Thành Thang
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
|
||||||||||||||||||||||||||||||||
Thành Thang (chữ Hán:成湯; trị vì: 1766-1761 TCN[1]) hay Thương Thang, là vị vua sáng lập nhà Thương, triều đại sau nhà Hạ và trước nhà Chu, trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đã lật đổ vua Kiệt tàn bạo của nhà Hạ.
Mục lục |
[sửa] Tên gọi và nguồn gốc
Trong thơ ca hậu duệ người Thương truyền lại, Thành Thang còn được gọi là Vũ Thang, Thiên Ất, Vũ Vương; trong các bản khắc xương cổ xưa thường gọi ông là Đại Ất, Cao Tổ Ất.
Bộ tộc người Thương sinh sống ở lưu vực hạ lưu sông Hoàng Hà. Dòng họ Thương Thang đã nhiều đời làm thủ lĩnh bộ tộc. Tổ tiên 8 đời của ông là Tiết có công giúp vua Vũ nhà Hạ trị thuỷ. Cha Thương Thang là Quý Chủ.
[sửa] Củng cố thực lực
Khi Thương Thang lên làm thủ lĩnh, bộ tộc Thương có kinh tế phát triển khá mạnh. Trong khi đó, triều đình nhà Hạ dưới quyền của vua Kiệt tàn bạo ngày càng mất lòng người. Nhiều bộ tộc nổi dậy chống lại. Thấy nước Thương của Thành Thang giàu mạnh, Kiệt sợ Thương chống lại nên lệnh triệu Thương Thang đến kinh đô rồi bắt và giam cầm ông ở Hạ Đài[2].
Sau một thời gian, Hạ Kiệt tha cho Thương Thang, thả để ông về bộ tộc. Thương Thang quyết tâm phát triển lực lượng để lật đổ sự cai trị của Hạ Kiệt.
Trước tiên, Thang thiên đô sang đất Bạc[3]. Tính từ đời tổ tiên ông là Tiết đến đời ông đã di chuyển đô 8 lần trong 8 đời. Việc thiên đô sang đất Bạc có tác dụng lớn giúp đời sống xã hội trong bộ tộc được ổn định, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp. Trình độ làm nghề nông của bộ tộc Thương khá cao, ông còn cho người sang giúp bộ tộc Cát cày cấy[4].
Sau đó, Thương Thang chú trọng thu dụng nhân tài, sửa sang nội chính. Ông đã mời được Y Doãn về giúp cho mình. Sử ký Tư Mã Thiên nêu ra những thuyết khác nhau về việc Y Doãn đến với Thành Thang. Có thuyết cho rằng thời đó có một bộ lạc là Hữu Sằn gả con gái cho Thang, đi theo hầu có một người hầu là Y Doãn. Thấy Y Doãn có tài, Thương Thang liền cho làm hữu tướng. Tuy nhiên, Sử ký cũng dẫn thuyết khác cho rằng, Y Doãn là ẩn sĩ, Thành Thang nghe tiếng sai người đến mời 5 lần, Y Doãn mới nhận lời ra giúp[5][6].
Sau đó, Thang còn thu dụng một người ở bộ lạc khác đến là Trọng Huỷ, cho làm tả tướng. Ông giao cho Y Doãn và Trọng Huỷ giúp mình xử lý công việc trong bộ lạc. Việc trọng dụng những người ngoài bộ lạc trong chính quyền của ông đã phá vỡ thông lệ nhiều đời chỉ bó hẹp quyền hành trong tay những người nội tộc.
Trong một thời gian, Y Doãn đã bỏ Thương sang làm quan cho Hạ Kiệt, nhưng sau đó thấy Kiệt hoang dâm tàn bạo, khinh rẻ chư hầu nên Y Doãn trở lại với Thành Thang. Thành Thang vẫn một lòng kính trọng và trọng dụng Y Doãn[7]. Có ý kiến trong giới sử học Trung Quốc căn cứ vào Trúc thư kỉ niên, một cuốn biên niên sử cổ của nước Ngụy thời Chiến Quốc được phát hiện đời Tây Tấn cho rằng: Y Doãn thực chất được Thành Thang cử sang làm gián điệp bên nhà Hạ, lợi dụng sự bất mãn của nàng Muội Hỷ khi nàng không còn được Hạ Kiệt sủng ái để lấy tin tức về tình hình Hạ Kiệt. Sau khi nắm được nội tình nhà Hạ, Y Doãn trở về với Thành Thang[8].
[sửa] Liên minh chống Hạ
Để làm yếu nhà Hạ, ông hình thành liên minh chống Hạ Kiệt trên mặt trận ngoại giao. Trong khi hạ Kiệt đã có tiếng tàn bạo, ông ra sức tuyên truyền về đường lối nhân đức của mình để thu phục lòng người. Đồng thời, ông thi hành chính sách hôn nhân để liên kết với các bộ lạc khác. Bộ lạc của Trọng Huỷ từng phục vụ cho nhà Hạ nhưng sau đó đã quay sang thân với Thương hơn. Sau một thời gian, nhiều bộ lạc miền hạ lưu sông Hoàng Hà đã liên minh với Thương để chống Hạ.
Sau khi có được sự ủng hộ của nhiều bộ tộc khác, Thang bắt đầu thực hiện việc thanh trừ các bộ tộc còn thân với nhà Hạ. Khi đó bộ tộc Cát ở gần Bạc đô vẫn liên minh với nhà Hạ, thủ lĩnh là Cát Bá là người tàn bạo, không giữ lễ nghĩa. Sau vài lần dùng lễ qua lại để cho thiên hạ biết sự nhẫn nại của mình đối với Cát Bá nhưng Cát Bá không sửa đổi, Thương Thang ra quân diệt Cát Bá.
