 959, Hậu Chu phát động Bắc phạt, Ninh châu thứ sử Vương Hồng của Liêu dâng thành đầu hàng. Quân Hậu Chu sau đó đánh chiếm Ích Luật quan, Ngõa Kiều quan, Mạc châu, Doanh châu thứ sử Lưu Sở Tín, Cao Ngạn Huy cũng dâng thành đầu hàng. Đương thời, Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh muốn nhân lúc sĩ khí đang lên mà tiến thẳng đến U châu, Liêu Mục Tông thậm chí còn có ý định từ bỏ Yên Vân thập lục châu.[27] Cuối cùng, Hậu Chu Thế Tông bị bệnh nặng nên trở về nam, Mạc châu và Doanh châu trở thành lãnh thổ Hậu Chu, quân Liêu tăng cường phòng ngự, không giám nam hạ. Bản thân Liêu Mục Tông là người hiếu sát, thường tự tay giết người. Đồng thời, ông yêu thích săn bắn đến nỗi "cả tháng không lâm triều", đến tháng 2 năm 969 thì bị người hầu sát hại. Con của Liêu Thế Tông là Da Luật Hiền được tôn làm hoàng đế, tức Liêu Cảnh Tông, cải niên hiệu thành "Bảo Ninh".[26]

Liêu Cảnh Tông cần mẫn xử lý chính sự, trọng dụng hiền thần như Chất Phưởng hay Quách Tập, triều Liêu xuất hiện một giai đoạn tươi sáng. Để giải quyết tình trạng hoàng tộc mưu phản thời Liêu Mục Tông, Liêu Cảnh Tông chọn thi hành chính sách khoan hồng hơn, do vậy số người mưu loạn ít đi, thượng tầng tương đối ổn định. Về chính sách đối ngoại, Liêu Cảnh Tông chọn chính sách không chủ động nam hạ Trung Nguyên, chỉ viện trợ cho Bắc Hán. Vào tiền kỳ thời Liêu Cảnh Tông, triều Liêu và Bắc Tống trao đổi sứ thần qua lại, chúc mừng nhau vào dịp lễ tết. Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa sau khi thống nhất Giang Nam, đến năm 979 thì thân chinh Bắc Hán, triều Liêu phái mấy vạn binh chi viện Bắc Hán. Tháng ba, quân Liêu giao chiến với quân Tống tại Bạch Mã Lĩnh, kết quả quân Liêu bị đánh bại, tướng Liêu Da Luật Địch Liệt chiến tử. Tháng sáu, hoàng đế Bắc Hán là Lưu Kế Nguyên hàng Tống. Triều Liêu thay đổi chiến lược, đem lực lượng chủ yếu đến cố thủ U-Kế. Tống Thái Tông thừa thắng tiến công U châu, triều Liêu phái các danh tướng Da Luật Sa, Da Luật Hưu Ca, Da Luật Tà Chẩn suất quân, cùng quân Tống giao chiến tại Cao Lương Hà (nay ở bên ngoài Tây Trực Môn của Bắc Kinh), đánh bại được quân Tống, Tống Thái Tông chỉ có thể thoát thân. Do Liêu Cảnh Tông thân thể yếu đuối, nhiều bệnh, có khi không thể thượng triều, đại sự quốc gia phần lớn do Hoàng hậu Tiêu Xước hiệp trợ xử lý.[26]

Thánh Tông thịnh thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh mô tả một thị vệ Liêu, Bảo tàng Xích Phong, Nội Mông

Năm 982, Liêu Cảnh Tông bệnh mất, Liêu Thánh Tông Da Luật Long Tự kế vị, tôn Tiêu Xước làm hoàng thái hậu, Tiêu thái hậu nhiếp chính. Đương thời, Tiêu thái hậu 30 tuổi, còn Liêu Thánh Tông 12 tuổi, vì cha của Tiêu thái hậu là Tiêu Tử Ôn bị hại vào năm 970 và không có người kế tự nên khiến cho Tiêu thái hậu không có ngoại thích để dựa vào. Các vương tông thất ủng binh, khống chế triều đình, tạo thành mối đe dọa lớn đối với Thái hậu và Hoàng đế. Tiêu thái hậu trước tiên trọng dụng đại thần Da Luật Tà Chẩn, Hàn Đức Nhượng tham gia quyết định đại sự, quân sự ở mặt nam ủy thác cho Da Luật Hưu Ca, thay thế một loạt đại thần, đồng thời hạ lệnh cấm chư vương thiết yến chiêu đãi lẫn nhau, yêu cầu họ không có việc thì không ra khỏi cửa, đồng thời nỗ lực giải trừ binh quyền của họ. Sau các hành động này, địa vị của Liêu Thánh Tông và Tiêu thái hậu trở nên ổn định. Tiêu thái hậu nhiếp chính trong 27 năm, có tìn đồn rằng bà từng tái giá với Hàn Đức Nhượng. Trong thời gian chấp chính, Tiêu thái hậu tiến hành cải cách, tận lực phát triển quốc gia, chú trọng trồng trọt, xây dựng công trình thủy lợi, giảm thiểu thu thuế, chính đốn việc cai trị của quan lại, huấn luyện quân đội, khiến cho bách tính triều Liêu phồn vinh, thế nước cường thịnh. Năm 1009, sau khi Liêu Thánh Tông thân chính, triều Liêu đạt đến đỉnh cao của mình, về cơ bản tiếp tục phong mạo triều Liêu thời Tiêu thái hậu chấp chính, phản đối hình pháp nghiêm khắc, phòng chống việc tham ô. Trên khía cạnh văn hóa và giáo dục, Liêu Thánh Tông cho tiến hành chế độ khoa cử, biên tu kinh Phật, Phật giáo hết sức thịnh hành. Trong thời gian tại vị, Liêu Thái Tông tiến hành chinh chiến tứ phương, thường xuyên giành chiến thắng trước Tống, bắt được danh tướng Dương Nghiệp của Tống.[4]:9

Sau khi triều Tống lập quốc, liền có ý định thu phục Yên Vân thập lục châu, hai lần tiến hành bắc phạt vào các năm 979986, song đều bị quân Liêu đánh bại. Để giải quyết đối kháng trường kỳ giữa Liêu và Tống, Tiêu thái hậu và Liêu Thánh Tông vào năm 1004 suất đại quân thân chinh Tống. Tống Chân Tông sợ địch, muốn thiên đô về nam, song do Tể tướng Khấu Chuẩn kiên trì thuyết phục nên Hoàng đế Tống đích thân đến Thiền châu (nay ở Bộc Dương, Hà Nam) đốc chiến. Sĩ khí quân Tống tăng mạnh, đánh bại quân tiền phong của Liêu, tướng Liêu Tiêu Thát Lẫm chiến tử. Quân Liêu lo sợ, đề xuất hòa ước. Tống Chân Tông vào năm sau cùng với Liêu lập hòa ước, quy định mỗi năm Tống phải cống cho Liêu 10 vạn lạng bạc, 20 vạn thất lụa, hai bên giữ gìn cương giới, không quấy rối lẫn nhau, trở thành hai nước huynh đệ, tức Thiền Uyên chi minh, từ đó hai triều hòa hảo suốt trong 120 năm sau. Liêu Thánh Tông cũng kết hảo với Tây Hạ, song Tây Hạ lại dao động giữa Tống và Liêu để tồn tại, hình thành cục thế chân vạc ba nước Tống-Liêu-Hạ.[24]:237

Cao Ly quy phục[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Da Luật A Bảo Cơ chinh phục Bột Hải vào năm 926, hầu hết cư dân nước này bị tái định cư tại khu vực nay thuộc Liêu Ninh. Có ít nhất ba nhóm vẫn còn ở lại lãnh thổ cũ của Bột Hải, một trong số đó thành lập nên Định An Quốc. Mặc dù phát động hai cuộc xâm lược vào năm 975 và 985, Liêu vẫn không thể đánh bại Định An. Không thể trừ khử mối đe dọa, Liêu quyết định dựng nên ba pháo đài với quân đồn trú ở khu vực thung lũng sông Áp Lục.[28]

Tranh mô tả cảnh chuẩn bị săn bắn, khai quật trong mộ táng thời Liêu ở kỳ Ngao Hán, Nội Mông

Các hành động quân sự này diễn ra rất gần với lãnh thổ Cao Ly, cộng thêm Liêu từng dự tính xâm lược vào Cao Ly năm 947 (song hủy bỏ), cùng quan hệ ngoại giao và văn hóa bền chặt giữa Cao Ly và Tống, quan hệ Liêu-Cao Ly do vậy cực kỳ kém. Cả Liêu và Cao Ly đều nhìn nhận đối phương như một mối đe dọa quân sự; Liêu sợ rằng Cao Ly sẽ cố gắng kích động các cuộc nổi loạn trong số cư dân Bột Hải sống tại lãnh thổ Liêu, trong khi Cao Ly lo sợ bị Liêu xâm lược. Liêu xâm lược Cao Ly lần đầu vào năm 992, suất một đội quân mà các tướng lĩnh Liêu tuyên bố là có 80 vạn người, yêu cầu Cao Ly nhượng cho Liêu một số lãnh thổ quanh sông Áp Lục. Cao Ly kêu gọi đồng minh quân sự là Tống giúp đỡ, song không có sự hỗ trợ nào của Tống đối với Cao Ly. Liêu tiến quân vững chắc về phía nam, đến khu vực sông Thanh Xuyên, tại đây Liêu kêu gọi tiến hành các cuộc đàm phán giữa các lãnh đạo quân sự của hai bên. Liêu thoạt đầu yêu cầu Cao Ly đầu hàng hoàn toàn, Cao Ly Thoạt đầu cũng có vẻ như sẵn lòng tính đến chuyện này, song nhà đàm phán Cao Ly cuối cùng thuyết phục được phía Liêu chấp thuận một giải pháp mà theo đó Cao Ly trở thành nước chư hầu của Liêu.[29] Năm 994, trao đổi ngoại giao theo thường lệ giữa Liêu và Cao Ly được bắt đầu, còn mối quan hệ giữa Cao Ly và Tống không thể ấm lên.[30]

Hòa bình không kéo dài hai thập niên, đến năm 1009 thì tướng Cao Ly là Khang Triệu (康兆) sát hại Cao Ly Mục Tông Vương Tụng và đưa Vương Tuân lên ngôi nhằm làm nhiếp chính cho tiểu vương. Liêu ngay lập tức phái một đội quân gồm 40 vạn người sang Cao Ly để trừng phạt Khang Triệu, tuy nhiên sau một giai đoạn đầu giành được thắng lợi quân sự và các nỗ lực đàm phán hòa bình thất bại, Liêu và Cao Ly bước vào một thập niên chiến tranh liên tục. Năm 1018, Liêu phải đối mặt với thất bại quân sự lớn nhất trong lịch sử của mình, song đến năm 1019 thì họ đã sẵn sàng tập hợp đại quân để tiến sang Cao Ly. Vào lúc này, cả hai bên đều nhận thấy rằng họ không thể đánh bại đối phương về quân sự, do vậy vào năm 1020, Cao Ly Hiển Tông Vương Tuân tiếp tục triều cống cho Liêu, và vào năm 1022 thì Liêu chính thức công nhận tính hợp lệ của Cao Ly Hiển Tông. Cao Ly từ đó duy trì vị thế là chư hầu của Liêu, và quan hệ giữa hai bên trong trình trạng hòa bình cho đến khi Liêu diệt vong.[31]

Chân vạc ba nước[sửa | sửa mã nguồn]

Liêu và các nước xung quanh, năm 1111:

   Liêu

   Bắc Tống

   Tây Hạ

Năm 1031, Liêu Thánh Tông qua đời, con cả Da Luật Tông Chân kế vị, tức Liêu Hưng Tông. Mẹ đẻ của Liêu Hưng Tông là Tiêu Nậu Cân (tức Pháp Thiên thái hậu) tự lập làm hoàng thái hậu mặc dù có xuất thân cung nữ, đồng thời nhiếp chính và bức tử mẹ nuôi của Liêu Hưng Tông là Tề Thiên hoàng hậu Tiêu Bồ Tát Ca. Pháp Thiên thái hậu trọng dụng những tham quan ô lại từng bị phạt vĩnh viễn không được dùng dưới thời Liêu Thánh Tông, cũng như người thân của họ. Liêu Hưng Tông không có quyền lực nên không thể ngăn cản, mẫu tử do vậy kết oán. Pháp Thiên thái hậu không tín nhiệm Liêu Hưng Tông, có ý muốn cải lập thứ tử là Da Luật Trọng Nguyên làm hoàng đế, song Da Luật Trọng Nguyên lại tố cáo việc này cho Hưng Tông. Hưng Tông tức giận không thể nín nhịn được nữa, đến năm 1034 dùng vũ lực phế Pháp Thiên thái hậu, buộc Pháp Thiên thái hậu "tự thân trông nom Khánh lăng", đại sát thân tín của Thái hậu. Tháng 7, Liêu Hưng Tông thân chính, cho xây lăng viên an táng Tề Thiên hoàng hậu. Sau đó, Hưng Tông lại đón Pháp Thiên thái hậu về một phần vì những người ủng hộ bà vẫn nắm giữ các chức vụ quan trọng, song duy trì cự ly để đề phòng bất trắc, tình mẫu tử bị rạn nứt không thể hàn gắn.[7]:74

