Sử ký Tư Mã Thiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sử ký Tư Mã Thiên
太史公書
Một bản in cổ năm 1598 của Sử ký.
Một bản in cổ năm 1598 của Sử ký.
Thông tin sách
Tác giả Tư Mã Thiên
司馬遷
Quốc gia Trung Quốc
Ngôn ngữ tiếng Trung/
tiếng Anh/
tiếng Việt (chưa dịch hết)

Sử Ký Trung văn phồn thể: 史記/史记; bính âm: Shǐjì, còn được gọi bằng tên Sách của ông Thái sử (太史公書, Thái sử công thư) là cuốn sử của Tư Mã Thiên được viết từ năm 109 TCN đến 91 TCN, ghi lại lịch sử Trung Quốc từ thời Hoàng Đế thần thoại cho tới thời ông sống. Vì là văn bản lịch sử Trung Quốc có hệ thống đầu tiên, nó ảnh hưởng cực lớn tới việc chép sử và văn chương Trung Quốc sau này, có thể so sánh Tư Mã Thiên với Herodotus và Sử Ký với cuốn Historiai của ông (theo quan điểm người phương Tây).

Tác giả[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tư Mã Thiên

Bối cảnh viết Sử ký[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Không giống các văn bản lịch sử chính thức thời gian sau này, vốn chấp nhận học thuyết Khổng giáo, tuyên bố quyền lực thần thánh của các vị hoàng đế và loại trừ ra ngoài vòng pháp luật mọi âm mưu chiếm ngôi báu, phong cách viết sử tự do và có chủ đích của Tư Mã Thiên đã được nhiều nhà thơ và tiểu thuyết sau này học tập. Đa số các thiên Liệt truyện đều là những đoạn văn miêu tả sống động các nhân vật và sự kiện, vì Tư Mã Thiên đã sử dụng một cách chính xác các câu chuyện lịch sử trong quá khứ làm nguồn thông tin của mình, và có điều chỉnh lại cho đúng với thực tế. Ví dụ, ông viết truyện Kinh Kha ám sát Tần Thuỷ Hoàng trong thiên "Thích khách liệt truyện" dựa trên lời kể của một vị quan trong triều nhà Tần và vụ ám sát xảy ra khi vị quan đó đang có mặt tại đó.

Bên cạnh tính xác thực của sự kiện, nói như lời Tư Mã Thiên, "tôi chỉ thuật lại chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có sáng tác đâu" (thiên Tam đại thế biểu), song tác giả không chỉ thuật lại chuyện xưa một cách lạnh lùng. Ảnh hưởng bút pháp của Xuân Thu, nhưng tính khuynh hướng của Sử ký thể hiện sự khác biệt nhất định. Nếu Xuân Thu xuất phát từ lập trường bảo thủ của quý tộc thì Sử ký lại xuất phát từ lập trường tiến bộ, có những nét phù hợp với tư tưởng và tình cảm của nhân dân[1] đương thời. Sử ký lên án sự tàn bạo của tầng lớp thống trị (Tần Thủy Hoàng, Lưu BangVũ Đế), ca ngợi những nhà thơ yêu nước như Khuất Nguyên, đề cao các dũng sĩ khởi xướng khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc như Trần Thiệp. Tư Mã Thiên viết sử có dụng ý nhằm "xét qua việc làm, tóm tắt trước sau, xét việc hưng vong thành bại", "thấu hiểu sự biến đổi từ xưa đến nay", để "ký thác", để "hả điều căm giận" (trong thiên Báo Nhậm An thư). Điều đó phản ánh sự quan tâm của tác giả đến sự kiện không chỉ nằm ở bản thân sự kiện mà là cả tiến trình của chúng.[2].

Cấu trúc tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Sử ký gồm trên 52 vạn chữ, 130 thiên, xếp loại các thông tin thành 5 phần khác nhau: Bản kỷ, Biểu, Thư, Thế gia và Liệt truyện.

