Chu Vũ vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chu Vũ Vương)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chu Vũ Vương
周武王
Vua Trung Quốc (chi tiết...)
King Wu of Zhou.jpg
Chu Vũ Vương qua nét vẽ của Mã Lân (馬麟), một họa sĩ vào thời Tống.
Thiên tử nhà Chu
Trị vì 1122 TCN – 1116 TCN
hoặc 1046 TCN – 1043 TCN
hoặc 1027 TCN - 1025 TCN
Tiền nhiệm Chu Văn Vương
Kế nhiệm Chu Thành Vương
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên thật Cơ Phát
Thụy hiệu Vũ Vương
Triều đại Nhà Tây Chu
Thân phụ Cơ Xương
Thân mẫu Thái Tự
Sinh 1217 TCN
Trung Quốc
Mất 1116 TCN
Trung Quốc

Chu Vũ Vương (chữ Hán: 周武王; trị vì: 1134 – 1116 TCN[1][2] hoặc 1046 TCN – 1043 TCN[3] hoặc 1027 TCN - 1025 TCN [4]), tên thật là Cơ Phát (姬發) hay Tây Bá Phát, là vị vua sáng lập nhà Tây Chu trong lịch sử Trung Quốc. Ông đã lật đổ vua Trụ tàn bạo của nhà Thương, và thành lập triều đại lâu dài nhất của Trung Quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ Phát là con thứ hai của Tây bá hầu Cơ Xương. Người anh cả của Cơ Phát là Bá Ấp Hiếu đã mất sớm. Cơ Phát có 8 người em cùng mẹ là: Quản Thúc Tiên, Chu Công Đán, Sái Thúc Độ, Thúc Chấn Đạc, Thành Thúc Vũ, Hoắc Thúc Xử, Khang Thúc Phong, Đam Thúc Tái. Trong 10 anh em thì Cơ Phát và Cơ Đán là 2 người giỏi nhất, thường giúp Cơ Xương xử lý công việc.

Theo sách Lễ Ký, Văn vương thế tử thì Cơ Phát chỉ kém cha 14 tuổi. Khi cha mất, ông đã 84 tuổi. Như vậy Cơ Phát sinh khoảng năm 1217 TCN[1].

Kế thừa cơ nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Cơ Xương còn sống đã xúc tiến nhiều việc để đánh nhà Ân lúc đó do Trụ vương tàn bạo cai trị. Cơ Xương dùng Khương Tử Nha làm quân sư, dẫn quân vượt Hoàng Hà về phía đông, diệt một số chư hầu thân với Trụ như Côn Ngô, Sùng, chiếm cứ phần lớn vùng phía nam sông Vị, hình thành cục diện “ba phần thiên hạ có hai phần”. Nền cai trị của Chu ở lưu vực sông Vị Thuỷ được củng cố.

Năm 1135 TCN, Cơ Xương mất, Cơ Phát lên thay ngôi Tây Bá. Ông chú trọng củng cố nội chính, tiếp tục dùng Khương Tử Nha làm quân sư, cho các em là Cơ Đán làm Tể tướng, Thiệu công và Tất công làm cận thần phò trợ.

Ra quân diệt Trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1126 TCN, ông dời đô từ đất Phong về đất Cảo[5], biểu hiện ý chí tiến về đông. Ông làm lễ tế Tây bá Cơ Xương ở đất Tất, rồi mang theo bài vị thờ Cơ Xương đi theo, tập hợp chư hầu ở Mạnh Tân. Khi Cơ Phát đang tập hợp binh sĩ thì có hai người con vua nước Cô Trúc là Bá DiThúc Tề đến xin gặp mặt và can rằng:

Vua Trụ tuy là hôn quân bạo ngược nhưng vẫn là chúa của thiên hạ, nước Chu chẳng qua chỉ xếp hàng trong số các chư hầu. Nay ngài khởi binh, chẳng khác nào thần tử lại đi hại quân vương, như vậy có gọi là nhân chăng?

Cơ Phát biết hai người vì trung thành với nhà Thương mà đến nên ông không nghe theo lời can của họ. Sau khi điểm duyệt quân lính, Cơ Phát nhận thấy thời cơ chưa tốt nên tạm lui quân về.

Trong khi đó, Trụ vương ngày càng mất lòng người. Trụ tàn ác giết vương tử Tỷ Can vì can thẳng, giam cầm đại thần Cơ Tử. Thiếu sư Cường thấy vậy liền chạy sang với Cơ Phát.

Năm 1124 TCN, Cơ Phát thấy thời cơ đã đến, bèn tuyên cáo với các nước chư hầu:

Vua Ân tội ác nghiêm trọng, không thể không mang quân đánh dẹp.

Rồi ông khởi binh gồm 300 cỗ xe, 45000 quân mặc giáp, 3000 dũng sĩ đi đánh Ân.

Tháng 12 âm lịch năm 1124 TCN, chư hầu đều đến hội ở Mạnh Tân. Cơ Phát viết thiên “Thái thệ” để hiểu dụ mọi người, nêu rõ tội ác của Trụ vương để có lý do khởi binh. Ngày Giáp tý tháng 2 âm lịch năm 1123 TCN, Cơ Phát tiến đến Mục Dã, ngoại ô kinh đô Triều Ca. Đại quân làm lễ thề trên cánh đồng lớn cách kinh đô Triều Ca của nhà Ân 70 dặm[6]. Cơ Phát tay phải cầm búa lớn mày vàng, tay trái cầm cờ mao trắng đứng chỉ huy, cùng toàn quân tuyên thệ. Sau đó ông ra lệnh tấn công.

