Nhà Hạ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà Hạ
Vương quốc

2205 TCN–1766 TCN
Vị trí của Nhà Hạ
Nhà Hạ
Thủ đô Đăng Phong
Ngôn ngữ Tiếng Trung cổ đại
Tôn giáo Tôn giáo dân gian Trung Quốc
Chính thể Quân chủ, Phong kiến
Vua
 - 2205-2198 TCN Hạ Vũ
 - 2197-2188 TCN Hạ Khải
Lịch sử
 - Thành lập nhà Hạ bởi Hạ Vũ 2205 TCN
 - Hạ Khải nối ngôi 2197 TCN
 - Nhà Hạ diệt vong 1766 TCN
Tiền tệ Tiền Xu
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
  Đông Tấn 317–420
Thập Lục Quốc
304–439
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay

Nhà Hạ (tiếng Trung: ; bính âm: Xià Cháo; Wade–Giles: Hsia-Ch'ao; khoản thế kỷ 21 TCN - 16 TCN) là triều đại đầu tiên ở Trung Quốc được mô tả trong các ghi chép sử học cổ đại như Sử ký, Trúc thư kỉ niên, Kinh Thư. Triều đại này được vua Đại Vũ [1] huyền thoại thành lập sau khi Thuấn, một trong Ngũ Đế nhường ngôi cho ông. Nhà Hạ sau này được kế thừa bởi nhà Thương.

Theo biên niên sử truyền thống dựa trên các tính toán của Lưu Hâm, nhà Hạ trị vì từ khoảng năm 2205 TCN tới năm 1766 TCN; theo biên niên sử dựa trên Trúc thư kỉ niên, khoảng thời gian này là từ khoảng 1989 TCN tới 1558 TCN. Hạ Thương Chu đoạn đại công trình đưa ra các con số tương ứng là 2070 TCN1600 TCN. Mặc dù một số học giả từng tranh cãi về sự tồn tại của triều đại này[2], nhưng chứng cứ khảo cổ học lại chỉ ra sự tồn tại của nó. Giới sử gia Trung Quốc coi đây là triều đại đầu tiên của Trung Quốc, sau thời Tam hoàng Ngũ đế và trước thời nhà Thương. Tuy nhiên, người ta có quyền đặt nghi vấn đối với triều đại này vì trên thực tế, những văn thư đầu tiên của Trung Quốc được viết ra sau triều đại này cả hơn một nghìn năm.

Những cuộc khai quật gần đây tại các di chỉ thời đại đồ đồng sớm tại Nhị Lí Đầu tại tỉnh Hà Nam, cũng khó tách biệt truyền thuyết ra khỏi thực tế đối với sự tồn tại của triều đại này. Hầu hết các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng văn hoá Nhị Lí Đầu là nơi phát tích của nhà Hạ, tuy vậy các nhà khảo cổ học phương Tây vẫn không đồng ý về mối liên hệ giữa nhà Hạ và văn hoá Nhị Lí Đầu.

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hạ Vũ

Truyền thuyết nói rằng vua Vũ là người hiền, có công đào vét chín con sông trị thủy cho Trung Quốc trong tám năm. Trong thời gian đào vét, ông nhiều lần đi ngang qua nhà mình mà không vào. Vì công lao như vậy, năm 2263 TCN ông được vua Thuấn chọn làm người truyền ngôi.

Năm 2246, vua Thuấn mất, Vũ để tang 3 năm rồi chính thức lên ngôi vua năm 2243 TCN. Sau khi lên ngôi, ông vẫn giữ lệ cử người hiền tài trong nước thay mình như các đời trước mà không có ý định truyền ngôi cho con là Khải - con với người vợ họ Đồ Sơn. Ông dự định cử Cao Dao thay mình làm vua sau này. Nhưng Cao Dao lại mất trước ông, vì vậy ông phong cho con cháu Cao Dao ở đất Anh, đất Lục, rồi lại tiến cử Bá Ích quản lý chính sự để chuẩn bị làm vua.