Sau khi diệt Cát Bá, ông còn ra quân thực hiện 10 cuộc chinh phạt khác với các bộ lạc là vây cánh của Hạ Kiệt như Bình Chướng Vi[9], Côn Ngô[10]. Trong khi đó Hạ Kiệt vẫn say mê tửu sắc, không quan tâm tới chính sự.
[sửa] Tiêu diệt nhà Hạ
Theo kế sách của Y Doãn, Thương Thang bắt đầu khiêu chiến với nhà Hạ. Ông bỏ không nộp cống cho Hạ Kiệt. Hạ Kiệt nổi giận điều động binh mã 9 bộ tộc phía đông trước sau đánh vào bộ lạc Thương. Ông bèn sai người đến nộp cống. Thấy Thang thuần phục, Kiệt lại bằng lòng cho lui quân.
Thang tranh thủ thời gian tìm cách liên minh và chia rẽ 9 bộ tộc giúp quân cho Hạ Kiệt. Sang năm sau, ông lại bỏ cống nạp. Hạ Kiệt lại tổ chức hội các bộ lạc phụ thuộc ở Hữu Nhung[11] đánh Thương, nhưng lần này các bộ lạc không nghe theo. Bộ lạc Mân lên tiếng phản đối trước tiên. Hạ Kiệt nổi giận bèn mang quân đánh Mân trước. Nhân dân phải phục dịch cho cuộc chiến nặng nề càng oán hận Kiệt hơn trước.
Thấy Kiệt bị sa lầy vào cuộc chiến với tộc Mân, Thang quyết định ra quân diệt Hạ. Ông bố cáo các tội trạng của Hạ Kiệt cho thiên hạ biết và để khích lệ mọi người, ông ban bố lời động viên còn được bảo lưu trong sách Thượng thư[12]:
| “ |
Không phải ta bạo gan phát động cuộc chiến tranh này, mà vì Hạ Kiệt đã phạm nhiều tội ác, trời cao lệnh cho ra đánh hắn |
” |
Năm 1767 TCN, Thương Thang đánh thắng Hạ Kiệt trong trận quyết định ở Minh Điều[13]. Hạ Kiệt thua trận, bị mất ngôi và bị đày ra Nam Sào[14]. Thương Thang thừa thắng tiến lên tiêu diệt nốt thuộc quốc trung thành cuối cùng của Hạ là Tam Tông[15].
Sau khi nghe Y Doãn báo cáo tình hình các chư hầu đã quy phục, Thương Thang trở về đất Thái Quyển, sai Trọng Huỷ làm bản cáo mệnh bố cáo việc diệt Hạ và khuyên nhân dân chú trọng việc cày cấy. Ông chính thức lên ngôi vua, lập ra nhà Thương. Thành Thang ổn định lại xã hội sau thời kỳ chiến tranh, các tộc người Thị, người Khương ở xa cũng đến tiến cống và xưng thần[16].
[sửa] Qua đời
Thành Thang làm vua không lâu. Năm 1761 TCN, ông qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi. Ông làm trưởng tộc Thương từ năm 1783 TCN, chính thức làm vua thay nhà Hạ từ năm 1766 TCN, ở ngôi được 6 năm[17]. Dự án Hạ Thương Chu đoạn đại công trình của các sử gia hiện đại Trung Quốc xác định thời gian bắt đầu triều đại của ông từ năm 1600 TCN, tức là muộn hơn khoảng 160 năm. Triều đại nhà Thương do ông sáng lập tồn tại được 644 năm, lâu thứ hai trong lịch sử Trung Quốc (sau nhà Chu).
Do con trưởng Thành Thang là Thái Đinh mất sớm nên con thứ của ông là Ngoại Bính lên nối ngôi.
[sửa] Xem thêm
[sửa] Tham khảo
- Sử ký Tư Mã Thiên - Những điều chưa biết, Bùi Hạnh Cẩn và Việt Anh dịch (2007), NXB Văn hóa thông tin, các thiên:
- Ân bản kỷ
- Hạ bản kỷ
- Chu Mục, Trần Thâm chủ biên (2003), 365 truyện cổ sử chọn lọc Trung Quốc, tập 1, NXB Thanh niên
- Tiêu Lê (2000), Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, tập 1, NXB Đà Nẵng
- Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành (1998), Cố sự Quỳnh Lâm, NXB Thanh Hoá
[sửa] Chú thích
- ^ Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành, sách đã dẫn, tr 15
- ^ Huyện Vũ, Hà Nam, Trung Quốc
- ^ Phía bắc huyện Thương Khâu, Hà Nam, Trung Quốc
- ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 6
- ^ Sử ký, bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn và Việt Anh, sách đã dẫn, tr 58
- ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 6
- ^ Chu Mục, Trần Thâm, sách đã dẫn, tr 44
- ^ Kỳ Ngạn Thần, sách đã dẫn, tr 51
- ^ Huyện Hoạt, phía đông Hà Nam, Trung Quốc
- ^ Phía đông huyện Hoạt, Hà Nam, Trung Quốc
- ^ Vùng Tế Ninh, Sơn Đông hiện nay
- ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 13
- ^ Miền đông Phong Khâu, Hà Nam, Trung Quốc
- ^ Miền đông nam huyện Thọ, An Huy hiện nay
- ^ Đông bắc Định Đào, Sơn Đông
- ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 13
- ^ Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành, sách đã dẫn, tr 16
| Trước: Thành lập triều đại |
Vua nhà Thương 1766 TCN–1761 TCN |
Sau: Ngoại Bính |
|
||||||||