  • 12 thiên Bản kỷ (Quyển 1-12), ghi lại tiểu sử của những vị vua nổi tiếng từ thời vị Hoàng Đế thần thoại cho tới Tần Thuỷ Hoàng và các vị vua của nhà Hạ, nhà Thương, và nhà Chu. Tiểu sử của bốn hoàng đế và một hoàng hậu nhiếp chính (Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ) nhà Tây Hán trước thời ông cũng được cho vào phần này.
  • 10 thiên Biểu (Quyển 13-22) xây dựng bảng thời gian các sự kiện quan trọng.
  • 8 thiên Thư (Quyển 23-30), là những đoạn sử về kinh tế, văn hoá, khoa họctôn giáo trong thời gian sinh sống của các nhân vật trong cuốn sách.
  • 30 thiên Thế gia (Quyển 31-60), ghi lại tiểu sử các vị vua chư hầu nổi tiếng, tầng lớp quý tộc và quan lại đa số thuộc giai đoạn Xuân Thu tới Chiến Quốc.
  • 70 thiên Liệt truyện (Quyển 61-130) đề cập đến nhiều nhân vật, sự việc khác nhau, từ thường dân đến quý tộc, từ chuyện cung đình đến chuyện xảy ra ngoài địa bàn của Trung Quốc. Phần này có tiểu sử nhiều nhân vật quan trọng như Lão Tử, Mặc Tử, Tôn Tử, Kinh Kha, v.v...

Một số khái niệm chủ yếu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "Nhất tự thiên kim" (Một chữ ngàn vàng) - Sử Ký, liệt truyện Lã Bất Vi (呂不韋列傳): Lúc Lã Bất Vi viết xong tác phẩm Lã thị xuân thu, ông để một ngàn nén vàng ở cửa thành Hàm Dương, và nói rằng: Hữu năng tăng tổn nhất tự giả dữ thiên kim (有能增損一字者予千金), nghĩa là nếu ai thêm bớt được một chữ trong tác phẩm ấy, thì ông sẽ thưởng cho ngàn nén vàng.
  2. "Tứ hải thiên hạ" (Bốn biển dưới trời) - Sử Kí, bản kỷ Tần Thủy Hoàng (秦始皇本紀) có viết: Dĩ dưỡng tứ hải thiên hạ chi sĩ phỉ nhiên hương phong (以養四海天下之士斐然鄉風) nghĩa là "để dạy phong-tục văn vẻ cho học trò trong cả nước".
  3. "Danh thật nhất thể" (Tên và thật, cùng một bậc) - Trong Sử Ký, liệt truyện Trương Nghi (張儀列傳) viết: Thị ngã nhất cử nhi danh thật phụ dã (是我一舉而名實附也), nghĩa là "thế là ta làm một việc mà danh và thật tương hợp".
  4. "Tửu trì nhục lâm" (Ao rượu, rừng thịt): Chương Ân Bản Kỷ (殷本紀) của Sử Ký viết về Trụ Vương, nổi tiếng là một ông vua dâm đãng, thường thết nhiều tiệc lớn, làm đầy ao với rượu và treo thịt trên cây trong rừng (以酒為池、縣肉為林).

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lời bàn của Ban Bưu thì Sử ký:

Nhặt kinh, lượm chuyện, phân tán sự việc của một số nhân vật rất đổi sơ lược, có khi xúc phạm đến người ta. Được một điều là sự tìm kiếm cũng khá rộng, sách viết cũng có quán xuyến kinh truyện, rong ruỗi xưa nay, trên dưới đến vài ngàn năm, có thể nói là cần cù siêng năng. Lại nữa, sách bàn phải trái thì sai lầm nhiều so với lời thánh nhân; luận đạo lớn thì để Hoàng lão lên trước, lục kinh xuống sau; kể về du hiệp thì thoái kẻ xử sĩ mà tiến kẻ gian hùng, nói về hóa thực thì đề cao thế lợi mà cho nghèo hèn là đáng khinh bỉ, đó là những điểm thiếu sáng suốt vậy.

Lục Giả thời Hán làm sách Hán Sở xuân thu có nói:

Điều trái phải tuy dựa vào Nho gia làm gốc, song chức vụ Thái sử nguyên từ Đạo gia mà ra; cha của Tư Mã Thiên là Đàm cũng sùng thượng Hoàng lão, cho nên Sử ký tuy có sai lầm về nho thuật, nhưng có thể cho là nổi được cái nghiệp cũ đã cách xa lâu ngày, Huống chi phát phẫn mà làm sách, ý nghĩa khá kích động.