Năm 2198 TCN, Vũ đi tuần phía đông, đến Cối Kê thì mất. Bá Ích không nhận ngôi vua mà nhường lại cho con Vũ là Khải rồi tránh ra ở phía nam Cơ Sơn. Vì Khải cũng có nhiều uy tín nên thiên hạ nhiều người quy phục. Kể từ đời vua Khải, nhà Hạ giữ lệ cha truyền con nối.

Loạn Hậu Nghệ, Hàn Trác[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hậu NghệHàn Trác

Hậu Nghệ cướp ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2188 TCN, vua Khải mất, con là Thái Khang lên thay. Thái Khang ham chơi bời, thích săn bắn, không quan tâm việc chính sự. Bầy tôi của Thái Khang là Hậu Nghệ - vua nước chư hầu Hữu Cùng - thấy Thái Khang bỏ triều chính nên nảy sinh ý định giành ngôi.

Một hôm Thái Khang rời kinh đô đi săn ở đất Lạc. Hậu Nghệ bí mật điều quân từ nước Hữu Cùng sang tập kích kinh đô nhà Hạ, chiếm được kinh thành. Sau đó Nghệ mang quân ra chặn bờ sông, phong toả lối về của Thái Khang. Thái Khang mang quân trở về bị quân Hữu Cùng chặn đánh, phải bỏ chạy sang nước chư hầu. Thái Khang định tập hợp chư hầu đánh Hậu Nghệ, nhưng các chư hầu đều không phục Thái Khang, vì vậy Thái Khang phải lưu vong ở nước ngoài cho đến hết đời.

Năm 2160 TCN, Thái Khang chết ở nước ngoài, em là Trọng Khang nối ngôi. Năm 2147 TCN, Trọng Khang chết, con là Tướng nối ngôi. Tướng ở nhờ trên đất nước chư hầu là Châm Tầm. Vua Châm Tầm ủng hộ Hạ Tướng khôi phục ngôi báu.

Hàn Trác cướp ngôi Hậu Nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu Nghệ cướp được ngôi nhà Hạ lại tỏ ra kiêu ngạo, bỏ chính sự như Thái Khang trước kia. Hậu Nghệ cũng ham mê săn bắn, chơi gái và thích uống rượu. Một hôm mê chơi gái nên bị bầy tôi của Hậu Nghệ là Hàn Trác thấy Hậu Nghệ như vậy bề ngoài ra sức tán tụng nhưng bên trong toan tính giành ngôi. Hậu Nghệ tin tưởng Hàn Trác, giao cho Trạc toàn bộ việc triều chính để hưởng lạc. Năm 2120 TCN, Hậu Nghệ đi săn, Hàn Trác đi theo. Trác mang rượu dâng lên Hậu Nghệ. Nghệ uống rượu say bất tỉnh, Hàn Trác thừa cơ giết chết cướp ngôi.

Năm 2119 TCN, Hàn Trác nghe tin Hạ Tướng chuẩn bị binh lực ở nước Châm Tầm, bèn sai hai con là Kiêu và Ế mang quân đánh Châm Tầm. Quân Hàn Trác tiến đến Châm Tầm, giết chết Hạ Tướng và tiêu diệt nước này. Vợ Hạ Tướng là Hậu Mân đang có mang, chui qua lỗ tường trốn thoát và sinh ra Thiếu Khang.

Hàn Trác phong cho hai con là Kiêu làm vua chư hầu đất Quá[3] và Ế làm vua chư hầu đất Qua[4].

Thiếu Khang trung hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Con của Hạ Tướng là Thiếu Khang chạy đến nước Hữu Nhưng, được vua Hữu Nhưng giúp sức, muốn mang quân trở về đánh Hàn Trác. Hàn Trác bèn sai Kiêu và Ế đi đánh Hữu Nhưng, song vua Hữu Nhưng bèn thả cho Thiếu Khang bỏ trốn sang nước Hữu Ngu, lại tập hợp lực lượng chống lại Hàn Trác.

Trong khi đó, một quý tộc nhà Hạ khác là Mỵ cũng bỏ trốn đến nước Hữu Cách, tập hợp lực lượng đối phó với Hàn Trác. Năm 2080 TCN, Mỵ liên lạc với Thiếu Khang cùng tiến quân trở về kinh thành.