Trụ vương vội mang vài chục vạn quân ra nghênh địch. Quân Trụ tuy đông hơn nhưng binh sĩ chán ghét vua không muốn đánh, đặc biệt trong hàng ngũ quân Ân có nhiều nô lệ bất mãn vì bị ngược đãi nên đồng loạt bỏ gươm giáo mà chạy, mở đường cho quân của Tây bá Cơ Phát tiến vào.

Trụ vương thấy toàn quân tan rã, biết là đại cục đã hỏng, bèn chạy đến Lộc Đài, tự thiêu mà chết.

Các chư hầu và dân nhà Ân đồng loạt đến mừng Cơ Phát diệt được Trụ. Cơ Phát mang quân vào thành Triều Ca, đến chỗ Trụ tự vẫn, tự tay bắn 3 phát tên vào thây rồi dùng búa chặt đầu.

Dựng nhà Chu, phong chư hầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chư hầu nhà Chu

Cơ Phát lên ngôi thiên tử, lập ra nhà Chu, tức là vua Chu Vũ vương. Ông truy tôn cha là Cơ Xương làm Chu Văn Vương. Ông làm lễ cáo tế trời đất, cho con của Trụ Vương là Vũ Canh tiếp tục cai trị đất Ân để giữ hương hoả cho nhà Ân. Các vùng xung quanh nhà Ân còn chưa ổn định, nên ông chia làm ba khu vực: phía bắc Triều Ca đến đất Bội[7] phong cho em trai là Hoắc Thúc; phía đông Triều Ca là đất Vệ[8] ông phong cho em là Quản Thúc, phía tây Triều Ca là đất Dung[9] ông phong cho người em khác là Sái Thúc. Trên danh nghĩa, ba người em ông có trách nhiệm giúp đỡ Lộc Phủ nhưng trên thực tế là để giám sát, vì vậy sử gọi là “Tam giám”.

Chu Vũ vương tha cho Cơ Tử bị Trụ giam cầm ra khỏi tù, sai Nam Cung Quát cứu trợ cho những người dân nghèo. Sau đó ông sai Hoằng Yêu đắp mộ cho đại thần Tỉ Can nhà Ân bị Trụ giết, sai Sử Dật mang chín đỉnh của nhà Ân ra trưng bày. Trước khi trở về tây, ông sai Tôn Chúc tế hồn những binh sĩ tử trận.

Chu Vũ vương nhớ công lao các vua đời trước, ông phong cho con cháu họ làm chư hầu:

Để thưởng công cho các tướng sĩ có công phò trợ diệt Thương, ngoài ba người em trai đã phong làm “Tam giám”, ông phong chư hầu cho các công thần, trong đó các nước lớn là:

Dù đã diệt nhà Ân, Chu Vũ vương vẫn ngày đêm suy nghĩ về cách giữ gìn cơ nghiệp không chợp mắt. Khi bàn bạc với Chu Công Đán, ông nói:

Ta phải nhớ lấy bài học của các triều đại bị diệt vong, muốn an định thiên hạ, chú ý làm tốt việc dân. Xét từ hình thế địa lý, lưu vực sông Lạc, Y là trung tâm thiên hạ, nên dựng đô ở đó.

Vì vậy ông quyết định xây dựng thêm Đông đô ở Lạc Ấp[10]. Tuy nhiên trong thời gian ở ngôi, Chu Vũ vương chưa kịp thực hiện ý định này. Về sau em ông là Chu Công Đán làm phụ chính đã hoàn tất ý định của ông. Nhà Chu truyền tới đời Chu Bình vương đã chính thức thiên đô về đây.

Chu Vũ vương lên ngôi thiên tử khi tuổi đã cao. Năm 1116 TCN, ông lâm bệnh mất. Con nhỏ của ông là Cơ Tụng lên ngôi, tức là Chu Thành Vương. Em ông là Chu Công Đán làm phụ chính.

Nhà Chu mà Cơ Phát khai nghiệp tồn tại được 867 năm, là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên - Những điều chưa biết, Bùi Hạnh Cẩn và Việt Anh dịch (2007), NXB Văn hóa thông tin, các thiên:
    • Ân bản kỷ
    • Chu bản kỷ
  • Tiêu Lê, Mã Ngọc Chu, Lã Diên Đào (2004), 100 người đàn ông có ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc, NXB Chính trị quốc gia
  • Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành (1998), Cố sự Quỳnh Lâm, NXB Thanh Hoá
  • Tiêu Lê (2000), Những hoàng đế nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, tập 1, NXB Đà Nẵng
  • Nguyễn Khắc Thuần (2001), Các đời đế vương Trung Hoa, NXB Giáo Dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 58
  2. ^ Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành, sách đã dẫn, tr 19
  3. ^ Theo nghiên cứu của dự án Hạ Thương Chu đoạn đại công trình của các nhà sử học hiện đại Trung Quốc
  4. ^ Nguyễn Khắc Thuần, Các đời đế vương Trung Hoa, tr 20
  5. ^ Nay là bờ nam sông Vị, phía tây nam Tây An, Thiểm Tây
  6. ^ Huyện Cấp, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay
  7. ^ Khu vực Bội, huyện Thang Âm, Hà Nam, Trung Quốc
  8. ^ Huyện Kỳ, Hà Nam, Trung Quốc
  9. ^ Tây nam Tân Hương, Hà Nam, Trung Quốc
  10. ^ Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc ngày nay