Sử ký Tư Mã Thiên
| Sử ký Tư Mã Thiên 太史公書 |
|
|---|---|
Một bản in cổ năm 1598 của Sử ký. |
|
| Tác giả | Tư Mã Thiên 司馬遷 |
| Quốc gia | Trung Quốc |
| Ngôn ngữ | tiếng Trung/ tiếng Anh/ tiếng Việt (chưa dịch hết) |
Sử Ký (chữ Hán chính thể: 史記/史记, latin hóa: Shǐjì), còn được gọi bằng tên Sách của ông Thái sử (太史公書, Thái sử công thư) là cuốn sử của Tư Mã Thiên được viết từ năm 109 TCN đến 91 TCN, ghi lại lịch sử Trung Quốc từ thời Hoàng Đế thần thoại cho tới thời ông sống. Vì là văn bản lịch sử Trung Quốc có hệ thống đầu tiên, nó ảnh hưởng cực lớn tới việc chép sử và văn chương Trung Quốc sau này, có thể so sánh Tư Mã Thiên với Herodotus và Sử Ký với cuốn Historiai của ông (theo quan điểm người phương Tây).
Mục lục |
Tác giả [sửa]
Bối cảnh viết Sử ký [sửa]
Đặc điểm [sửa]
Không giống các văn bản lịch sử chính thức thời gian sau này, vốn chấp nhận học thuyết Khổng giáo, tuyên bố quyền lực thần thánh của các vị hoàng đế và loại trừ ra ngoài vòng pháp luật mọi âm mưu chiếm ngôi báu, phong cách viết sử tự do và có chủ đích của Tư Mã Thiên đã được nhiều nhà thơ và tiểu thuyết sau này học tập. Đa số các thiên Liệt truyện đều là những đoạn văn miêu tả sống động các nhân vật và sự kiện, vì Tư Mã Thiên đã sử dụng một cách chính xác các câu chuyện lịch sử trong quá khứ làm nguồn thông tin của mình, và có điều chỉnh lại cho đúng với thực tế. Ví dụ, ông viết truyện Kinh Kha ám sát Tần Thuỷ Hoàng trong thiên “Thích khách liệt truyện” dựa trên lời kể của một vị quan trong triều nhà Tần và vụ ám sát xảy ra khi vị quan đó đang có mặt tại đó.
Bên cạnh tính xác thực của sự kiện, nói như lời Tư Mã Thiên, “tôi chỉ thuật lại chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có sáng tác đâu” (thiên Tam đại thế biểu), song tác giả không chỉ thuật lại chuyện xưa một cách lạnh lùng. Ảnh hưởng bút pháp của Xuân Thu, nhưng tính khuynh hướng của Sử ký thể hiện sự khác biệt nhất định. Nếu Xuân Thu xuất phát từ lập trường bảo thủ của quý tộc thì Sử ký lại xuất phát từ lập trường tiến bộ, có những nét phù hợp với tư tưởng và tình cảm của nhân dân[1] đương thời. Sử ký lên án sự tàn bạo của tầng lớp thống trị (Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang và Vũ Đế), ca ngợi những nhà thơ yêu nước như Khuất Nguyên, đề cao các dũng sĩ khởi xướng khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc như Trần Thiệp. Tư Mã Thiên viết sử có dụng ý nhằm “xét qua việc làm, tóm tắt trước sau, xét việc hưng vong thành bại”, “thấu hiểu sự biến đổi từ xưa đến nay”, để “ký thác”, để “hả điều căm giận” (trong thiên Báo Nhậm An thư). Điều đó phản ánh sự quan tâm của tác giả đến sự kiện không chỉ nằm ở bản thân sự kiện mà là cả tiến trình của chúng.[2].
Cấu trúc tác phẩm [sửa]
Sử ký gồm trên 52 vạn chữ, 130 thiên, xếp loại các thông tin thành 5 phần khác nhau: Bản kỷ, Biểu, Thư, Thế gia và Liệt truyện.