Trong thời gian Liêu Hưng Tông tại vị, triều Liêu ngày càng suy lạc, gian nịnh thần nắm quyền trong triều, chính trị hủ bại, bách tính khốn khổ, quân đội suy nhược. Phải đối mặt với tình trạng quốc thế ngày càng suy nhược, Liêu Hưng Tông chinh chiến liên niên, nhiều lần chinh phạt Tây Hạ; bức bách triều Tống giao nạp nhiều hơn. Tuy nhiên, những hành động này ngược lại khiến cho bách tính Liêu oán giận, nhân dân không thể duy trì sinh hoạt bình thường. Liêu Hưng Tông mê tín Phật giáo, hết sức xa xỉ. Liêu Hưng Tông đối với Da Luật Trọng Nguyên thì hết sức cảm kích, trong một lần say rượu từng hứa rằng sau khi trăm tuổi sẽ truyền vị cho Da Luật Trọng Nguyên. Hoàng tử Da Luật Hồng Cơ (sau là Liêu Đạo Tông) chưa từng được phong làm hoàng thái tử, chỉ được phong là Thiên hạ binh mã nguyên soái. Do vậy, sau khi Liêu Đạo Tông kế vị, phụ tử Da Luật Trọng Nguyên cố gắng mưu đoạt đế vị.[7]:75

Sau chiến tranh Tống-Hạ, Bắc Tống trong ngoài đều khó khăn, khiến triều Liêu thừa cơ xâm lược Tống. Sau khi trưng cầu ý kiến của Trương Kiệm, Liêu Hưng Tông một mặt phái Da Luật Trọng Nguyên và Tiêu Huệ tạo thanh thế muốn đánh Tống tại biên cảnh, một mặt phái Tiêu Đặc Mạt (tức Tiêu Anh) và Lưu Lục Phù vào tháng 1 năm 1042 đến triều Tống yêu cầu được nhượng 10 huyện ở phía nam Ngõa Kiều quan. Triều Tống phái Phú Bật đàm phán với sứ Liêu, kết quả là Trọng Hy tăng tệ. Hai bên đạt được thỏa thuận vào tháng 9, trên cơ sở Thiền Uyên chi minh, gia tăng số bạc thêm 10 vạn lạng, lụa thêm 10 vạn thất, nhằm giải quyết yêu sách về đất đai. Liêu Hưng Tông còn phái Da Luật Nhân Tiên và Lưu Lục Phù đi sứ sang Tống một lần nữa để tranh nghị về chữ "nạp", tức Tống nạp bạc lụa cho Liêu chứ không phải là tặng. Tống Nhân Tông chấp thuận, song đưa ra điều kiện là triều Liêu cần phải buộc Tây Hạ hòa đàm với Tống. Vì vậy, sau khi quan hệ Liêu Tống hòa hảo, quan hệ Liêu-Hạ lại xấu đi, phát sinh chiến tranh. Liêu Hưng Tông hai lần thân chinh Tây Hạ, song đều chịu thất bại, song Tây Hạ cuối cùng chấp thuận xưng thần và tiến cống cho Liêu.[7]:76

Đạo Tông trung suy và Nữ Chân uy hiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Quan Âm bằng gỗ của triều Liêu

Sau khi Liêu Đạo Tông kế vị, đến tháng bảy năm 1063 thì Da Luật Trọng Nguyên nghe theo lời của con trai mà phát động bạn loạn, tự lập làm hoàng đế, không lâu sau thì bị Liêu Đạo Tông bình định, Da Luật Trọng Nguyên tự tử. Trong thời gian Liêu Đạo Tông tại vị, chính trị của Liêu hủ bại, quốc thế dần suy lạc. Liêu Đạo Tông không tiến hành cải cách mới, bản thân lại thoái hóa xa xỉ, đương thời địa chủ và quan lại đẩy mạnh chiếm giữ đất đai, bách tính thống khổ không kham nổi, lời oán thán khắp nơi. Liêu Đạo Tông trọng dụng các gian nịnh thần như Da Luật Ất Tân, bản thân không lo chính sự, đồng thời tin theo sàm ngôn của Da Luật Ất Tân rằng Tướng Tín hoàng hậu Tiêu Quan Âm và linh quan Triệu Duy Nhất thông gian, ban chết cho Hoàng hậu. Da Luật Ất Tân phòng khi Thái tử đăng cơ sẽ bất lợi đối với bản thân, vì vậy cố gắng hãm hại Hoàng thái tử Da Luật Tuấn, sau đó lại sát hại. Tháng 7 năm 1079, Da Luật Ất Tân thừa cơ Liêu Đạo Tông đi săn bắn để mưu hại Hoàng tôn Da Luật Diên Hy, Liêu Đạo Tông tiếp thu lời khuyến gián của đại thần, mệnh Hoàng tôn đi săn bắn cùng, hóa giải âm mưu của Da Luật Ất Tân. Năm Đại Khang thứ 9 (1083), Liêu Đạo Tông truy phong cố thái tử là Chiêu Hoài thái tử, cải táng theo lễ thiên tử. Tháng 10 cùng năm, Da Luật Ất Tân trù tính mang theo vũ khí do bản thân tích trữ đến Tống tị nạn, sự việc bại lộ, Da Luật Ất Tân bị trừ khử. Tháng 1 năm 1101, Liêu Đạo Tông qua đời, Hoàng tôn Da Luật Diên Hy kế vị, tức Thiên Tộ Đế. Đương thời, Tây Hạ Sùng Tông Lý Càn Thuận do bị Tống tiến đánh nên một lần nữa lại cầu viện từ Liêu, đồng thời xin cưới công chúa của Liêu làm chính thất. Liêu Thiên Tộ Đế đến năm 1105 thăng người con gái trong hoàng tộc là Da Luật Nam Tiên làm công chúa, gả cho Tây Hạ Sùng Tông, đồng thời phái sứ giả sang Tống, khuyên Bắc Tống hòa đàm với Tây Hạ.[4]:10

Trong thời gian Liêu Đạo Tông trị vì, diễn ra một cuộc chiến tranh từ năm 1092 đến năm 1102 giữa Liêu và Trở Bốc. Người Trở Bốc sinh sống ở vùng biên giới tây bắc của Liêu và từng một vài lần giao chiến với Liêu khi Liêu cố gắng mở rộng lãnh thổ theo hướng đó. Năm 1092, Liêu tiến công một vài bộ lạc khác ở tây bắc, và đến năm 1093 thì Trở Bốc tiến công, đánh sâu vào lãnh thổ Liêu. Chiến tranh tiếp diễn cho đến năm 1100, khi Liêu bắt giữ và hành hình tù trưởng Trở Bốc là Ma Cổ Tư, và thêm hai năm nữa để đánh dẹp tàn dư Trở Bốc. Cuộc chiến chống Trở Bốc là chiến dịch quân sự thành công cuối cùng do Liêu tiến hành.[32]

Da Luật Diên Hy kế vị vào năm 1101, tức Liêu Thiên Tộ Đế. Ngày mười tháng hai năm 1112, Liêu Thiên Tộ Đế đến Xuân châu, triệu tập các tù trưởng Nữ Chân trong khu vực đến chầu. Trong yến tiệc, Liêu Thiên Tộ Đế say rượu rồi lệnh cho các vị tù trưởng khiêu vũ, chỉ có Hoàn Nhan A Cốt Đả từ chối. Liêu Thiên Tộ Đế không suy nghĩ về chuyện này, song từ đó quan hệ giữa Hoàn Nhan A Cốt Đả và triều Liêu trở nên bất hòa. Tháng 9, Hoàn Nhan A Cốt Đả không còn phụng chiếu, đồng thời bắt đầu dụng binh với các bộ lạc Nữ Chân không phục tùng. Mùa xuân năm 1114, Hoàn Nhan A Cốt Đả chính thức khởi binh phản Liêu. Liêu Thiên Tộ Đế thoạt đầu không xem Hoàn Nhan A Cốt Đả là một mối đe dọa nghiêm trọng, song các đội quân mà ông phái đi trấn áp Hoàn Nhan A Cốt Đả đều chiến bại. Năm 1115, để giải quyết uy hiếp từ tộc Nữ Chân, Liêu Thiên Tộ Đế hạ lệnh thân chinh, tuy nhiên quân Liêu bị quân Nữ Chân đánh bại ở khắp nơi, Hoàn Nhan A Cốt Đả cũng tự xưng là hoàng đế, kiến lập triều Kim, tức Kim Thái Tổ. Cùng năm, triều Liêu phát sinh nội loạn, Da Luật Chương Nô làm loạn tại Thượng Kinh của Liêu, mặc dù nhanh chóng bị bình định, song gây ra chia rẽ trong nội bộ Liêu. Sau đó, ở Đông Kinh (nguyên thuộc Bột Hải Quốc) cũng phát sinh sự kiện Cao Vĩnh Xương làm loạn tự lập, đến tháng tư năm 1116 mới bị bình định. Đến tháng 5, quân Kim lợi dụng đêm tối mà đánh chiếm Đông Kinh và Thẩm châu của Liêu. Năm 1117, quân Kim đánh Xuân châu, quân Liêu không chiến tự bại.[4]:11

Phân liệt và diệt vong[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thế đồ miêu tả việc Kim diệt Liêu và Bắc Tống

Năm 1120, quân Kim đánh chiếm Thượng Kinh của Liêu, tướng trấn thủ là Tiêu Thát Bất Dã đầu hàng, đến năm 1121 thì Liêu tổng cộng đã để mất một nửa lãnh thổ. Do vấn đề kế thừa hoàng vị, nội bộ Liêu lại phát sinh nội loạn, cuối cùng kết thúc với việc Liêu Thiên Tộ Đế giết con cả của mình là Da Luật Ngao Lỗ Oát, song chỉ khiến cho thêm nhiều binh sĩ Liêu đầu hàng triều Kim. Tháng một năm 1122, quân Kim đánh chiếm Trung Kinh của Liêu, Liêu Thiên Tộ Đế phải lưu vong đến Giáp Sơn.[4]:12

Ở Nam Kinh của Liêu, các đại thần như Da Luật Đại ThạchLý Xử Ôn không biết tung tích của Thiên Tộ Đế, họ ủng hộ Da Luật Thuần làm hoàng đế, tức Thiên Tích Đế, sử gọi là Bắc Liêu. Thiên Tích Đế giáng Thiên Tộ Đế làm Tương Âm vương, đồng thời khiển đại sứ dâng biểu cho triều Kim xin làm phụ dung. Tuy nhiên sự chưa thành thì ông đã bệnh mất, vợ là Liêu đức phi xưng chế, cải niên hiệu thành Đức Hưng. Đến lúc này, phụ tử Lý Xử Ôn nhận thấy tương lai không sáng sủa, họ trù tính tư thông với Đồng Quán của Bắc Tống, muốn đoạt lấy lãnh thổ đang do Liêu đức phi nắm giữ rồi dâng cho Tống; hướng bắc tư thông với người Kim, tự nhận làm nội ứng; về sau bị phát hiện và ban chết. Tháng mười một năm đó, Liêu đức phi năm lần dâng biểu cho triều Kim, nói rằng chỉ cần cho phép lập Da Luật Định làm Liêu đế thì điều kiện gì cũng đáp ứng. Người Kim không đồng ý, Liêu đức phi chỉ còn cách phái binh tử thủ Cư Dung quan, song Cư Dung quan thất thủ vào tháng mười một, đến tháng mười hai thì Nam Kinh bị quân Kim công phá. Liêu đức phi cùng các quan viên đến nương nhờ ở chỗ Liêu Thiên Tộ Đế, song bà bị Thiên Tộ Đế giết.[7]:118

Tháng một năm 1123, Hồi Ly Bảo (Tiêu Cán) tự lập, lấy hiệu là Hề Quốc hoàng đế, đến tháng 8 thì bị bình định. Năm 1124, Thiên Tộ Đế lúc này đã bị mất đại bộ phận lãnh thổ, ông tự mình rút ra Mạc Ngoại, nhi tử và gia thuộc của ông đại đa số bị giết hoặc bị bắt, mặc dù ông có ý định thu phục thủ phủ Yên châu và Vân châu, song trên thực tế không có nhiều hy vọng.

Ngày 26 tháng 3 năm 1125, Liêu Thiên Tộ Đế bị đám người Kim Hoàn Nhan Lâu Thất bắt được ở Ứng châu, sang tháng tám thì bị giải đến Thượng Kinh của Kim (nay thuộc A Thành, Hắc Long Giang), bị Kim Thái Tông Hoàn Nhan Thịnh giáng làm Hải Tân vương. Năm 1128, Thiên Tộ Đế bệnh mất, triều Liêu kéo dài tổng cộng 210 năm (bao gồm cả Khiết Đan Quốc), trải qua 9 vị đế vương.[4]:12

Phạm vi thế lực của Tây Liêu vào năm 1200

Tại Tây Bắc, Da Luật Đại Thạch triệu tập tàn dư của triều Liêu, khống chế khu vực cao nguyên Mông Cổ và đông bộ Tân Cương. Năm 1130, do chịu áp lực từ quân Kim, Da Luật Đại Thạch quyết định từ bỏ cao nguyên Mông Cổ, suất bộ tây chinh. Năm 1132, Da Luật Đại Thạch xưng đế tại Diệp Mê Lập (nay thuộc Ngạch Mẫn, Tân Cương), sử gọi là Tây Liêu, thủ đô tại Hổ Tư Oát Lỗ Đóa.[7]:120 Tây Liêu từng có lúc khuếch trương đến các nước Trung Á ngày nay, trở thành cường quốc ở Trung Á. Sau khi Da Luật Đại Thạch mất vào năm 1143, Tây Liêu lần lượt do Tiêu Tháp Bất Yên, Da Luật Di Liệt, Da Luật Phổ Tốc Hoàn, Da Luật Trực Lỗ CổKhuất Xuất Luật thống trị. Cuối cùng, Tây Liêu bị quân đội Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn tiêu diệt, tồn tại được 87 năm.[4]:13

Năm 1212, tông thất triều Liêu là Da Luật Lưu Ca tại khu vực Long An (nay là Nông An, Cát Lâm), Hàn châu (nay là Lê Thụ, Cát Lâm]] khởi binh phản kháng triều Kim, đồng thời được đế quốc Mông Cổ giúp đỡ. Tháng ba năm 1212, Da Luật Lưu Ca xưng vương, đặt quốc hiệu là Liêu, sử gọi là Đông Liêu. Da Luật Lưu Ca sau khi kiến quốc thì quy phụ đế quốc Mông Cổ, trở thành nước phiên thuộc, đến năm 1270 thì Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt triệt phiên, Đông Liêu chính thức diệt vong. Đầu năm 1216, em của Da Luật Lưu Ca là Da Luật Tư Bất làm phản, xưng đế tại Trừng châu, sử gọi là Hậu Liêu. Không lâu sau, Da Luật Tư Bất bị bộ hạ sát hại, mọi người tôn Da Luật Khất Nô làm giám quốc. Đến mùa thu cùng năm, Mộc Hoa Lê suất quân Mông Cổ đông hạ, Da Luật Khất Nô không thể chống lại, suất 9 vạn người Khiết Đan vượt qua sông Áp Lục tiến vào lãnh thổ Cao Ly. Không lâu sau, các quý tộc Khiết Đan tự tàn sát lẫn nhau, Hậu Liêu cuối cùng diệt vong vào năm 1220.