Tuy nhiên theo lời của Mao Khôn thì:

Đọc chuyện du hiệp, thì lập tức muốn coi thường sự sống, đọc truyện Khuất Nguyên, Giả Nghị thì lập tức muốn trào nước mắt, đọc truyện Trang Chu, Lỗ Trọng Liên thì lập tức muốn vất bỏ cuộc đời, đọc truyện Lí Quảng thì lập tức muốn đứng dậy chiến đấu, đọc truyện Thạch Kiến lập tức muốn cúi mình, đọc truyện Tính Lăng Quân, Bình Nguyên Quân thì lập tức muốn nuôi kẻ sĩ.

Ngoài ra theo như Hán Thư đã nói rằng, tuy là một tác phẩm đồ sộ, độc đáo nhưng Sử ký vẫn có chỗ khuyết, nên người viết tiếp nổi lên như bời, các văn nhân đời sau như Giả tiên sinh, Phùng Thương, Lưu Hâm tiếp tục bổ sung, chỉnh lý những chỗi sai sót, nhầm lẫn của Tư Mã Thiên, Hán thư cũng có chỗ từ Lưu Hâm mà ra, cho nên Thôi Thích cho rằng văn Sử ký so với toàn bộ có chỗ trái, so với Hán Thư có chỗ hợp, đó là những chỗ Lưu Hâm viết tiếp thêm vậy. Còn nhiều niên đại xa cách khác nhau chương cú cắt xé ra thì chắc là do những kẻ càn quấy đời sau thêm vào và những người đời sau sao chép viết sai đi một nửa.[3]

Bản in[sửa | sửa mã nguồn]

Sử Ký có khá nhiều bản in khác nhau, bản in sớm nhất hiện tại là bản sao từ những bản bị thất lạc và được lưu hành trong thời Nam Bắc triều. Bản khắc sớm nhất và còn sót lại là bản "Sử Ký Tập Giải" thời Bắc Tống, bản in của Hoàng Thiện Phu thời Nam Tống có lẽ là bản khắc sớm nhất tập hợp chú giải của ba nhà hiện là bản được Trung Hoa thư cục phát hành phổ biến, gồm bản giản thểphồn thể, ngoài ra còn có bản "Tam Gia Chú" (ba nhà chú thích) được ấn bản lần hai và được coi là bản tốt nhất hiện nay.

Bản văn Bạch Thoại làm theo có "Tân Bạch Thoại Sử Ký" do Hàn Triệu Kỳ chú thích. (bản giản thể tự do Trung Hoa thư cục xuất bản, bản phồn thể hay chính thể tự do Đài Bắc Đài Loan Cổ Tịch xuất bản), và "Sử Ký" do Trương Liệt chú thích (Bản giản thể tự do nhà xuất bản Quý Châu Cổ Tịch xuất bản, chính thể tự do Đài Bắc Đài Loan Cổ Tịch xuất bản).

Ngoài ra còn có rất nhiều bản chú giải về Sử Ký trong thời Trung Quốc hiện đại như "Sử Ký cập Chú thích Tổng hợp dẫn đắc"do nhà xuất bản Đại học Harvard Yên Kinh biên soạn, "Sử Ký Tác Dẫn" do Hoàng Phúc Loan biên soạn, "Sử Ký Tác Dẫn" do Lý Hiểu Quang, Lý Ba biên tập, "Sử Ký Nhân danh Tác dẫn" do Chung Hoa biên tập, "Sử Ký Tam gia Chú dẫn thư Tác dẫn" do Đoạn Thư An biên tập, và cuốn "Sử Ký Từ Điển" do Thương Tu Lương chủ biên.

Hiện có rất nhiều bản Sử Ký được tìm thấy rất quý hiếm, có tầm quan trọng như một số bản được liệt kê ở dưới.