- 12 thiên Bản kỷ (Quyển 1-12), ghi lại tiểu sử của những vị vua nổi tiếng từ thời vị Hoàng Đế thần thoại cho tới Tần Thuỷ Hoàng và các vị vua của nhà Hạ, nhà Thương, và nhà Chu. Tiểu sử của bốn hoàng đế và một hoàng hậu nhiếp chính (Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ) nhà Tây Hán trước thời ông cũng được cho vào phần này.
- 10 thiên Biểu (Quyển 13-22) xây dựng bảng thời gian các sự kiện quan trọng.
- 8 thiên Thư (Quyển 23-30), là những đoạn sử về kinh tế, văn hoá, khoa học và tôn giáo trong thời gian sinh sống của các nhân vật trong cuốn sách.
- 30 thiên Thế gia (Quyển 31-60), ghi lại tiểu sử các vị vua chư hầu nổi tiếng, tầng lớp quý tộc và quan lại đa số thuộc giai đoạn Xuân Thu tới Chiến Quốc.
- 70 thiên Liệt truyện (Quyển 61-130) đề cập đến nhiều nhân vật, sự việc khác nhau, từ thường dân đến quý tộc, từ chuyện cung đình đến chuyện xảy ra ngoài địa bàn của Trung Quốc. Phần này có tiểu sử nhiều nhân vật quan trọng như Lão Tử, Mặc Tử, Tôn Tử, Kinh Kha, v.v...
| Cấu trúc chi tiết Sử ký của Tư Mã Thiên | ||
|---|---|---|
| TT | Tựa đề | Ghi chú |
| Bản kỷ (本紀) | ||
| 1. | Ngũ đế bản kỷ (五帝本紀) | Ghi chép về Ngũ đế bắt đầu từ Hoàng Đế |
| 2. | Hạ bản kỷ (夏本紀) | Ghi chép về nhà Hạ |
| 3. | Ân bản kỷ (殷本紀) | Ghi chép về nhà Thương (Ân) |
| 4. | Chu bản kỷ (周本紀) | Ghi chép về nhà Chu |
| 5. | Tần bản kỷ (秦本紀) | Ghi chép về nước Tần |
| 6. | Tần Thủy Hoàng bản kỷ (秦始皇本紀) | Ghi chép về Tần Thủy Hoàng (221-210 TCN) |
| 7. | Hạng Vũ bản kỷ (項羽本紀) | Ghi chép về Hạng Vũ |
| 8. | Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀) | Ghi chép về Hán Cao Tổ Lưu Bang (206-195 TCN) |
| 9. | Lã Thái hậu bản kỷ (呂太后本紀) | Ghi chép về Lã hậu (nắm quyền 195-180 TCN) |
| 10. | Hiếu Văn bản kỷ (孝文本纪) | Ghi chép về Hán Văn đế (179-157 TCN) |
| 11. | Hiếu Cảnh bản kỷ (孝景本纪) | Ghi chép về Hán Cảnh đế (156-141 TCN) |
| 12. | Hiếu Vũ bản kỷ (孝武本纪) | Ghi chép về Hán Vũ đế (140-87 TCN) |
| Biểu (表) | ||
| 13. | Tam đại thế biểu (三代世表) | Phả hệ của ba thời Hạ, Thương, Chu |
| 14. | Thập nhị chư hầu niên biểu (十二諸侯年表) | Biên niên sử của 12 nước chư hầu thời Xuân Thu |
| 15. | Lục quốc niên biểu (六國年表) | Biên niên sử của 6 nước thời Chiến Quốc |
| 16. | Tần Sở chi tế nguyệt biểu (秦楚之際月表) | Biên niên sử theo tháng của nước Tần và nước Sở |