Hàn Trác tàn bạo mất lòng dân, quân đội dưới quyền không muốn liều chết. Vì thế khi quân của Thiếu Khang và Mỵ kéo đến, quân Hàn Trác bỏ chạy. Trác bị Thiếu Khang bắt sống và xử tử.

Không lâu sau, Thiếu Khang đem quân đi diệt nước Quá, giết chết Kiêu. Thiếu Khang sai con là Trữ đi đánh nước Qua của Ế. Trữ dùng mưu dụ Ế ra ngoài kinh thành giết chết, tiêu diệt nước Qua. Thiếu Khang thống nhất thiên hạ, khôi phục ngôi vua nhà Hạ.

Tính từ Thái Khang đến Thiếu Khang, nhà Hạ bị mất ngôi chính thống 4 đời, lưu lạc ở nước ngoài.

Diệt vong[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hạ KiệtThành Thang

Năm 2058 TCN, vua Thiếu Khang mất, con là Trữ nối ngôi. Từ Trữ truyền 8 đời đến vua Khổng Giáp (1879 - 1849 TCN) thì nhà Hạ bắt đầu suy sụp. Khổng Giáp tin quỷ thần và hoang dâm do đó nhiều chư hầu không thần phục nhà Hạ nữa. Qua 3 đời vua, đến đời thứ 17 nhà Hạ là vua Lý Quý, còn gọi là Kiệt (1826 - 1774 TCN).

Hạ Kiệt tàn bạo, hoang dâm, mê nàng Muội Hỷ, bị dân chúng oán ghét. Các chư hầu nổi dậy chống lại Kiệt, Kiệt mang quân đánh dẹp các bộ tộc đó. Một thủ lĩnh bộ lạc Thương là Thành Thang bị Kiệt bắt giam ở Hạ Đài. Sau một thời gian, Kiệt thả Thương Thang. Thương Thang trở về nước, ra sức làm việc nhân đức, quy tập lực lượng. Các chư hầu quy phục Thương.

Khoảng năm 1767 TCN, Thành Thang dấy quân đánh Hạ Kiệt. Vua Kiệt thua chạy ra đất Minh Điều, nói với thủ hạ:

Ta hối hận không giết Thang nên mới ra nông nỗi này

Thương Thang diệt nhà Hạ, lập ra nhà Thương. Hạ Kiệt ở ngôi 52 năm, bị đày ra Nam Sào 3 năm thì chết tại núi Đình Sơn. Thang phong cho con cháu nhà Hạ, đến thời nhà Chu đất ấy gọi là nước Kỷ.

Khám phá khảo cổ học[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có một cuộc tranh luận về sự liên quan của văn hoá Nhị Lí Đầu với nhà Hạ. Điều tra phóng xạ bằng carbon thiết lập thời đại của di chỉ là từ 2100 đến 1800 TCN, cung cấp bằng chứng vật lý cho sự tồn tại của nhà nước đương thời và có thể tương đương với nhà Hạ như mô tả trong các tác phẩm lịch sử Trung Quốc [5]. Năm 1959, tại một điểm đặt ở Yển Sư đã khai quật được một cung điện lớn mà một số nhà khảo cổ cho là kinh đô của nhà Hạ. Trong những năm 1960 và 1970, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra các điểm đô thị và các ngôi mộ tại các địa điểm được trích dẫn trong văn bản lịch sử cổ đại Trung Quốc về nhà Hạ [6]; ở mức tối thiểu, nhà Hạ đánh dấu một giai đoạn tiến hóa giữa các nền văn hóa đồ đá mới và nền văn minh đô thị Trung Quốc tiêu biểu của nhà Thương [6].

Theo báo cáo vào năm 2011, các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã phát hiện ra phần còn sót lại của một cung đình được xác định niên đại vào năm 1700 TCN tại Nhị Lí Đầu ở tỉnh Hà Nam, làm tăng thêm trọng lượng cho các bằng chứng chứng minh cho sự tồn tại của nhà Hạ [7].