Chú dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chú thích, bình luận niên đại trong Sử Ký chủ yếu có ba nhà, một là bản "Sử Ký Tập Giải" của Bùi Nhân thời Lưu Tống, hai là "Sử Ký Tác Ẩn" của Tư Mã Trinh và "Sử Ký Chính Nghĩa" của Trương Thủ Tiết đời Đường, toàn bộ lời bình luận, chú giải đều được cả ba nhà tổng kết từ Sử Ký. "Sử Ký Chí Nghi" của Lương Học Thằng đời Thanh được coi là một trước tác tập hợp các nghiên cứu về Sử Ký. Ở thời Cận đại có cuốn "Sử Ký Hội Chú Khảo Chứng" của học giả Nhật BảnTakigawa Sukekoto biên soạn được coi là một tác phẩm trứ danh. Đương thời còn có cuốn "Sử Ký Tiên Chứng" của Hàn Triệu Kỳ, nhưng tất cả vẫn lấy trước tác của ba nhà xưa chú thích và quyển "Sử Ký Hội Chú Khảo Chứng" làm cơ sở, là tác phẩm chú giải tường tận và chi tiết nhất về Sử Ký. Sau đây là danh sách liệt kê các tác giả chú thích và tác phẩm của họ trong từng triều đại, từng thời kỳ lịch sử.

Tác phẩm Tác giả Triều đại Trung Quốc Nguồn gốc
Sử Ký Tập Giải Bùi Nhân Nam Bắc triều, Lưu Tống
Sử Ký Tác Ẩn Tư Mã Trinh Đường
Sử Ký Chính Nghĩa Trương Tiết Thủ Đường
Hán Thư Chú Nhan Sư Cổ Đường
Sử Thông Lưu Tri Kỷ Đường
Cổ Sử Tô Triệt Bắc Tống
Học Lâm Vương Quan Quốc Bắc Tống
Dung Trai Tùy Bút Hồng Mại Nam Tống
Đông Lai Tập Lữ Tổ khiêm  Nam Tống
Ban Mã Tự Loại Lâu Ky Nam Tống
Ban Mã Dị Đồng Nghê Tư Nam Tống
Tập Học Ký Ngôn Diệp Thích Nam Tống
Hoàng Thị Nhật Sao Hoàng Chấn Nam Tống
Khốn Học Kỉ Vấn Vương Ứng Lân Nam Tống
Hô Nam Di Lão Tập Vương Nhược Hư Nam Tống
Tư Trị Thông Giám Âm Chú Hồ Tam Tỉnh Nam Tống
Nhân Sơn Văn Tập Kim Lý Tường Nam Tống
Đan Duyên Tổng Lục Dương Thận Minh
Sử Ký Khảo Yếu Kha Duy Kỳ Minh
Sử Thuyên Trình Nhất Chi Minh
Chấn Xuyên Tập Quy Hữu Quang Minh
Sử Ký Sao Mao Khôn Minh
Bí Viên Tập Đổng Phân Minh
Sử Ký Bình Lâm Lăng Trĩ Long Minh
Sử Ký Trắc Nghĩa Trần Tử Long Minh
Sử Ký Khảo Trần Nhân Tích Minh
Độn Ngâm Tập Phùng Ban Minh
Tương Phàm Đường Tập Phó Chiêm Hành Minh
Nhật Tri Lục Cố Viêm Vũ Minh
Đắc Thụ Lâu Tạp Sao Tra Thận Hành Thanh
Sử Ký Chú Bổ ChínhVọng Khê Văn Tập Phương Bao Thanh
Nghĩa Môn Độc Thư Ký Hà Trác Thanh
Xuân Thu Đại Sự Biểu Cố Đống Cao Thanh
Độc Sử Ký Thập Biểu Uông Việt Thanh
Bạch Thiên Sơn Phòng Tạp Trứ Vương Mậu Hoành Thanh
Điện Bản Sử Ký Khảo Chứng Trương Chiếu Thanh
Sử Ký Vấn Đáp Hàng Thế Tuấn Thanh
Sử Ký Công Thần Hầu Biểu Khảo Chứng Tề Triệu Nam Thanh
Kinh Sử Vấn Đáp Toàn Tổ Vọng Thanh
Sử Ký Chí Nghi Lương Ngọc Thằng Thanh
Thập Thất Sử Thương Các Vương Minh Thịnh Thanh
Nhị Thập Nhị Sử Tráp Ký Triệu Dực Thanh
Chấp Nhị Sử Khảo Dị Tiễn Đại Hân Thanh
Hán Thư Biện Nghi Tiễn Đại Chiêu Thanh
Tam Thư Chính NgoaNguyệt Biểu Chính Ngoa Vương Nguyên Khải Thanh
Kim Thạch Tụy Biên Vương Sưởng Thanh
Sử Ký Tả Truyện Điêu Đề Trung Tỉnh Tích Đức Thanh
Long Thành Trát KýChung Sơn Trát Ký Lư Văn Siêu Thanh
Tích Bão Hiên Bút Ký Diêu Nãi Thanh
Khảo Tín Lục Thôi Thuật Thanh
Độc Thư Tạp Chí Vương Niệm Tôn Thanh
Kinh Truyện Thích TừKinh Nghĩa Thuật Vấn Vương Dẫn Chi Thanh
Tứ Sử Phát Phục Hồng Lượng Cát Thanh
Độc Thư Tùng Lục Hồng Di Huyên Thanh
Hán Thư Sơ Chứng Thẩm Khâm Hàn Thanh
Sử Ký Lễ Trắc Lâm Bá Đồng Thanh
Đồng Uất Đẩu Hiên Tùy Bút Thẩm Đào Thanh
Cảnh Cư Tập Hoàng Thức Tam Thanh
Bộc Thư Tạp Ký Tiễn Thái Cát Thanh
Giáo San Sử Ký Trát KýThư Nghệ Thất Tùy Bút Trương Văn Hổ Thanh
Cầu Khuyến Trai Độc Thư Lục Tăng Quốc Phiên Thanh
Sử Ký Trát Ký Quách Tung Đảo Thanh
Hán Thư Chú Bổ Chính Chu Thọ Xương Thanh
Hồ Lâu Bút Đàm Du Việt Thanh
Việt Man Đường Nhật Ký Lý Từ Minh Thanh
Sử Ký Hán Thư Tỏa Ngôn Thẩm Gia Bản Thanh
Hán Thư Bổ Chú Vương Tiên Khiêm Thanh
Sử Ký Tham Nguyên Thôi Thích Thanh
Sử Ký Hội Chú Khảo Chứng Takigawa Sukekoto Minh Trị
Quan Đường Tập Lâm Vương Quốc Duy Thanh
Sử Ký Đính Bổ Lý Lạp Trung Hoa Dân Quốc
Sử Lâm Tạp Thức Cố Hiệt Cương Trung Hoa Dân Quốc
Sử Ký Tân ChứngHán Thư Tân Chứng Trần Trực Trung Hoa Dân Quốc