Cương vực và hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vào sơ kỳ, cương vực triều Liêu tại khu vực thượng du Liêu Hà, vào thời Liêu Thái Tổ và Liêu Thái Tông không ngừng khuếch trương ra bên ngoài. Thời Liêu Thái Tổ, người Khiết Đan chinh phục Hề (nay thuộc bắc bộ Hà Bắc), Ô Cổ, Hắc Xa Tử Thất Vi (nay ở đông nam hồ Hô Luân), Thát Đát, Hồi Cốt và Bột Hải Quốc. Năm 938, Liêu Thái Tông đoạt được Yên Vân thập lục châu, sau đó từng chiếm hữu Trung Nguyên trong một thời gian. Năm 1005, Liêu và Bắc Tống ký kết Thiền Uyên chi minh, xác định biên giới giữa hai nước. Vào thời toàn thịnh, cương vực của Liêu đến đảo Sakhalin ở đông bắc, bắt đến khu vực sông Selengesông Shilka, tây đến dãy núi Altai, nam theo tuyến qua Hải HàThiên Tân, Bá Châu ở Hà Bắc, Nhạn Môn quan ở Sơn Tây, hình thành thế đối lập nam-bắc với triều Tống ở Trung Nguyên.[4]:38

Triều Liêu vào thời kỳ Khiết Đan Quốc có 8 bộ lạc,[33] sau khi kiến lập Liêu triều thì đơn vị hành chính gồm ba cấp: đạo, phủ (châu), huyện. Tổng cộng, Liêu có 5 kinh, 6 phủ, 156 châu (quân, thành), 309 huyện. Cấp hành chính thứ nhất của Liêu phân thành 8 đạo, mỗi đạo có một trung tâm chính trị gọi là "kinh", đồng thời lấy danh xưng của "kinh" đó mà mệnh danh cho đạo; dưới đạo lập ra 4 loại khu vực hành chính cùng cấp là phủ, châu, quân, thành.[34]

  • 5 đạo: Thượng Kinh đạo, Trung Kinh đạo, Đông Kinh đạo, Nam Kinh đạo, Tây Kinh đạo.
  • Phủ:
    • Kinh phủ: Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ, Trung Kinh Đại Định phủ, Đông Kinh Liêu Dương phủ, Nam Kinh Tích Tân phủ, Tây Kinh Đại Đồng phủ.
    • Suất Tân phủ, Định Lý phủ, Thiết Lợi phủ, An Định phủ, Trường Lĩnh phủ, Trấn Hải phủ, Hưng Trung phủ, năm 1041 thì Hưng Trung phủ thăng làm Bá châu và đặt ở Triều Dương ngày nay, 7 phủ này có địa vị thấp hơn một chút so với kinh phủ.
  • Châu: có sự phân hạng, từ cao xuống thấp là tiết độ châu, quan sát châu, phòng ngự châu, thứ sử châu.

Cốt lõi trong chính trị Liêu là dựa vào tập quán mà cai trị, lấy chế độ phép tắc trong nền văn hóa mỗi dân tộc để cai trị nhân dân tộc đó, điểm đặc sắc này có thể thấy trong phân chia hành chính. Vào thời bộ lạc Khiết Đan, sau khi chinh phục tộc Hề thì lập Hề vương ở đất ấy, lập ra cơ cấu chính phủ riêng.[35]:166 Thời kỳ Khiết Đan Quốc, sau khi tiêu diệt Bột Hải Quốc, để tiện thống trị nhân dân Bột Hải, lại lập ra Đông Đan Quốc ở đương địa, kế thừa thể chế hành chính của Bột Hải Quốc. Đông Đan Quốc cuối cùng bị phế. Sau khi chiếm lĩnh Yên Vân thập lục châu, lại kế thừa thể chế hành chính thời Hậu Đường để tiện thống trị người Hán tại địa phương.[4]:37

Triều Liêu theo ngũ kinh chế, chủ yếu là để khống chế vùng đất có được do chiến tranh, hoặc là căn cứ tiến quân khi tranh đoạt một vùng đất.[35]:171 Liêu trước sau thiết lập Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ[36] (nay thuộc Ba Lâm Tả, Nội Mông), để khống chế lãnh địa của tộc Hề mà thiết lập Trung Kinh Đại Định phủ (nay thuộc Ninh Thành, Nội Mông), để quản lý số dân Bột Hải còn lại mà thiết lập Đông Kinh Liêu Dương phủ (nay thuộc Liêu Dương, Liêu Ninh[37]), để quản lý Yên Vân thập lục châu mà thiết lập Nam Kinh Tích Tân phủ (nay là Bắc Kinh[38]) và Tây Kinh Đại Đồng phủ (nay là Đại Đồng, Sơn Tây). Trong Ngũ kinh, chỉ có Thượng Kinh là thủ đô, còn lại chỉ là bồi đô. Tuy nhiên, sau Thiền Uyên chi minh, vai trò chính trị của Trung Kinh được tăng cường, uy hiếp trực tiếp đến địa vị thủ đô của Thượng Kinh.[4]:45

Đầu hạ quân châu là một loại đơn vị hành chính đặc thù của triều Liêu. Quý tộc Khiết Đan đưa số nhân khẩu mà họ bắt được lập nên quân, châu để an trí, đốc bách họ làm việc cho chủ nhân. Chư vương, ngoại thích, đại thần của Liêu lĩnh hữu đầu hạ quân châu có thể xây thành quách, còn lại chỉ có thể có đầu hạ trại bảo của riêng họ. Đầu hạ quân châu phần lớn thiết lập tại nơi người Khiết Đan cư trú ở lưu vực Hoàng Hà, phu hộ chủ yếu là người Hán từ Hà Bắc-Sơn Tây, và người Bột Hải. Danh xưng của đầu hạ châu huyện thường lấy theo danh xưng châu huyện nguyên tịch của phu hộ, như bắt dân Vệ châu thì đặt Vệ châu; bắt dân Tam Hà huyện thì đặt Tam Hà huyện, bắt dân Mật Vân châu thì đặt Mật Vân huyện. Chế độ đầu hạ quân châu đến Liêu Thánh Tông thì dần bị phế trừ.[4]:33

Thể chế chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Phật La Hán thời Liêu.

Do Liêu là quốc gia đa dân tộc, thể chế chính trị của Liêu dung hợp thể chế Khiết Đan và thể chế Đường-Tống, hình thành Nam-Bắc viện chế. Nam-Bắc viện chế phân thành Bắc diện quan chế và Nam diện quan chế, "lấy chế độ "bản tộc" chế trị Khiết Đan, lấy chế độ Hán chế đãi người Hán", nhờ đó mà bảo hộ được văn hóa và thể chế chính trị cố hữu của người Khiết Đan.[7]:48 Bắc diện quan trị lý cung trường, bộ tộc, thuộc quốc; Nam diện quan trị lý châu huyện, tô thuế, binh mã của người Hán, dựa theo tập quán mà cai trị.[35]:85

Trong Bắc diện quan chế, Bắc-Nam xu mật viện là quan chế tối cao của triều Liêu, Bắc xu mật viện quản lý việc quân chính của toàn quốc, tương tự như Binh bộ thời Đường; Nam xu mật viện phụ trách các vấn đề như thuyên tuyển, thu thuế. Bên dưới Xu mật viện, còn đặt ra Bắc-Nam tể tướng phủ, Bắc-Nam tể tướng, đều do hoàng tộc Da Luật thị và hậu tộc Tiêu thị kiểm soát. Ngoài ra, còn có 'Bắc-Nam đại vương viện' quản lý công việc quân dân Khiết Đan hoặc Hán, 'Bắc-Nam tuyên huy viện' quản lý việc cung phụng của các cơ quan trong cung, 'Đại nội dịch ẩn ty' quản lý giáo dục hoàng thất, 'Di ly tất viện' quản lý hình ngục, 'Đại lâm nha viện' quản lý việc văn chương, 'Địch liệt ma đô ty' quản lý lễ nghi.[39] Tên chức và nhiệm vụ của quan lại trong Nam diện quan chế tiếp nối chế độ triều Đường, đồng thời tham chiếu quan chế Ngũ Đại và Tống, đặt ra Trung thư tỉnh, Môn hạ tỉnh, Thượng thư tỉnh, Lục bộĐại lý tự;[4]:34 có phân thành thực thụ hoặc diêu thụ (tức nhậm chức từ xa). Quan lại dựa theo ngôi bậc, công lao mà được phong tước và thực ấp hộ, cùng các hỗ trợ khác. Liêu có nhiều quan danh bằng tiếng Khiết Đan, như 'lâm nha' tức là 'hàn lâm', 'dịch ẩn' quản lý chính giáo của hoàng tộc, 'di ly tất' quản lý hình ngục, 'ất lý miễn' là 'cáo mệnh phu nhân'.[4]:35

Pháp luật triều Liêu dựa theo tập quán mà trị, cho nên các địa phương sử dụng pháp luật không giống nhau. Thời kỳ đầu có sự kỳ thị dan tộc, đến thời Liêu Thánh Tông thì hình luật dành cho người Khiết Đan cũng được xét theo luật Hán, phản ánh địa vị của người Hán được tăng lên. Nhìn chung thì hình phạt thời Liêu khá nặng, song hoàng đế thường tùy ý giết người, không tuân theo pháp luật, đặc biệt là Liêu Mục Tông.[4]:43

Thời Liêu, tuy lấy Thượng Kinh làm thủ đô, song hạch tâm chính trị không nằm tại thủ đô, mà nằm tại 'nại bát' (捺缽, một từ tiếng Khiết Đan có thể dịch thành 'hành doanh'). Do người Khiết Đan sống du cư không ổn định, xe và ngựa là nhà, hoàng đế phải thường xuyên tuần thú. Toàn bộ các vấn đề chính trị trọng đại đều được quyết định tại nại bát, là trung tâm hành chính xử lý chính vụ. Hoàng đế tại nơi săn bắn cho lập nên hành trướng, để phân biệt với cung trướng của hoàng đô. Tùy theo điều kiện khí hậu tự nhiên, bốn mùa lại có mỗi khu vực nại bát, tức "Xuân nại bát", "Hạ nại bát", "Thu nại bát", "Đông nại bát".[4]:14

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Người Khiết Đan vốn thần phục triều Đường, triều Đường thiết lập Tùng Mạc đô đốc phủ trên lãnh địa của người Khiết Đan. Sang thời vãn Đường và Ngũ Đại, người Khiết Đan lập ra quốc gia độc lập, đồng thời nhiều lần xâm nhập khu vực Hà Bắc. Những năm cuối Hậu Đường, Liêu Thái Tông tiếp nhận thỉnh cầu của Thạch Kính Đường, hiệp trợ người này kiến lập Hậu Tấn, thu được Yên Vân thập lục châu và sự thần phục của Hậu Tấn. Không lâu sau, người Khiết Đan lại nam chinh Trung Nguyên để tiêu diệt Hậu Tấn, kiến lập triều Liêu. Đến lúc này, quan hệ giữa triều Liêu và Trung Nguyên lần đầu tiên chuyển sang trạng thái triều Liêu ở trên, Trung Nguyên thần phục.[7]:46 Sau đó, triều Liêu suy thoái, Hậu Chu và Bắc Tống tương kế bắc phạt nhằm đoạt lại Yên Vân thập lục châu, hai bên khôi phục cục diện đối đầu. Triều Liêu lựa chọn sách lược phòng ngự, đồng thời hỗ trợ Bắc Hán để đối kháng trước việc Trung Nguyên bắc phạt, nhiều lần chặn được cuộc tiến công của Trung Nguyên. Đến thời Liêu Thánh Tông, trải qua một thời gian chuẩn bị đầy đủ, Liêu lại một lần nữa phát động nam chinh, suất quân Liêu tiến đến Thiền châu của Bắc Tống. Cuối cùng, hai bên ký kết Thiền Uyên chi minh, Liêu và Bắc Tống thiết lập quan hệ ngoại giao nhìn chung là bình đẳng, kéo dài 120 năm, đồng thời cũng tăng cường liên hệ kinh tế và mậu dịch với nhau. Năm 1042, Liêu Hưng Tông nhân dịp Tống gặp khó khăn sau chiến tranh với Tây Hạ, suất trọng binh đến thị uy ở biên giới Liêu-Tống, đồng thời phái Tiêu Anh và Lưu Lục Phù đi sứ sang Tống yêu cầu Tống cắt 10 huyện phía nam Ngõa Kiều quan. Triều Tống phái Phú Bật đàm phán với sứ Liêu, đạt được hiệp nghị, tức Trọng Hy tăng lệ, Tống tăng số tiền và vải tặng cho Liêu hàng năm để tránh chiến tranh. Sau đó, Liêu Hưng Tông còn phái Da Luật Nhân Tiên và Lưu Lục Phù một lần nữa sang Tống yêu cầu đổi sang chứ "nạp", tức Tống nạp cho Liêu chứ không phải tặng. Phú Bật kiến nghị Tống Nhân Tông đáp ứng yêu cầu, đồng thời yêu cầu Liêu phải kiềm chế Tây Hạ, nhằm phá hoại quan hệ giữa Liêu và Tây Hạ, cuối cùng khiến Liêu Hưng Tông hai lần thân chinh Tây Hạ, tổn hại nhân lực vật tư.[7]:36 Đến những năm cuối, triều Liêu bị triều Kim xâm nhập, cộng với nội bộ triều đình phân liệt và đấu tranh lẫn nhau, do vậy có ý muốn hòa đàm với Bắc Tống. Tuy nhiên, Bắc Tống lại thiết lập Hải thượng chi minh với Kim để cùng nhau đánh Liêu, cự tuyệt đề nghị hòa đàm của Liêu, cuối cùng Liêu bị Kim diệt.[4]:12

Phật Cung tự Thích Ca tháp, được xây vào năm 1056, một trong các kiến trúc có kết cấu bằng gỗ cao nhất và cổ nhất trên thế giới hiện nay.