| 17. | Hán hưng dĩ lai chư hầu vương niên biểu (漢興以來諸侯王年表) | Biên niên sử của các vương thời đầu nhà Hán |
| 18. | Cao Tổ công thần hầu giả niên biểu (高祖功臣侯者年表) | Biên niên sử về các công hầu thời Hán Cao Tổ (206-195 TCN) |
| 19. | Huệ Cảnh nhàn hầu giả niên biểu (惠景閒侯者年表) | Biên niên sử về các công hầu thời Hán Huệ Đế đến Hán Cảnh Đế (194-141 TCN) |
| 20. | Kiến Nguyên dĩ lai hầu giả niên biểu (建元以來侯者年表) | Biên niên sử về các công hầu thời Kiến Nguyên của Hán Vũ Đế (140-135 TCN) |
| 21. | Kiến Nguyên dĩ lai vương tử hầu giả niên biểu (建元已来王子侯者年表) | Biên niên sử về các vương tử và hầu giả thời Kiến Nguyên |
| 22. | Hán hưng dĩ lai tương tương danh thần niên biểu (漢興以來將相名臣年表) | Biên niên sử về các quan khanh thời đầu nhà Hán |
| Thư (書) | ||
| 23. | Lễ thư (禮书) | |
| 24. | Nhạc thư (樂书) | |
| 25. | Luật thư (律书) | |
| 26. | Lịch thư (曆书) | |
| 27. | Thiên quan thư (天官书) | Ghi chép về thiên văn học |
| 28. | Phong thiện thư (封禪书) | Ghi chép về lễ tế Trời Đất |
| 29. | Hà cừ thư (河渠书) | Ghi chép về sông ngòi, kênh đào |
| 30. | Bình chuẩn thư (平準书) | Ghi chép về tham quan |
| Thế gia (世家) | ||
| 31. | Ngô Thái Bá thế gia (吳太伯世家) | Ghi chép về Ngô Thái Bá và nước Ngô |
| 32. | Tề Thái công thế gia (齊太公世家) | Ghi chép về Tề Thái công (hay Khương Tử Nha) và nước Tề |
| 33. | Lỗ Chu công thế gia (魯周公世家) | Ghi chép về Lỗ Chu công và nước Lỗ |
| 34. | Yên Thiệu công thế gia (燕召公世家) | Ghi chép về Yên Thiệu công nước Yên |
| 35. | Quản Sái thế gia (管蔡世家) | Ghi chép về Quản Thúc Tiên, nước Sái và nước Tào |
| 36. | Trần Kỷ thế gia (陳杞世家) | Ghi chép về nước Trần và nước Kỷ |
| 37. | Vệ Khang Thúc thế gia (衛康叔世家) | Ghi chép về Vệ Khang Thúc và nước Vệ |
| 38. | Tống Vi Tử thế gia (宋微子世家) | Ghi chép về Tống Vi Tử và nước Tống |
| 39. | Tấn thế gia (晉世家) | Ghi chép về nước Tấn |
| 40. | Sở thế gia (楚世家) | Ghi chép về nước Sở |
| 41. | Việt vương Câu Tiễn thế gia (越王句踐世家) | Ghi chép về Câu Tiễn vua nước Việt |
| 42. | Trịnh thế gia (鄭世家) | Ghi chép về nước Trịnh |
| 43. | Triệu thế gia (趙世家) | Ghi chép về nước Triệu |
| 44. | Ngụy thế gia (魏世家) | Ghi chép về nước Ngụy |
| 45. | Hàn thế gia (韓世家) | Ghi chép về nước Hàn |
| 46. | Điền Kính Trọng Hoàn thế gia (田敬仲完世家) | Ghi chép về nước Tề của họ Điền (Điền Tề) |
| 47. | Khổng Tử thế gia (孔子世家) | Ghi chép về Khổng Tử |
| 48. | Trần Thiệp thế gia (陳涉世家) | Ghi chép về Trần Thắng |