Các bản dịch tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Nhị thập tứ sử
STT Tên sách Tác giả Số quyển
1 Sử ký Tư Mã Thiên 130
2 Hán thư Ban Cố 100
3 Hậu Hán thư Phạm Diệp 120
4 Tam quốc chí Trần Thọ 65
5 Tấn thư Phòng Huyền Linh
(chủ biên)
130
6 Tống thư Thẩm Ước 100
7 Nam Tề thư Tiêu Tử Hiển 59
8 Lương thư Diêu Tư Liêm 56
9 Trần thư Diêu Tư Liêm 36
10 Ngụy thư Ngụy Thâu 114
11 Bắc Tề thư Lý Bách Dược 50
12 Chu thư Lệnh Hồ Đức Phân
(chủ biên)
50
13 Tùy thư Ngụy Trưng
(chủ biên)
85
14 Nam sử Lý Diên Thọ 80
15 Bắc sử Lý Diên Thọ 100
16 Cựu Đường thư Lưu Hú
(chủ biên)
200
17 Tân Đường thư Âu Dương Tu,
Tống Kỳ
225
18 Cựu Ngũ Đại sử Tiết Cư Chính
(chủ biên)
150
19 Tân Ngũ Đại sử Âu Dương Tu
(chủ biên)
74
20 Tống sử Thoát Thoát
(chủ biên)
496
21 Liêu sử Thoát Thoát
(chủ biên)
116
22 Kim sử Thoát Thoát
(chủ biên)
135
23 Nguyên sử Tống Liêm
(chủ biên)
210
24 Minh sử Trương Đình Ngọc
(chủ biên)
332
- Tân Nguyên sử Kha Thiệu Văn
(chủ biên)
257
- Thanh sử cảo Triệu Nhĩ Tốn
(chủ biên)
529