Liêu tiêu diệt Bột Hải Quốc vào năm 926, từ đó có tiếp xúc với Cao Ly. Năm 942, Liêu tặng cho Cao Ly 50 con lạc đà, song bị Cao Ly Thái Tổ Vương Kiến cự tuyệt, sứ giả của Liêu bị đày ra một hòn đảo cô lập, lạc đà Liêu mang sang đều bị bỏ cho chết đói. Đến lúc này, Liêu nhiều lần tiến hành tập kích qua biên giới Cao Ly, năm 993, Liêu Thánh Tông suất đại quân vượt qua sông Áp Lục xâm nhập Cao Ly. Cuối cùng, hai bên tiến hành hòa đàm, Cao Ly đồng ý đoạn tuyệt quan hệ liên minh với Tống, Liêu Thánh Tông suất quân về bắc, hai bên kiến lập quan hệ láng giềng hữu hảo. Năm 1009, Cao Ly phát sinh binh biến, Cao Ly Mục Tông bị phế, Liêu Thánh Tông thừa cơ xâm nhập Cao Ly, sau khi đánh hạ kinh đô Khai Thành thì về bắc. Năm 1018, Liêu lại một lần nữa cho đại quân đông chinh Cao Ly, song kết quả là chiến bại. Sau đó, hai bên hòa đàm, Liêu từ đó không còn xâm nhập Cao Ly.

Liêu và các nước ở phía tây duy trì lên hệ tương đối hữu hảo. Nước láng giềng chủ yếu ở phía tây của Liêu là Tây Hạ, trong một thời gian dài duy trì quan hệ triều cống và liên hôn với Liêu, từng được gọi là "sinh cữu chi bang" (tức nước cháu [gọi bằng cậu]). Đối với các nước Tây Vực, Liêu có một quan hệ lâu dài. Ngay từ thời Liêu Thái Tổ Da Luật A Bảo Cơ, người Khiết Đan từng suất quân tây chinh, khiến các nước Tây Vực nối nhau thần phục.[40] Những năm Thống Hòa, vương thái phi xuất sư Tây Vực, năm 1003 xây Khả Đôn thành,[chú 4], như là trọng trấn ở biên cảnh tây bắc, trải qua nhiều năm mưu hoạch phát triển, khiến phạm vi thế lực của triều Liêu bao trùm cả khu vực Mạc Nam, Mạc Bắc và Tây Vực. Đối với các bộ lạc thuộc quốc hàng phục, triều Liêu đều sử dụng chính sách ki mi "nhân thiên chủng lạc, nội trí tam bộ",[41] khiến họ giám sát lẫn nhau, không muốn quay lưng lại phản triều đình Liêu.[42] Các quốc gia Cam Châu Hồi Cốt, Tây Châu Hồi Cốt ở phía đông Thông LĩnhKhách Lạt hãn quốc ở phía tây Thông Lĩnh về cơ bản đều thân cận phụ thuộc với triều Liêu, quan hệ với Bắc Tống khá thưa thớt. Ngoài ra, năm Thiên Tán thứ 2 (924), sứ giả Ba Tư đến, sang năm sau thì sứ giả Đại Thực cũng đến Liêu thông hảo, quốc vương Đại Thực khiển sứ giả là vương tử sang thỉnh hôn, song Liêu không đồng ý. Năm sau, Đại Thực lại khiển sứ thỉnh hôn, Liêu Thánh Tông đem một nữ nhi trong hoàng thất gả sang Đại Thực.[43]

Sau khi triều Đường diệt vong, các khu vực Trung Á, Tây Á, Đông Âu xem danh xưng triều Liêu (Khiết Đan) là đại diện cho Trung Quốc. Trong binh thư Hồi giáo các nước Trung Á và Tây Á, còn gọi hỏa dược và hỏa khí từ Trung Quốc truyền sang là "pháo hoa Khiết Đan", "hỏa tiễn Khiết Đan". Cho đến ngày nay, tiếng Nga vẫn theo lối xưa, dựa theo danh xưng Khiết Đan để chỉ Trung Quốc.[35]:1

Chế độ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh tường trong lăng mộ mô tả kỵ sĩ Khiết Đan và chiến mã, khai quật tại kỳ Ngao Hán, Xích Phong, Nội Mông

Thời bình, quân đội Liêu ước tính có từ 20 vạn đến 30 vạn lính. Khiết Đan là dân tộc du mục, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, thời bình thì chăn thả săn bắn, song cũng luyện tập quân sự, đến khi có chiến tranh thì có thể nhanh chóng tập hợp thành quân đội. Do toàn dân đều là binh, triều Liêu có thể động viên một số lượng binh lính đạt tỷ lệ cao trong tổng số nhân khẩu, là 1.642.800 người.[35]:201 Do vẫn bảo lưu được đặc tính bộ tộc nguyên thủy, nhanh chóng chuyển đổi từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến, chế độ quân sự của Liêu vào thời kỳ đầu cùng với chế độ xã hội hợp thành một thể. Sau khi tiến vào khu vực phía nam Trường Thành, người Khiết Đan ngoài việc bảo tồn đặc sắc dân tộc, cũng dần tiếp thụ ảnh hưởng từ người Hán, có đặc điểm dung hợp dân tộc. Thời Liêu, hoàng đế là người nắm giữ binh quyền tối cao, bên dưới đặt ra Bắc-Nam xu mật viện. Bắc xu mật viện là cơ cấu hành chính và quân sự tối cao, thường do người Khiết Đan chủ quản; Nam xu mật viện còn gọi là Hán nhân xu mật viện, quản lý việc binh mã đối với người Hán, do đó xuất hiện cục diện một triều đình có hai thể chế quân sự cùng tồn tại.[4]:52

Binh chế triều Liêu phân thành 'Cung trướng quân', 'Bộ tộc quân', 'Kinh châu châu' và 'Thuộc quốc quân'. 'Cung trước quân' tức 'Bì thất quân', được tổ thành từ các tráng đinh 'trứ trướng hộ', trực thuộc hoàng đế, là thân quân tộc Khiết Đan, bảo vệ hoàng thất và chinh chiến, "lấy hành doanh làm cung, tuyển nghìn người hào kiện các bộ, đặt ra đơn vị tâm phúc".[35]:204 'Bộ tộc quân' chủ yếu do tráng đinh từ các bộ tộc không phải là người Khiết Đan, tổ thành, bảo vệ biên giới. Hai chủng bộ đội trên là chủ lực trong quân đội Liêu. 'Kinh châu quân' còn gọi là 'Ngũ châu hương quân', được tổ thành từ các tráng đinh các dân tộc Hán, Bột Hải ở các châu huyện. 'Thuộc quốc quân' được tổ thành từ tráng đinh của các nước thần thuộc. Hai chủng bộ đội sau là lực lượng phụ trợ trong quân đội Liêu.[4]:51 Vào thời Liêu sơ, tất cả nam giới quý tộc của Liêu đều phục binh dịch, từ 15-50 tuổi thì bị liệt tịch chính quân, tự trang bị binh khí và chiến mã.[44] Liêu đồng thời cũng thường phái quân đi cướp đoạt vật tư ở vùng biên giới, bị gọi là 'đả thảo cốc'.[45] Quân đội Liêu lấy kị binh làm chủ yếu, vũ khí có cung tên và đao thương. Đến hậu kỳ, do có máy bắn đá từ Tống truyền sang, sắp xếp hình thành 'pháo thủ quân'.[4]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Khiết Đan vốn là dân tộc du mục, săn bắn đánh cá làm thức ăn, lấy da lông làm y phục, dẫn ngựa tìm nguồn nước và cỏ, uống sữa của chúng. Các nhược điểm về kinh tế của dân tộc du mục nói chung đã được giải quyết trước khi người Khiết Đan lập quốc. Họ tạo ra các ốc đảo trong doanh trại ở khu vực du mục, đưa dân tộc trồng trọt di cư đến đó. Tổ phụ, cha và bá phụ của Liêu Thái Tổ là những người truyền nhập nông nghiệp và thủ công nghiệp đến người Khiết Đan, người Khiết Đan cũng tiếp thu nghề xe sợi dệt vải. Các địa phương của Liêu đều đặt ra 'quần mục sứ ty' để quản lý chăn nuôi gia súc. Hoàng đế Liêu khiến cho nông nghiệp và mục nghiệp cùng phát triển phồn vinh, lập ra một thể chế quản lý độc đáo tương đối hoàn chỉnh.[4]:64

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trác Hiết đồ (một phần); miêu tả cảnh khả hãn, yên chi và bộ hạ tộc Khiết Đan tụ tập ăn uống sau khi ra ngoài săn bắn

Trong lãnh địa của Liêu, có nhiều loại nông sản, như lúa mạch, lúa gạo, lúa nếp, ngoài ra còn có rau dưa và hoa quả. Người Liêu học theo kỹ thuật nông nghiệp của Trung Nguyên, đưa vào các giống cây trồng từ Trung Nguyêm, giống dưa hấu và đậu Hồi Cốt từ Hồi Cốt; kết hợp với đặc điểm khí hậu phương bắc mà hình thành kỹ thuật vun trồng độc đáo. Đất đai triều Liêu có hai loại là công điền và tư điền. Tại vùng ven biên giới, Liêu cho thiết lập các đồn điền, về bản chất là công điền. Đất đai nhàn rỗi của quan lại mộ dân trồng cấy thì cũng được tính là công điền, bách tính gieo trồng sau 10 năm thì phải nộp tô thuế cho triều đình. Ước tính, đồn điền phần nhiều tập trung tại vùng ven biên giới phía bắc, tư điền lại tập trung nhiều ở vùng ven biên giới phía nam. Người Hán ở Liêu vẫn còn phương pháp sản xuất nam cày cấy, nữ dệt vải để duy trì thu nhập gia đình. Đồng thời, những người Hán bị quân Khiết Đan bắt trong chiến tranh bị cho đi an trí tại khu vực nội địa của người Khiết Đan, lập ra rất nhiều 'đầu hạ quân châu'. Trừ một phần nhỏ phải nộp lên trên, thu nhập còn lại đều quy về sở hữu của 'đầu hạ chủ'. Để khuyến khích nhân dân khai khẩn đất hoang, triều đình Liêu lập lệ rằng nếu khai khẩn đất ruộng thành công thì sẽ được miễn tô thuế trong 10 năm, hình thành nền kinh tế nông mục hỗn hợp đặc hữu Khiết Đan.[46]:125 Vào năm mất mùa đói kém, triều đình Liêu cũng giảm miễn thuế, như tháng một năm 991 thời Liêu Thánh Tông "chiếu miễn tô thuế các đạo ở tam kinh".[47] Tháng chín năm 1075 thời Liêu Đạo Tông "do Nam Kinh có nạn đói, miễn tô thuế một năm, xuất tiền lúa cứu giúp".[48] Triều Liêu cho cư dân sản xuất nông nghiệp biên nhập vào châu huyện, bao gồm nông dân tự canh có ít ruộng và điền hộ sống dựa vào đất đai của địa chủ. Bất kể địa vị kinh tế, họ đều là dân tự do được tính vào hộ khẩu quốc gia, đồng thời cũng có trách nhiệm lao dịch cho quốc gia. Điền hộ của chùa miếu phần nhiều là do địa chủ hay quan lại chuyển tặng cùng với đất đai, họ phải nộp thuế cho quốc gia và nộp tô cho chùa miếu.[4]:65