Thần thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quyển 5 của sách Mặc Tử, Mặc Tử mô tả sự sáng lập của nhà Hạ với mô tả của những sự cố tự nhiên. Mặc dù một số nhà sử học Trung Quốc coi mô tả của Mặc Tử là một huyền thoại không có cơ sở lịch sử, những người khác coi nó như là một mô tả bằng thơ của những tác động gây ra bởi sự xáo trộn khí hậu do núi lửa. "Mặt trời mọc vào ban đêm" có thể ám chỉ ánh sáng rực rỡ của núi lửa, "mưa máu" có thể là để chỉ mưa màu đỏ tạo ra bởi tro trong bầu khí quyển, nước biến thành băng có thể biểu thị nhiệt độ mùa hè lạnh bất thường, tro đỏ có thể được nhìn thấy trong đền thờ và giải thích như là một dấu hiệu của sự hiện diện gần đó của con rồng.

Các vị vua Nhà Hạ[sửa | sửa mã nguồn]


Bảng sau đây liệt kê những người cai trị của Hạ theo Sử kí của Tư Mã Thiên. Không giống như danh sách của Tư Mã Thiên về các vua của nhà Thương, hồ sơ của các vua nhà Hạ đã không được tìm thấy trong các cuộc khai quật khảo cổ.

Thuỵ hiệu 諡號1
Thứ tự Cai trị2 Tiếng Trung Quốc Âm Hán Việt Ghi chú
01 45 cũng gọi là Đại Vũ (大禹)
02 10 Khải con của Vũ
03 29 太康 Thái Khang con của Khải
04 13 仲康 Trọng Khang con của Khải, em của Thái Khang
05 28 Tướng cũng gọi là Tướng, con của Trọng Khang
06 23 少康 Thiếu Khang con của Tướng
07 17 Trữ cũng gọi là Mân, Thư hay Trừ, con của Thiếu Khang
08 26 Hòe cũng gọi là Phần, con của Mân
09 18 Mang cũng gọi là Hoang, con của Hòe
10 16 Tiết cũng gọi là Thế, con của Hòe
11 58 不降 Bất Giáng con của Tiết
12 20 Quýnh[8] cũng gọi là Cục hay Ngu, con của Tiết, em của Bất Giáng
13 20 Cần Quốc ngữ: jìn, Phổ Thông thoại: jǐn, con của Quýnh
14 30 孔甲 Khổng Giáp con của Quýnh
15 11 Cao cũng gọi là Cao Câu, con của Khổng Giáp
16 11 Phát cũng gọi là Phát Huệ, con của Cao
17 52 Kiệt cũng gọi là Lý Quý (履癸)
1 Tên vua cai trị thỉnh thoảng được đặt sau tên triều đại, Hạ (夏), ví dụ Hạ Vũ (夏禹).
2 Thời gian cai trị phỏng đoán, theo năm.

Các chư hầu hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, các vua Hạ mang họ Tự, hậu duệ được phong thêm ở các nước chư hầu đã lấy nước làm họ, gồm có (những nước chữ nghiêng đã bị diệt trong chiến tranh với Hậu NghệHàn Trác):

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên những điều chưa biết - Hạ bản kỷ, Bùi Hạnh Cẩn - Việt Anh dịch (2005), NXB Văn hoá thông tin
  • Chu Mục, Trần Thâm chủ biên (2003), 365 truyện cổ sử chọn lọc Trung Quốc, tập 1, NXB Thanh niên
  • Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành (1998), Cố sự Quỳnh Lâm, NXB Thanh Hoá

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mungello, David E. The Great Encounter of China and the West, 1500–1800 Rowman & Littlefield; 3 edition (28 Mar 2009) ISBN 978-0-7425-5798-7 p.97.
  2. ^ Beck, Roger B.; Linda Black, Larry S. Krieger, Phillip C. Naylor, Dahia Ibo Shabaka, (1999). World History: Patterns of Interaction. Evanston, IL: McDougal Littell. ISBN 0-395-87274-X. 
  3. ^ Sơn Đông
  4. ^ Hà Nam, Trung Quốc
  5. ^ Fairbank, John K. China: A New History. Cambridge: Harvard University Press, 1992, page 35.
  6. ^ a ă “China – the ancient dynasties”. Library of Congress Country Studies. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2012. 
  7. ^ “China finds 3,600-year-old palace”. People's Daily Online. 13 tháng 12 năm 2011. 
  8. ^ Cũng có tài liệu chép là Biển