Đến nay, Sử ký vẫn chưa được dịch trọn bộ ra tiếng Việt. Có các bản dịch phổ biến sau:

  • Bản dịch của Nhữ Thành (tức Phan Ngọc), được tái bản nhiều lần từ những năm 1960 tới năm 1988 (Nxb Văn học). Tái bản năm 1999, ký tên thật Phan Ngọc và bổ sung thêm một số thiên như (Hiếu Văn bản kỷ, Tấn Thế gia, Ngô Thái Bá thế gia, Triệu Thế gia, Tề thế gia) cùng một số liệt truyện (Hung Nô, Cam Mậu - Sư Lý Tử, Mạnh Tử - Tuân Khanh, Lỗ Trọng Liên, Ninh hạnh, Lưu Kính - Thúc Tôn Thông, Viên Áng - Tiều Thố)
  • Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê - Giản Chi (Sài Gòn, trước 1975). Bản dịch này dịch ít hơn so với bản của Phan Ngọc và nhiều thiên dịch không đủ.
  • Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn - Việt Anh (Nxb Văn hóa Thông tin, 2005): Thực chất là bản bổ sung cho bản của Phan Ngọc vì hai dịch giả này dịch thêm các bản kỷ: Ngũ Đế, Hạ, Thương, Chu, Tần [4]. Chính các dịch giả cũng lấy tên gọi của bản dịch theo tinh thần đó: "Sử ký Tư Mã Thiên - Những điều chưa biết", tức là dụng ý cung cấp cho người đọc một số trong những thiên Sử ký trước đây chưa được dịch.

Dù vậy, Sử ký vẫn chưa được dịch hoàn chỉnh với những thiên các dịch giả đã dịch xong. Tổng số các thiên đã dịch chưa tới một nửa nguyên bản mà Tư Mã Thiên đã viết.

Tác phẩm phái sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Vì là bộ sách ghi chép sử đầy đủ đầu tiên còn lưu truyền lại, Sử ký Tư Mã Thiên là tư liệu cho rất nhiều người sau này sử dụng, đặc biệt nở rộ các tác phẩm dựa lịch sử viết vào thời nhà Minh-Thanh.

Kịch nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ điển văn học (bộ mới), trang 1571, Nhà xuất bản Thế giới, 2005.
  2. ^ Từ điển văn học (bộ mới), đã dẫn.
  3. ^ Hán văn học sử cương yếu, trích trong Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn, trang 416, 417, NXB ĐHQG Hà Nội
  4. ^ Phần nước Tần từ lập quốc cho tới trước Thủy Hoàng là một bản kỷ riêng, thiên Tần Thủy Hoàng bản kỷ là thiên riêng và dịch đủ - thiên Tần Thủy Hoàng bản kỷ, bản dịch Phan Ngọc lược bỏ vài đoạn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tư Mã Thiên (1993), Records of the Grand Historian of China. Chin Dynasty. Translated by Burton Watson (New York, Columbia University Press). ISBN 0-231-08168-5 (hbk); ISBN 0-231-08169-3 (pbk)
  • Tư Mã Thiên (1993), Records of the Grand Historian of China. Han Dynasty II. (Revised Edition). Translated by Burton Watson (New York, Columbia University Press). ISBN 0-231-08168-5 (hbk); ISBN 0-231-08167-7 (pbk)
  • Tư Mã Thiên (1961), Records of the grand historian of China, Translated from the Shih chi of Ssu-ma Ch'ien by Burton Watson (New York: Columbia University Press). ISBN 0-231-08165-0
  • Tư Mã Thiên (1994), The Grand Scribe’s Records I: the basic annals of pre-Han China (editor—Nienhauser W.H. Jr.) (Bloomington: Đại học Indiana Press). (An annotated translation.)
  • Tư Mã Thiên (1994), The Grand Scribe’s Records VII: the memoirs of pre-Han China (editor—Nienhauser W.H. Jr.) (Bloomington: Đại học Indiana Press). (An annotated translation.)
  • Hulsewé A.F.P. (1993), "Shih chi", Early Chinese Texts: a bibliographical guide (editor—Loewe M.) p. 405–414 (Berkeley: Society for the Study of Early China).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]