Súc mục nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Súc mục nghiệp thời Liêu rất phát đạt, kinh tế mục nghiệp của người Khiết Đan có được sự phát triển khá lớn.[49] Mục nghiệp là kế sinh nhai của người Khiết Đan, cũng là nguồn gốc khiến triều Liêu có vũ lực cường thịnh. Đương thời, từ phía bắc Âm Sơn đến lưu vực Lô Cù Hà, Thổ Hà, Hoàng Thủy đến Thát Lỗ Hà, Ngạch Nhĩ Cổ Nạp Hà luôn có các mục trường tốt. Các bộ lạc Khiết Đan và phụ thuộc như Trở Bốc, Ô Cổ, Địch Liệt, Hồi Cốt, Đảng Hạng chủ yếu tham gia vào du mục nghiệp. Dê, ngựa là tư liệu sinh hoạt chủ yếu của các dân tộc du mục như Khiết Đan: sữa và thịt là thực phẩm, da lông dùng làm trang phục và chăn, ngựa và lạc đà là công cụ giao thông trọng yếu. Trong chiến tranh và săn bắn, ngựa là công cụ không thể thiếu của người dân du mục, nhiều hộ người Hán cũng nuôi gia súc ít nhiều để cạnh tranh. Dê và ngựa cũng là những thứ mà triều đình Liêu trưng thu hoặc là cống phẩm từ các bộ lạc Khiết Đan cùng các thuộc quốc và thuộc bộ, là nguồn thu nhập quan trọng của triều Liêu, do vậy được tập đoàn thống trị xem trọng. Người Khiết Đan được tổ chức thành các bộ lạc và thạch liệt, tại bộ lạc thì nằm dưới sự quản lý của thủ lĩnh, được phân đất để sản xuất mục nghiệp, chịu phú dịch của bộ lạc và quốc gia, nếu không được triều đình và thủ lĩnh bộ lạc cho phép thì không thể tùy ý thoát ly khỏi bộ lạc gốc. Họ là người lao động chủ yếu trong sản xuất mục nghiệp, là thuộc dân của quý tộc bộ lạc.[4]:66

Thủ công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Mâm sứ Liêu, thế kỷ 12

Ngành luyện sắt thời Liêu phát triển,[50][51] Các công cụ nông nghiệp, nấu ăn, mã cụ, thủ công làm bằng sắt khai quật được của triều Liêu ngang bằng với sản phẩm của Trung Nguyên. Liêu Đông là khu vực sản xuất sắt chủ yếu của triều Liêu, xúc tiến nghề luyện sắt của triều Liêu phát triển. Vào thời kỳ đầu, từng lấy nô lệ của 'hoành trướng' và đại tộc đặt ra 'hạt thuật thạch liệt', tham gia công việc rèn luyện sắt, 'hạt thuật' tức là sắt trong tiếng Khiết Đan. 'Hạt thuật thạch liệt' vào thời Liêu Thánh Tông do hộ khẩu đông và quan hệ sản xuất thay đổi, cải biên thành bộ, vẫn lấy sắt làm thuế. Thời Liêu, có ba nơi luyện sắt tại Thủ Sơn, Tam Truất Cổ Tư, Liễu Thấp Hà. Trong đó, Thủ Sơn nay thuộc An Sơn của Liêu Ninh, hoạt động khai mỏ và luyện kim ở đây bắt đầu từ thời Liêu[4]:69

Đồ sứ Liêu có địa vị quan trọng trong lịch sử phát triển của gốm sứ Trung Quốc, tạo hình đồ sứ có thể phân thành hai loại là kiểu Trung Nguyên và kiểu Khiết Đan; kiểu Trung Nguyên phỏng theo cách nung tạo ở Trung Nguyên, có các loại bát, mâm, chén, đĩa, hộp hay bình; kiểu Khiết Đan phỏng theo tập quán bản tộc, sử dụng cách nung tạo dùng bì hay gỗ, làm ra các vật dụng bình, nậm, khay, đĩa với tạo hình độc đáo.[52] Lò Hang Ngõa Diêu là di chỉ lò nung đồ sứ cổ lớn nhất đời Liêu được biết đến cho tới nay, có thể sản xuất ra đồ sứ men trắng, men đơn, tam thải cũng như các đồ sứ để dùng trong cung đình.[52] Các ngành thủ công nghiệp như mạ vàng bạc, nhuộm dệt, tạo mã cụ, làm đồ sứ, làm giấy đều hoàn bị, công nghệ tinh thâm.[52] "Yên ngựa Khiết Đan" cùng với "nghiên Đoan", "gấm Thục", "sứ Định" thậm chí được người Bắc Tống bình là "thiên hạ đệ nhất".[53] Khi khai quật các mộ quý tộc như "Mộ Trần quốc công chúa và phò mã", "mộ Da Luật Vũ Chi", phát hiện được những đồ bằng vàng và bạc tinh xảo đạp đẽ, phản ánh nét đặc sắc dân tộc và trình độ công nghệ cao độ của người Khiết Đan.[52]

Thương nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Với việc nông, mục, thủ công nghiệp phát triển, hoạt động trao đổi ngày một thường xuyên. Ngay từ thời Thái Tổ Da Luật A Bảo Cơ, người Khiết Đan đã xây dựng 'dương thành' ở bắc Thán Sơn, "lập các vụ để thông các dòng giao dịch". Về sau, lãnh thổ được mở rộng, thành phần kinh tế gia tăng, thương nghiệp tiếp tục phát triển hơn nữa. Sau khi Ngũ Kinh của Liêu được xây dựng hoàn tất, chúng trở thành các thành thị thương nghiệp trọng yếu của quốc gia.[4]:75 Giao lưu kinh tế giữa Liêu với các quốc gia và bộ tộc xung quanh phần nhiều tiến hành theo phương thức triều cống và hỗ thị. Do thương nghiệp phát triển, trong lãnh thổ Liêu xuất hiện tầng lớp thương nhân giàu có, họ buôn bán ở các châu huyện Ngũ Kinh hoặc qua lại giữa Liêu với các nước Ngũ Đại rồi Tống, thậm chí còn trở thành sứ thần đại diện cho Liêu xử sự việc giao thiệp, như thời Liêu Thái Tông, Hồi đồ sứ Kiều Vinh buôn bán ở Hậu Tấn, là đại diện cho thương nghiệp mậu dịch của Liêu, đồng thời cũng có thể đóng vai trò là sứ thần để cùng Hậu Tấn giao thiệp chính vụ. Quy Hóa châu ở Tây Kinh có Hàn Sư Huấn, cũng là thương nhân giàu có một phương.[4]:76

Thời Liêu, vật giá rất thấp, mặc dù có thuế muối và thuế rượu, song mức thuế ở các địa phương không giống nhau. Thương nghiệp mậu dịch phồn vinh xúc tiến kinh tế tiền tệ phát triển. Căn cứ theo tài liệu chép lại, vào thời cha của Da Luật A Bảo Cơ là Da Luật Tát Lạt Đích, người Khiết Đan bắt đầu đúc tạo tiền tệ. Tuy nhiên, lượng tiền tệ sử dụng không nhiều, sang thời Liêu Thế Tông, Thượng Kinh vẫn ở trong trạng thái giao dịch dùng vải làm trung gian. Các địa phương cũng dùng tiền tệ không giống nhau, như vào trước thời Thánh Tông thì tiền Liêu cực ít, sau thời Thánh Tông mới dần nhiều lên, song trong lưu thông tiền tệ, chúng vẫn chiếm số lượng rất ít, không đạt 2%, chủ yếu là tiền Tống và tiếp đến là tiền Đường, Ngũ Đại và tiền các triều khác; về giao dịch đối ngoại, chủ yếu là giao dịch các mặt hàng bổ sung cho nhau ở 'các trường' tại biên cảnh với Tống và Tây Hạ. Ngoài ra, Liêu cũng có qua lại mậu dịch với Nhật Bản, Cao Ly, đế quốc Abbas, Rus Kiev, Khách Lạt hãn quốc.[46]:150

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tiêu diệt Bột Hải, một lượng lớn cư dân Bột Hải còn lại tụ cư ở các châu huyện tại khu vực Thượng Kinh và Đông Kinh của Liêu, nền văn hóa Bột Hải khá tiên tiến có tác động tương đối rộng đối với văn hóa Liêu. Sau khi chiếm cứ Yên Vân thập lục châu của người Hán và qua lại thường xuyên với Tống, cũng như mậu dịch xuyên biên giới, văn hóa Hán có ảnh hưởng rất lớn đối với triều Liêu. Với việc có một lượng lớn thư tịch Hán văn được phiên dịch, các thành tựu khoa học-kỹ thuật, văn học, sử học của nhân dân Trung Nguyên được giới thiệu đến khu vực thảo nguyên, xúc tiến sự phát triển văn hóa của dân tộc du mục. Hoàng thất Liêu và quý tộc Khiết Đan thường ngưỡng mộ văn hóa Hán, như Liêu Thái Tổ sùng bái Khổng Tử, trước sau cho lập quốc tử giám tại Thượng Kinh, lập trường học ở các phủ châu huyện, để truyền thụ học thuyết Nho gia, cũng lập miếu thờ Khổng Tử; Liêu Thánh Tông thường đọc "Trinh Quán chính yếu", Liêu Đạo Tông thích xem "Luận ngữ". Thời Liêu Đạo Tông, người Khiết Đan tự xưng "chư hạ", Đạo Tông còn nói "Ngô tu văn vật, bân bân bất dị Trung Hoa".[54] Trên phương diện giáo dục, thi hành chính sách mở trường nuôi học trò, khoa cử chọn kẻ sĩ.[4]:104

Ngữ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Văn tự Khiết Đan trên gương đồng

Văn nhân triều Liêu đã sử dụng văn tự ngôn ngữ Khiết Đan trong sáng tác, cũng có một lượng lớn dùng ngữ văn Hán. Tác phẩm của họ thuộc các thể loại như thơ, từ, ca, phú, văn, tấu chương, thư; với các loại đề tài như thuật hoài, giới dụ, phúng gián, tự sự. Các tác giả bao gồm thành viên hoàng tộc, quần thần, người các bộ và trứ trướng (phạm tội bị thu gia sản). Thơ từ Khiết Đan trong câu có khí thế mênh mông, cũng có lời hay ý đẹp. Liêu Hưng Tông là người giỏi thơ văn, năm 1050 sứ Tống là Triệu Khái sang Liêu, Liêu Hưng Tông ngâm "tín thệ như sơn hà thi". Trong số các hoàng đế Liêu, Liêu Đạo Tông có kiến thức cao nhất về văn học, giỏi thư phú, tác phẩm tươi mới nhã lệ, ý cảnh sâu xa, có "đề lý nghiễm hoàng cúc phú". Đông Đan hoàng vương Da Luật Bội sáng tác "lạc điền viên thi", "hải thượng thi". Ba huynh đệ Da Luật Quốc Lưu, Da Luật Tư Tông, Da Luật Chiêu đều giỏi 'thuộc văn', 'công từ', Da Luật Quốc Lưu có "thố phú", "ngụ mị ca"; Da Luật Tư Tông đi sứ sang Cao Ly song bị giữ lại, trong thời gian đó cứ hễ nhớ đến quân chủ và phụ mẫu thì lại có sáng tác, sau biên thành "Tây đình tập". Hoàng hậu của Liêu Đạo Tông là Tiêu Quan Âm sáng tác "gián liệp sơ", "hồi tâm viện", và "quân thần đồng chí Hoa Di đồng phong", biểu đạt quan tâm đến an nguy của xã tắc, lý tưởng chính trị trí chủ trạch dân (tận lực vì vua, ban ân huệ cho dân). Tác phẩm của người Liêu lưu truyền đến nay có "phân tiêu lục" của Vương Từ, "Túy nghĩa ca" của Tự Công đại sư. "Túy nghĩa ca" sáng tác bằng ngôn ngữ Khiết Đan, có dịch văn của Da Luật Lý thời Kim, song bản gốc và bản dịch văn của Da Luật Lý đều thất truyền, chỉ còn bản dịch chữ Hán của con của Da Luật Lý là Da Luật Sở Tài.[4]:148

Bản tô lại mộc khắc hình cá có tiểu tự Khiết Đan

Về phương diện thư mục, triều đình Liêu đặt ra 'quốc sử viện', chuyên tu chỉnh lịch sử, đặt chức quan 'giám tu quốc sĩ', 'sử quán học sĩ'. Cơ quan này từng soạn viết khởi cư chú, nhật lịch, thực lục, quốc sử, cũng phiên dịch không ít thư tịch của người Hán sang văn tự Khiết Đan, như Ngũ Đại sử. Trong đó, thực lục viết vào thời Liêu là một trong các tài liệu chủ yếu để Thoát Thoát thời Nguyên soạn viết ra Liêu sử.[4]:139

Về phương diện ngôn ngữ văn tự, tiếng Hán và tiếng Khiết Đan đều thông hành, có không ít văn thư được viết bằng cả hai loại văn tự. Thời Liêu, còn xuất hiện việc vì phục vụ đệ tử Phật giáo học tập kinh Phật mà biên soạn ra tự điển chữ Hán "Long kham thủ kinh". Văn tự Khiết Đan được sáng chế ra trên cơ sở tham chiếu từ Hán tự, dùng để ghi lại tiếng Khiết Đan, phân thành hai hình thức 'Khiết Đan đại tự' và 'Khiết Đan tiểu tự', song hiện còn thiếu các văn hiến tương tự như vậy. Khiết Đan đại tự tương truyền bắt nguồn từ năm 920, do Liêu Thái Tổ hạ lệnh cho Da Luật Đột Lã Bất và Da Luật Lỗ Bất Cổ tham chiếu Hán tự mà sáng chế, có thể có hơn ba nghìn chữ; Khiết Đan tiểu tự được tạo thành do em của Liêu Thái Tổ là Da Luật Điệt Lạt tham khảo Hồi Cốt văn mà cải biến đại tự. Khiết Đan tiểu tự là loại chữ ghép vần, ước tính có 500 ký hiệu phát âm, so với đại tự thì khá tiện lợi, chữ gốc tuy ít song lại có thể biểu đạt thông suốt toàn bộ tiếng Khiết Đan. Việc người Khiết Đan sáng tạo ra chữ viết thể hiện tinh thần tự giác dân tộc mạnh mẽ, có ảnh hưởng không nhỏ đối với các dân tộc khác, như văn tự Đảng Hạng của Tây Hạ, văn tự Nữ Chân của Kim, văn tự Bát Tư Ba của Nguyên.[7]:49 Chữ Khiết Đan được thông hành cho đến năm 1191, khi nó bị Kim Chương Tông Hoàn Nhan Cảnh phế trừ.[4]:97

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Liêu, Phật giáoTát Mãn giáo là những tôn giáo chính, ngoài ra còn có tục thờ cúng tổ tiên Khiết Đan và tín ngưỡng dân gian.[4]:131 Tín ngưỡng dân tộc gồm thờ phụng Mộc Diệp Sơn, thờ phụng trời đất[4]:129 bái thần mặt trời,[55] bái thần núi[56]. Thờ phụng Mộc Diệp Sơn được cho là bắt nguồn từ khi thủy tổ Khiết Đan xuất hiện và tám bộ Khiết Đan nổi lên, với bối cảnh văn hóa Tát Mãn giáo.[57] Người Khiết Đan cho xây dựng miếu tổ Khiết Đan ở Diệp Mộc Sơn để tế bái thủy tổ,[chú 5] cuối cùng phát triển thành 'sài sách nghi' của hoàng thất Liêu.

Tượng La Hán tam thải thời Liêu, khoảng năm 1000

Phật giáo Liêu về cơ bản kế thừa giáo học Phật giáo thời thịnh Đường.[7]:75 Khi Đường Vũ Tông phát động sự kiện diệt Phật, các phiên trấn ở Hà Bắc không nghe theo, do vậy một lượng lớn tăng lữ và văn vật Phật giáo di chuyển đến khu vực Hà Bắc, khiến cho văn hóa Phật giáo tại địa phương phát triển.[4]:132 Năm 902, ở Long Hoa châu dựng Khai Hóa tự, được xem là điểm khởi đầu của Phật giáo truyền bá đến người Khiết Đan. Năm 918, chùa Phật giáo cũng được dựng ở Thượng Kinh của Liêu, Phật giáo dần được người Khiết Đan tin theo và sùng bái. Sau khi Liêu diệt Bột Hải vào năm 926, cho bắt hàng chục tăng nhân Bột Hải đến Thượng Kinh, cũng cho xây Thiên Hùng tự. Kể từ đó, các kinh và các châu huyện cũng nối tiếp xây dựng chùa miếu. Sau khi Liêu đoạt được Yên Vân thập lục châu vào năm 938, vùng đất này dần phát triển thành trung tâm văn hóa Phật giáo của Liêu, đến cuối thời Liêu thì "số tăng lữ, Phật tự đứng đầu phương bắc". Liêu Thái Tông và các hoàng đế Liêu thi hành chính sách bảo hộ Phật giáo, tôn sùng Phật giáo, khiến cho Phật giáo đại thịnh. Thời Liêu Hưng Tông, tăng nhân Hải Sơn ở Hải Vân tự trên đảo Giác Hoa có quan hệ rất tốt với Hoàng đế.[58] Liêu Đạo Tông từng dùng thơ khen ngợi Phật pháp "hành cao phong đính tùng thiên xích, giới tịnh thiên tâm nguyệt nhất luân". Với việc Phật giáo được truyền bá, do hoàng đế hạ lệnh, chùa miếu khảo xét lại, khắc in kinh Phật và chép kinh cá nhân, hoạt động tập hợp tài liệu, khắc kinh và in kinh do vậy rất tích cực. Trong tượng Phật ở Ứng huyện mộc tháp tại Sơn Tây phát hiện được kinh Phật và tranh Phật; ở Thiên Bảo tự tại Phong Nhuận của Hà Bắc phát hiện được kinh Phật; trong tháp xá lợi Phật Thích Ca ở kỳ Ba Lâm Hữu của Nội Mông phát hiện được kinh Phật; có thể nói là kho báu của nghệ thuật Phật giáo.[4]:137 Triều Liêu hoàn thành thạch khắc các điển tịch Phật giáo chủ yếu, đầu tiên là "Đại bàn nhược kinh", đến thời Liêu Hưng Tông thì xuất bản "Khiết Đan đại tạng kinh", địa vị chỉ đứng sau "Thục bản đại tạng kinh" khai bản vào thời Tống Thái Tổ, có địa vị quan trọng trong lịch sử điển tịch Phật giáo.[7]:74

Đạo giáo và tư tưởng Đạo gia có tác động nhất định đối với người Khiết Đan. Đầu thời Liêu, trong số những người Hán chuyển đến thảo nguyên, có một số người tin theo Đạo giáo. Thượng Kinh có Thiên Trường quán, Trung Kinh có Thông Thiên quán, một số châu thành cũng có nhiều đạo sĩ và đạo quán. Một số người thuộc thượng tầng Khiết Đan và bộ dân Khiết Đan cũng tin theo Đạo giáo. Liêu Thánh Tông đối với Đạo giáo và Phật giáo đều có sự quan tâm,[59] hoàng đệ Da Luật Long Dụ còn là một tín đồ ngoan đạo của Đạo giáo.[60] Một số đạo sĩ thượng tầng của Đạo giáo được Hoàng đế đối đãi theo lễ nghi tương đồng với tầng lớp thượng tầng của Phật giáo. Liêu Thánh Tông cùng từng trao cho đạo sĩ Phùng Nhược Cốc chức Thái tử trung doãn. Sự truyền bá của Đạo giáo cũng dẫn đến việc nghiên cứu kinh điển Đạo giáo, thời Liêu sớ đạo sĩ Lưu Hải Thiền soạn viết "Hoàn đan phá mê ca" và "Hoàn kim thiên", Da Luật Bội dịch "Âm phù kinh"; sang thời Liêu Thánh Tông thì Trương Văn Bảo người Vu Điền từng dâng "Nội đan thư", còn trong "Túy nghĩa ca" của Tư Công đại sư cũng có lẫn tư tưởng Đạo giáo.[4]:138

Hồi giáo cũng hiện diện tại Liêu, chủ yếu là thông qua Tây Vực, truyền bá sang phía đông từ Khách Lạt hãn quốc bị Hồi hóa. Năm 996, học giả Ả Rập Nazaruddin nhập triều làm quan cho Liêu, liền cho xây Ngưu Thai lễ bái tự ở Nam Kinh của Liêu (tức Bắc Kinh ngày nay).[61] Sau này, hoàng đế Tây Liêu chọn áp dụng chính sách khoan dụng, phục đãi Hồi giáo, khiến Hồi giáo tiếp tục phát triển tại Tây Vực.

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

"Đan phong u lộc đồ"

Tác phẩm hội họa triều Liêu có giá trị cao về nghệ thuật, người Khiết Đan giỏi về vẽ phong cảnh thảo nguyên và nhân vật cưỡi ngựa bắn cung, xuất hiện không ít họa gia có thành tựu xuất chúng, sáng tác ra một lượng lớn tác phẩm hội họa ưu tú. Nhiều tác phẩm của Da Luật Bội và phụ tử họa gia nổi tiếng là Hồ Côi và Hồ Kiền được đưa vào nội phủ Bắc Tống, được khen là "thần phẩm". "Xạ kị đồ" của Da Luật Bội, "Trác hiết đồ" của Hồ Hoàn, "Thu lâm quần lộc đồ" hay "Đan phong u lộc đồ" của tác giả vô danh, là các bức họa nổi tiếng, quý báu về mặt nghệ thuật. Ngoài ra, còn có các tác phẩm tương đối có tiếng: Da Luật Phòng từng hai lần đi sứ sang Tống, sau chỉ một lần gặp Tống Nhân Tông liền có thể vẽ được tranh chân dung giống như thật. Tiêu Dung căn cứ theo "Hội sự bị khảo" thì "thích đọc sách, thân bút mực, đặc biệt là giỏi hội họa...". Ngu Trọng Văn căn cứ theo "Đồ hội bảo giám" ghi lại thì giỏi vẽ người ngựa, mặc trúc. Ngoài ra, những người giỏi vẽ tranh còn có Da Luật Đề Tử, Tần Tấn quốc phi Tiêu thị thuộc quý tộc Khiết Đan, người Hán có Trần Thăng, Thường Tư Ngôn hay Ngô Cửu Châu.[4]:166

Tác phẩm điêu khắc có đao pháp đầy khí lực, sống động như thật. Nghệ thuật kiến trúc chủ yếu thể hiện ở tháp chùa Phật giáo. Giác Sơn tự tháp ở Linh Khâu thuộc Sơn Tây, Thiên Ninh tự táp ở Bắc Kinh, Liêu Dương Bạch tháp, Tích Mộc Thành Kim tháp ở Hải Thành của Liêu Ninh có tạo hình mỹ quan, là đại diện kiệt xuất của kiểu tháp mật diêm- là kiểu tháp lưu hành phổ biến nhất vào thời Liêu. Trong Quan Âm các thuộc Độc Lạc tự ở huyện Kế của Thiên Tân mang ưu điểm kiến trúc của cả triều Đường và triều Tống, mang dáng vẻ hùng cường tráng lệ.[4]:92

Triều Liêu sử dụng văn tự Khiết Đan trong khắc đá, với hai loại là đại tự và tiểu tự, thông thường phân thành bia ghi công, kiến miếu kí, ai sách văn, mộ chí minh, đề ký. Tác phẩm khắc đá bằng Khiết Đan đại tự có: "Liêu Thái Tổ kỷ công bi", "Đại Liêu đại hoành trướng Lan Lăng quận phu nhân kiến Tĩnh An tự bi", "Da Luật Diên Ninh mộ chí", "Tiêu Hiếu Trung mộ chí minh", "Cố thái sư minh thạch kí", "Bắc đại vương mộ chí". Trong đó, "Bắc đại vương mộ chí" (cũng gọi là "Da Luật Vạn Tân mộ chí") có thể chữ rất tinh xảo chỉnh tề, thuật lại sự tích của Da Luật Vạn Tân, mộ chí sử dụng khắc ấn Khiết Đan đại tự và Hán tự, thêm vào đó số chữ khắc có nhiều nên mộ chí này có ích cho việc nghiên cứu Khiết Đan đại tự.[4]:169

Tản nhạc triều Liêu chịu ảnh hưởng sâu sắc của triều Đường và Hậu Tấn, trên cơ sở đó, dung hợp với nghệ thuật dân tộc Khiết Đan, tạo ra một loại hình thức tương tự như âm nhạc cung đình. Trong Liêu sử, có ghi lại nhạc khí diễn tấu, với: tất lật, tiêu, địch, sanh, tì bà, ngũ huyền, không hầu, tranh, phương hưởng, chi cổ, đệ nhị cổ, đệ tam cổ, yêu cổ, trống lớn và phách bản. Tản nhạc do 12 người hợp thành, là một đội ngũ biểu diễn hoàn chỉnh. Đội nhạc xếp thành hai hàng, người thứ ba ở hàng trước là một vũ công lùn, nhảy múa theo nhịp điệu.[4]:157

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ nội thất thời Liêu, khai quật trong một cung điện bị chôn vùi ở Thiên Thai Tháp, Phòng Sơn, Bắc Kinh
Bích họa mô tả cảnh chuẩn bị ăn trong một lăng mộ ở kỳ Ngao Hán, Nội Mông

Xã hội và phong tục Khiết Đan vốn không giống như người Hán, triều Liêu thống trị người Hán tại Yên Vân thập lục châu cũng giống như triều đình Trung Nguyên; người Khiết Đan ở phương bắc thì sinh hoạt theo tục cũ; ở khu vực hòa trộn dân tộc thì xuất hiện hình thái hỗn hợp. Người Khiết Đan có nhiều lễ nghi như bái nhật, sài sách, tái sinh, tế sơn, xạ quỷ tiễn. Người Khiết Đan có phương thức sinh hoạt đặc biệt là "nại bát" bốn mùa, hoàng đế Liêu mang theo bá quan chính quyền trung ương, một năm bốn mùa đến các địa phương tuần thú, lều cung được dựng tại địa phương là "nại bát". Ngoài ra, còn có các tập quán sinh hoạt như "đầu ngư yến", "đầu nga yến". Văn hóa ẩm thực Khiết Đan tương ứng với điều kiện địa phương, có mứt, quả khô, là dùng mật ngâm tẩm quả để bảo quản được lâu, đặc sản mơ khô của Bắc Kinh ngày nay là kế thừa phương pháp làm quả khô từ thời Liêu.[62]:161

Trong sinh hoạt thường ngày, người Khiết Đan với truyền thống dân tộc Bắc Á, phần lớn dùng áo làm từ da dê cáo, còn quan lại quý tộc thì chủ yếu mặc áo làm từ da chồn, đồng thời cũng mặc đeo phục sức tơ lụa, trang sức kết hợp tương đối nhiều. Uống rượu ăn thịt là việc phổ biến đối với người Khiết Đan họ sống chủ yếu trong lều, cũng có người cư trú trong cung thất. Đấu vật, đá cầu, thi săn bắn, cờ vây, cờ tào cáo đều là những hoạt động trong lúc rảnh rỗi của người Khiết Đan. Về phong tục theo mùa, người Khiết Đan và Hán đều có, song tập quán xưa của người Khiết Đan là chính, như vào ngày Nguyên Đán thì lấy gạo non và tủy dê trắng để làm bánh, ngày mùng bảy tháng giêng thì nhân dịp 'nhân nhật' mà ăn bánh rán và gọi là 'huân thiên bính' (bánh hương trời). Ngoài ra, người Khiết Đan còn coi trọng Trung Hòa, Thượng Tị, Đoan Ngọ, Hạ Chí, Trung Nguyên, Trung Thu, Trùng Cửu, Đông Chí, các ngày tết này đều từ Trung Nguyên truyền đến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, phong tục nhìn chung là tương đồng. Tuy nhiên, một số tiết mặc dù có tên tương đồng song bảo lưu phong tục và nghi thức vốn có của người Khiết Đan.[62]:162

Vào thời kỳ đỉnh cao, ước tính Liêu có khoảng 750.000 người Khiết Đan và từ hai đến ba triệu người Hán.[63]

Tầng lớp tinh hoa người Hán có một vị trí nổi bật bên cạnh giới tinh hoa Khiết Đan, như những người mang họ Hàn (韓) là những người bị quân Khiết Đan bắt từ Ký châu và hậu duệ của họ, họ bị Khiết Đan hóa hoàn toàn về mặt ngôn ngữ và văn hóa, phục vụ trên các cương vị quân sự và chính trị cho triều đình Liêu cùng với các gia tộc người Hán bị Khiết Đan hóa khác. Sự trung thành của người Hán tại Liêu đối với các hoàng đế Khiết Đan khiến cho triều Tống thất vọng. Phụ nữ Khiết Đan xuất thân từ hậu thị (Tiêu) gả cho các gia đình người Hán. Hàn Đức Nhượng là một quan lại người Hán, ông có quan hệ gần gũi với hoàng tộc Khiết Đan, tổ tiên của ông phục vụ cho Liêu từ thời Da Luật A Bảo Cơ, thậm chí ông còn có quan hệ tình ái với Thái hậu Tiêu Xước.

Địa vị của phụ nữ Liêu rất khác nhau, so với người Hán thì người Khiết Đan có quan điểm bình đẳng hơn đối với phụ nữ. Người Hán tại Liêu không bị ép buộc phải theo phong tục Khiết Đan, và trong khi một số người bị Khiết Đan hóa, nhiều người còn lại thì không.[64] Không giống như xã hội Hán, mà theo đó có sự tách biệt nghiêm ngặt về trách nhiệm của mỗi giới, và đặt phụ nữ trong một vai trò hết sức phụ thuộc vào nam giới, phụ nữ Khiết Đan ở Liêu được làm nhiều nhiệm vụ tương tự như nam giới Khiết Đan.[65] Phụ nữ Khiết Đan được dạy cách săn bắn, quản lý đàn gia súc, tài chính hay tài sản khi chồng của họ ở ngoài chiến trường.[65][66][67] Phụ nữ thượng tầng Khiết Đan có thể nắm giữ các chức vụ trong chính quyền và quân đội.[67]

Mặt nạ phụ nữ bồi táng thời Liêu

Quyền tự do tình dục của người Khiết Đan cũng hoàn toàn trái ngược với người Hán, song phụ nữ thuộc thượng tầng Khiết Đan cũng phải tuân theo các cuộc hôn nhân sắp xếp như phụ nữ thượng tầng người Hán, trong một số trường hợp là vì mục đích chính trị.[68][69] Tuy nhiên, phụ nữ hạ đẳng của người Khết Đan không phải tuân theo các cuộc hôn nhân sắp đặt, họ sẽ thu hút nam giới cầu hôn bằng cách hát và nhảy múa. Các bài hát như là lời tự giới thiệu, nữ giới kể về vẻ đẹp của họ, vị thế gia đình, và kỹ năng nội trợ. Trinh tiết không phải là một yêu cầu trong hôn nhân của người Khiết Đan, và nhiều phụ nữ Khiết Đan lạm giao trước khi kết hôn, tương phản rõ rệt với suy nghĩ của người Hán.[68] Phụ nữ Khiết Đan có quyền ly dỵ chồng và có thể tái hôn sau khi ly dị.[67]

Bắt cóc nữ giới đã đến tuổi kết hôn phổ biến dưới thời Liêu, theo đó nam giới Khiết Đan thuộc tất cả các tầng lớp xã hội đều tham gia vào hoạt động này, những người bị bắt cóc có thể là người Khiết Đan và Hán. Trong một số trường hợp, đây là một bước trong quá trình tán tỉnh, nơi người nữ sẽ đồng ý với một vụ bắt cóc và tiến tới hành vi giao cấu, và sau đó người bắt cóc và bị bắt cóc sẽ trở về ngôi nhà của người nữ để thông báo ý định kết hôn của họ. Quá trình này được gọi là bái môn (拜門). Trong các trường hợp khác, các vụ bắt cóc là không liên ứng và kết quả là một vụ hiếp dâm.[70]

Tại Liêu, phong tục hứa hôn được nhìn nhận quan trọng ngang, nếu không là hơn, so với kết hôn, và sẽ khó khăn nếu muốn hủy bỏ. Chú rể sẽ cam kết làm việc ba năm trong gia đình cô dâu, và phải trả sính lễ, cho gia đình cô dâu nhiều quá tặng. Sau ba năm, chú rể được phép đưa cô dâu trở về nhà mình, và cô dâu thường sẽ cắt đứt mọi quan hệ với gia đình của cô.[71] Phong tục kết hôn của người Khiết Đan cũng khác biệt nhiều so với người Hán. Đàn ông Khiết Đan thuộc tầng lớp ưu tú có xu hướng kết hôn với những phụ nữ lớn tuổi hơn họ, và thường xảy ra trường hợp vợ lớn tuổi hơn nhiều so với chồng. Trong hoàng tộc Da Luật, độ tuổi kết hôn trung bình (lần đầu) của nam giới là 16, trong khi độ tuổi kết hôn trung bình của nữ giới là từ 16 đến 23. Mặc dù hiếm khi xảy ra, song cũng có các trường hợp nam giới và nữ giới kết hôn khi mới 12 tuổi.[72] Người Khiết Đan có một loại chế độ đa thê đặc biệt là 'thê tỉ muội hôn', theo đó một nam giới có thể kết hôn với hai chị em hoặc nhiều hơn, được tiến hành trong tầng lớp tinh hoa của Liêu.[67][73] Đa thê không bị hạn chế trong thê tỉ muội hôn, một số nam giới có ba vợ hoặc hơn nữa, và chỉ một vài trong số họ là chị em. Thê tỉ muội hôn' tiếp tục tồn tại trong suốt chiều dài của Liêu, bất chấp khi triều đình ban hành các luật cấm.[73] Suốt thời Liêu, tầng lớp ưu tú của Liêu dần chuyển từ đa thê sang phong tục của người Hán là có một vợ và một hoặc nhiều thiếp.[73] Điều này được thực hiện phần lớn là để cho quá trình thừa kế diễn ra êm thấm.[67]

Khoa học kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Về khoa học kỹ thuật, triều Liêu đạt được một số thành tựu. Nền y dược của Liêu có danh tiếng trong một thời gian dài, danh y Liêu Trực Lỗ Cổ soạn viết "Mạch quyết" và "Châm cứu thư", phương pháp trị liệu trong đó vẫn được ứng dụng trong thực tiễn lâm sàng hiện nay. Đương thời, cũng có kỹ thuật bảo tồn thi thể phòng phân hủy, các văn hiến như "Lỗ đình sự thực" của Văn Duy Giản, "Tân Ngũ Đại sử-Tứ Di phụ lục" có ghi lại việc người Khiết Đan sử dụng phương pháp bảo tồn thi thể bằng hương dược, muối hay phèn. Năm 1981, tại kỳ Sát Cáp Nhĩ Hữu Dực Tiền của Nội Mông đã phát hiện ra xác ướp được bảo tồn khá hoàn chỉnh trong mộ thời Liêu.[4]:84

Thiên văn và lịch pháp của Liêu kế thừa lịch pháp Ngũ Đại, tinh lược có cải tiến. Triều Liêu vốn sử dụng 'Điều nguyên lịch" của Mã Trọng Nguyên thời Hậu Tấn, đến năm 995 thì dùng theo "Đại Minh lịch" của một quan viên Liêu là Khả Hãn châu thứ sử Giả Tuấn. Thời Liêu, các hoàng đế xem trọng việc quan trắc hiện tượng thiên văn, con người đương thời cũng cho rằng hiện tượng thiên văn và chính sự có mối liên hệ. Năm 1971, trong ngôi mộ thời Liêu ở Tuyên Hóa của Hà Bắc đã phát hiện được tinh đồ tô màu mô tả về Nhị thập bát túHoàng Đạo thập nhị cung. Năm 1989, trong ngôi mộ Liêu ở Tuyên Hóa lại phát hiện hai bức tinh đồ, so với tinh đồ trước thì có thêm 12 con giáp, đều vẽ giống hình người, từ đó có thể thấy rằng thiên văn học triều Liêu đạt đến mức độ rất cao.[4]:83

Quân chủ[sửa | sửa mã nguồn]


Khiết Đan và Liêu 9161125
Miếu hiệu Thụy hiệu Tên Hán Tên Khiết Đan Danh xưng thường dùng Thời gian tại vị Niên hiệu
Thái Tổ
太祖
Đại Thánh Đại Minh Thần Liệt Thiên hoàng đế
大聖大明神烈天皇帝
Ức
A Bảo Cơ
阿保機
Da Luật A Bảo Cơ
耶律阿保機
27 tháng 2, 9076 tháng 9, 926 Thần Sách (神冊) 916922

Thiên Tán (天贊) 922926
Thiên Hiển (天顯) 926926

Thuần Khâm hoàng hậu
淳欽皇后
Bình
Nguyệt Lý Đóa
月里朵
Thuật Luật Bình
述律平
6 tháng 9, 92611 tháng 12, 927 Thiên Hiển 926927
Thái Tông
太宗
Hiếu Vũ Huệ Văn hoàng đế
孝武惠文皇帝
Đức Quang
德光
Nghiêu Cốt
堯骨
Da Luật Đức Quang
耶律德光
11 tháng 12, 92715 tháng 5, 947 Thiên Hiển 927938

Hội Đồng (會同) 938947
Đại Đồng (大同) 947

Thế Tông
世宗
Hiếu Hòa Trang Hiến hoàng đế
孝和莊憲皇帝
Nguyễn
Ngột Dục
兀欲
Da Luật Nguyễn
耶律阮
16 tháng 5, 9477 tháng 10, 951 Thiên Lộc (天祿) 947951
Mục Tông
穆宗
Hiếu An Kính Chính hoàng đế
孝安敬正皇帝
Cảnh/Minh
璟/明
Thuật Luật
述律
Da Luật Cảnh
耶律璟
11 tháng 10, 95112 tháng 3, 969 Ứng Lịch (應曆) 951969
Cảnh Tông
景宗
Hiếu Thành Khang Tĩnh hoàng đế
孝成康靖皇帝
Hiền
Minh Ỷ
明扆
Da Luật Hiền
耶律賢
13 tháng 3, 96913 tháng 10, 982 Bảo Ninh (保寧) 969979

Càn Hanh (乾亨) 979983

Thánh Tông
聖宗
Văn Vũ Đại Hiếu Tuyên hoàng đế
文武大孝宣皇帝
Long Tự
隆緒
Văn Thù Nô
文殊奴
Da Luật Long Tự
耶律隆緒
14 tháng 10, 98225 tháng 6, 1031 Thống Hòa (統和) 9831012

Khai Thái (開泰) 10121021
Thái Bình (太平) 10211031

Hưng Tông
興宗
Thần Thánh Hiếu Chương hoàng đế
神聖孝章皇帝
Tông Chân
宗真
Chỉ Cốt
只骨
Da Luật Tông Chân
耶律宗真
25 tháng 6, 103128 tháng 8, 1055 Cảnh Phúc (景福) 10311032

Trọng Hy (重熙) 10321055

Đạo Tông
道宗
Hiếu Văn hoàng đế
孝文皇帝
Hồng Cơ/Hoằng Cơ
洪基/弘基
Tra Lạt
查剌
Da Luật Hồng Cơ
耶律洪基
28 tháng 8, 105512 tháng 2, 1101 Thanh Ninh (清寧) 10551064

Hàm Ung (咸雍) 10651074
Đại Khang (大康) 10751084
Đại An (大安) 10851095
Thọ Xương (壽昌) 10951101

Diên Hy
延禧
A Quả
阿果
Da Luật Diên Hy
耶律延禧
12 tháng 2, 110126 tháng 3, 1125 Càn Thống (乾統) 11011110

Thiên Khánh (天慶) 11111120
Bảo Đại (保大) 11211125

Bắc Liêu 11221123
Miếu hiệu Thụy hiệu Tên Hán Tên Khiết Đan Danh xưng thường dùng Thời gian tại vị Niên hiệu
Tuyên Tông
宣宗
Hiếu Chương hoàng đế
孝章皇帝
Thuần
Niết Lý
涅里
Da Luật Thuần
耶律淳
1122 Kiến Phúc (建福) 1122
Phổ Hiền Nữ
Tiêu Phổ Hiền Nữ
蕭普賢女
1122 Đức Hưng (德興) 1122
Nhã Lý
Da Luật Nhã Lý
耶律雅里
1123 Thần Lịch (神曆) 1123
Truật Liệt
Da Luật Truật Liệt
耶律朮烈
1123 Thần Lịch 1123
Tây Liêu 11321218
Miếu hiệu Thụy hiệu Danh xưng Thời gian tại vị Niên hiệu
Đức Tông
德宗
Thiên Hựu hoàng đế
天祐皇帝
Da Luật Đại Thạch
耶律大石
11321143 Diên Khánh (延慶) 11321134

Khang Quốc (康國) 11341143

Cảm Thiên hoàng hậu
感天皇后
Tiêu Tháp Bất Yên
蕭塔不煙
11441150 Hàm Thanh (咸清) 11441150
Nhân Tông
仁宗
Da Luật Di Liệt
耶律夷列
11511163 Thiệu Hưng (紹興) 11511163
Thừa Thiên hoàng hậu
承天皇后
Da Luật Phổ Tốc Hoàn
耶律普速完
11641178 Sùng Phúc (崇福) 11641178
Da Luật Trực Lỗ Cổ
耶律直魯古
11791211 Thiên Hy (天禧) 11791211
Khuất Xuất Luật
屈出律
12111218

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Liên quan đến quốc hiệu triều Liêu, học giả hiện đại nghiên cứu bia mộ đại tự và tiểu tự Khiết Đan, còn phát hiện nhiều loại tổ hợp:
    ①Phần nhiều tại phía trước có thêm "Đại" hoặc "Đại Trung Ương".
    ②có các tổ hợp bắt nguồn từ ba nhóm từ là Hồ Lý Chỉ (胡里只), Khiết Đan và Quốc, như "Hồ Lý Chỉ Khiết Đan Quốc", "Hồ Ly Chỉ Quốc", "Khiết Đan hồ Ly Chỉ Quốc", "Khiết Đan Quốc"; trong đó "Hồ Lý Chỉ" có ý chỉ nhân chúng, "Khiết Đan" có ý chỉ dân tộc.
    và "Cáp Lạt Khiết Đan" (Kara-Khitan) là cách xưng hô của người Ba Tư và Mông Cổ đối với Tây Liêu, không phải người Khiết Đan tự xưng[1]
  2. ^ Lần đầu tiên Khiết Đan cải quốc hiệu thành "Liêu" được các sử sách ghi chép không thống nhất. Tân Ngũ Đại sử•Tứ Di phụ lục" thì viết là năm Thiên Hiển thứ 11 (936); "Tư trị thông giám" quyển 281 thì viết là vào năm Thiên Phúc thứ 2 (937), "Khiết Đan Quốc chí" cũng viết ghi vậy; "Đông đô sự lược" quyển 123 thì viết là vào năm Thiên Phúc thứ 3 (938); Liêu sử•Thái Tông kỷ thì ghi cải năm Đại Đồng thứ nhất (947).
  3. ^ Ngoài ra, còn có các thuyết cho là "lãnh địa", "tên tù trưởng", "đại trung", "Hề Đông", "nước nhiều cỏ tốt".
  4. ^ Vị trí của Khả Đông thành, căn cứ theo "Liêu sử- địa lý chí" thì có ba thuyết: (1)"Hữu Cổ Khả Đông thành" ở Vân Nội châu, nay thuộc chân núi phía bắc của Âm Sơn, tây bắc kỳ Ô Lạp Đặc Trung, Nội Mông. (2) "Bản Cổ Khả Đôn thành" ở Trấn châu, nay thuộc tỉnh Bulgan, Mông Cổ. (3)Hà Đồng thành, nguyên là Khả Đôn thành của Hồi Cốt, nay là phía tây thành phố Choibalsan, Mông Cổ
  5. ^ trên Mộc Diệp Sơn xây dựng miếu thủy tổ Khiết Đan, thờ khả hãn tại miếu nam, thờ khả đôn tại miếu bắc, dựng tượng thần nhị thánh và bát tử. Tương truyền có thần nhân cưỡi bạch mã, thần nữ ngồi trên xe thanh ngưu, theo hai dòng nước hợp lưu Diệp Mộc Sơn, trở thành phối ngẫu, sinh ra 8 người con, dần phát triển thành tám bộ lạc. Mỗi khi tế trước khi hành quân và vào mùa xuân-thu, nhất định phải dùng ngựa trắng và bò đen.[4]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]


  1. ^ Ái Tân Giác La Ô Lạp Hy Xuân〈遼朝國號非「哈喇契丹(遼契丹)」考〉. 載《愛新覚羅烏拉熙春女真契丹学研究》. 京都松香堂出版社. 2009年2月.
  2. ^ 张正明 (1979年8月). 《契丹史略》. 中華書局. 
  3. ^ 徐俊 (2000年11月). 中国古代王朝和政权名号探源. 湖北武昌: 华中师范大学出版社. tr. 255–261. ISBN 7-5622-2277-0. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am an 地球出版社編輯部 (biên tập). 中國文明史 宋遼金時期. 地球出版社. ISBN 957-714-048-3. 
  5. ^ 萬繩楠 (1994年). 《魏晉南北朝史論稿》第十四章〈南北其他民族問題〉. 
  6. ^ 《魏書‧契丹傳》. “「契丹國,在庫莫奚東,異種同類,俱竄於松漠之間。登國中(公元三八六至三九六年),國軍大破之,遂逃迸,與庫莫奚分背。經數十年,稍滋蔓,有部落,於和龍之北數百里,多為寇盜。」” 
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g h i 竺沙雅章 (1998年9月). 征服王朝的時代. 稻香出版社. ISBN 4-311-30446-3. 
  8. ^ Wittfogel and Feng (1946), 398-399.
  9. ^ Wittfogel and Feng (1946), 400-402.
  10. ^ Mote (1999), 41. and Wittfogel and Feng (1946), 401.
  11. ^ 《資治通鑑‧卷第二百七十五‧后唐纪四》. ‘(後唐明宗)帝遣供奉官姚坤告哀于契丹。......(遼太祖)又曰:"吾儿与我虽世旧,然屡与我战急,于今天子则无怨,足以修好。若与我大河之北,吾不复南侵矣。"坤曰:"此非使臣之所得专也。"契丹主怒,囚之,旬馀,复召之,曰:"河北恐难得,得镇、定、幽州亦可也。"给纸笔趣令为状,坤不可,欲杀之,韩延徽谏,乃复囚之。’ 
  12. ^ Twitchett and Tietze (1994), 68. and Mote (1999), 49.
  13. ^ a ă â Mote (1999), 51.
  14. ^ Mote (1999), 49-50.
  15. ^ a ă Twitchett and Tietze (1994), 68.
  16. ^ Mote (1999), 49-51.
  17. ^ Mote (1999), 50.
  18. ^ Mote (1999), 52.
  19. ^ Twitchett and Tietze (1994), 68-69. and Mote (1999), 50-51.
  20. ^ Twitchett and Tietze (1994), 69.
  21. ^ Smith (2006), 377. and Twitchett and Tietze (1994), 69-70.
  22. ^ Mote (1999), 65.
  23. ^ Twitchett and Tietze (1994), 72-74.
  24. ^ a ă 杜正勝 (biên tập). 中國文化史. 
  25. ^ Twitchett and Tietze (1994), 75. and Mote (1999), 52.
  26. ^ a ă â 《遼金簡史》〈第二章 遼朝前期的統治 第一節 疆域的開拓與統治制度的確立〉. 
  27. ^ 《新五代史‧卷七十三‧四夷附录第二》. ‘述律(遼穆宗)闻之,谓其国人曰:"此本汉地,今以还汉,又何惜耶?"’ 
  28. ^ Twitchett and Tietze (1994), 102.
  29. ^ Twitchett and Tietze (1994), 103.
  30. ^ Twitchett and Tietze (1994), 103-104.
  31. ^ Twitchett and Tietze (1994), 111-112.
  32. ^ Twitchett and Tietze (1994), 138-139.
  33. ^ 《辽史•地理志》. “遙輦氏更八部曰鳷利皆部、乙室活部、實活部、納尾部、頻沒部、內會雞部、集解部、奚嗢部,屬縣四十有一。每部設刺史,縣置令。” 
  34. ^ 《辽史•地理志》. “太宗以皇都為上京,升幽州為南京,改南京為東京,聖宗城中京,興宗升雲州為西京,於是五京備焉。又以征伐俘戶建州襟要之地,多因舊居名之;加以私奴置投下州。總京五,府六,州、軍、城百五十有六,縣二百有九,部族五十有二,屬國六十。” 
  35. ^ a ă â b c d 楊若薇 (1992年7月). 契丹王朝政治軍事制度研究. 文津出版社. ISBN 957-9400-57-1. 
  36. ^ 《金史.卷二十四》. “「臨潢府,下,總管府。地名西樓,遼為上京。國初因稱之,天眷元年改為北京。」” 
  37. ^ “遼陽府”. 台灣地名規範資料庫. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010. 
  38. ^ “析津府”. 台灣地名規範資料庫. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010. 
  39. ^ 《遼史 卷四十五 百官誌一》. “「凡遼朝官,北樞密視兵部,南樞密視吏部,北、南二王視戶部,夷離畢視刑部,宣徽視工部,敵烈麻都視禮部,北、南府宰相總之。惕隱治宗族,林牙修文告,於越坐而論議,以象公師,朝廷之上。事簡職專,此遼所以興也。」” 
  40. ^ 《遼史 卷一百零三 文學上 蕭韓家奴李澣》. “「及太祖西征,至於流沙,阻蔔望風悉降,西域諸國皆願入貢。」” 
  41. ^ 《遼史 卷一百零三 文學上 蕭韓家奴李澣》. “「因遷種落,內置三部,以益吾國,不營城邑,不置戎兵。」” 
  42. ^ 《遼史 卷一百零三 文學上 蕭韓家奴李澣》. “「自後一部或叛,鄰部討之,使同力相制,正得馭遠人之道。」” 
  43. ^ 《遼史 卷十六 聖宗七》. “「是月,大食國王復遣使請婚,封王子班郎君胡思裏女可老為公主,嫁之。」” 
  44. ^ 《遼史 卷三十四 兵制》. “「每正軍一名,馬三匹,打草谷、守營鋪家丁各一人。」” 
  45. ^ 《遼史 卷三十四 兵制》. “「人馬不給糧草,日遣打草谷騎四齣抄掠以供之。」” 
  46. ^ a ă 《中國古代經濟簡史》第五章 〈封建社会唐(后期)宋辽金元的经济〉. 复旦大学. 1982年. 
  47. ^ 《辽史》卷13《圣宗纪》. 
  48. ^ 《辽史》卷23《道宗纪》. 
  49. ^ 《遼史•食貨志上》. “契丹舊俗,其富以馬,其強以兵。縱馬于野,弛兵于民。有事而戰,彍騎介夫,卯命辰集。馬逐水草,人仰湩酪,挽強射生,以給日用,糗糧芻茭,道在是矣” 
  50. ^ 《契丹国志 卷24 《王沂公行程录》》. “七十里至柳河馆,河在馆旁,西北有铁冶,多渤海人所居,就河漉沙石,炼得成铁。” 
  51. ^ 《全辽文 卷11 》. “旋出为景州龙池冶监。其冶铁货岁出数不供课。比来为殿罚者殆且十数人。皆谓公性疏放,况能庀于是耶。身族为累,其兆于此。公泊至,督役勉工,亲时铸炼,所收倍于常绩。复更征商榷酒等务。烦剧皆办,所莅称最。” 
  52. ^ a ă â b “外語中的「中國」來自契丹” (bằng tiếng Trung). 中華博物. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  53. ^ “契丹文化” (bằng tiếng Trung). 中國文化研究院. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  54. ^ 洪皓. 《松漠纪闻》卷上. “大辽道宗朝,有汉人讲《论语》,……至‘夷狄之有君’,疾读不敢讲。则曰:‘上世獯鬻、猃狁,荡无礼法,故谓之夷。吾修文物彬彬,不异中华,何嫌之有!’卒令讲之。” 
  55. ^ 《文獻通考 卷345 《契丹》》. “契丹人好鬼而貴日,每月朔日,向東而拜日,其會聚、視國事,皆以東向為尊。四樓門屋,皆向東……。” 
  56. ^ 《遼史•禮誌》. ‘"冬至日,國俗屠白羊、白馬、白雁,各取血合酒。天子拜望黑山,黑山在境北。俗謂國人魂魄,其神司之,猶如中國岱宗雲。每歲是日,五京進人馬紙萬余事,祭山而焚之。俗甚嚴,非祭不敢進山"。’ 
  57. ^ 《契丹禮俗考論》. ‘"行柴冊禮時還要祭日,祭河神,山神和祖神,實際上,這又是一個綜合性很強的祭祀活動"。’ 
  58. ^ 《遼東行部志》. “「遼興宗每萬機之暇,與師對榻,以師不肯作詩,以詩挑之」” 
  59. ^ 《契丹國志‧卷七》. 
  60. ^ 《契丹國志‧卷十四‧齊國王隆裕》. “「自少時慕道,見道士則喜。后為東京留守,崇建宮觀,備極輝麗……又別置道院,延接道流,誦經宣醮,用素饌薦獻,中京往往化之」” 
  61. ^ 韓毅 (2001年2月). 〈略述两宋时期伊斯兰教在西北的传播与发展〉. 青海民族研究(社会科学版). tr. 62頁. 
  62. ^ a ă 王明蓀. 中國通史 宋遼金元史. 九州出版社. ISBN 978-751-080-061-0. 
  63. ^ Ebrey (1996), 166.
  64. ^ Johnson (2011), xvii–xviii.
  65. ^ a ă Johnson (2011), 33–34.
  66. ^ Wittfogel and Feng (1946), 199.
  67. ^ a ă â b c Mote (1999), 76.
  68. ^ a ă Johnson (2011), 85–87.
  69. ^ Johnson (2011), 97.
  70. ^ Johnson (2011), 86–88.
  71. ^ Johnson (2011), 90-92.
  72. ^ Johnson (2011), 98.
  73. ^ a ă â Johnson (2011), 99-100.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]