| 49. | Ngoại thích thế gia (外戚世家) | Ghi chép về họ ngoại của vua nhà Hán gồm Lã hậu, Bạc Cơ (mẹ Hán Văn Đế), Đậu Y (vợ Hán Văn đế), Bạc hoàng hậu (vợ Hán Cảnh Đế), Vương Chí (vợ Cảnh đế, mẹ Hán Vũ Đế), Trần Kiều (vợ Vũ đế), Vệ Tử Phu (vợ Vũ đế) |
| 50. | Sở Nguyên vương thế gia (楚元王世家) | Ghi chép về Sở Nguyên vương |
| 51. | Kinh Yên thế gia (荊燕世家) | Ghi chép về Kinh vương Lưu Cổ, Yên vương Lưu Trạch |
| 52. | Tề Điệu Huệ vương thế gia (齊悼惠王世家) | Ghi chép về Tề Điệu Huệ vương Lưu Phì |
| 53. | Tiêu tướng quốc thế gia (蕭相國世家) | Ghi chép về Tiêu Hà |
| 54. | Tào tướng quốc thế gia (曹相國世家) | Ghi chép về Tào Tham |
| 55. | Lưu hầu thế gia (留侯世家) | Ghi chép về Lưu hầu Trương Lương |
| 56. | Trần thừa tướng thế gia (陳丞相世家) | Ghi chép về Trần Bình, Vương Lăng, Thẩm Tự Cơ |
| 57. | Giáng hầu Chu Bột thế gia (絳侯周勃世家) | Ghi chép về Giáng hầu Chu Bột |
| 58. | Lương Hiếu vương thế gia (梁孝王世家) | Ghi chép về Lương Hiếu vương Lưu Vũ và con cháu |
| 59. | Ngũ tông thế gia (五宗世家) | Ghi chép về 13 vị vương con trai của Hán Cảnh Đế |
| 60. | Tam vương thế gia (三王世家) | Ghi chép về 3 vị vương con trai của Hán Vũ Đế |
| Liệt truyện (列傳) | ||
| 61. | Bá Di Thúc Tề liệt truyện (伯夷叔齊列传) | Ghi chép về Bá Di và Thúc Tề |
| 62. | Quản Án liệt truyện (管晏列傳) | Ghi chép về Quản Trọng và Án Anh |
| 63. | Lão Tử Hàn Phi liệt truyện (老子韓非列傳) | Ghi chép về Lão Tử, Trang Tử, Thân Bất Hại và Hàn Phi |
| 64. | Tư Mã Nhương Thư liệt truyện (司馬穰苴列傳) | Ghi chép về Tư Mã Nhương Thư |
| 65. | Tôn Tử Ngô Khởi liệt truyện (孫子吳起列傳) | Ghi chép về Tôn Vũ, Tôn Tẫn và Ngô Khởi |
| 66. | Ngũ Tử Tư liệt truyện (伍子胥列傳) | Ghi chép về Ngũ Tử Tư và Bạch Công Thắng |
| 67. | Trọng Ni đệ tử liệt truyện (仲尼弟子列傳) | Ghi chép về các học trò của Khổng Tử |
| 68. | Thương quân liệt truyện (商君列傳) | Ghi chép về Thương Ưởng |
| 69. | Tô Tần liệt truyện (蘇秦列傳) | Ghi chép về Tô Tần, Tô Đại và Tô Lệ |
| 70. | Trương Nghi liệt truyện (張儀列傳) | Ghi chép về Trương Nghi, Trần Chẩn và Tê Thủ |
| 71. | Sư Lý Tử Cam Mậu liệt truyện (樗里子甘茂列傳) | Ghi chép về Sư Lý Tử, Cam Mậu và Cam La |
| 72. | Nhương hầu liệt truyện (穰侯列傳) | Ghi chép về Nhương hầu Ngụy Nhiễm |
| 73. | Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện (白起王翦列傳) | Ghi chép về Bạch Khởi và Vương Tiễn |
| 74. | Mạnh Tử Tuân Khanh liệt truyện (孟子荀卿列傳) | Ghi chép về Mạnh Tử, Sô Kỵ, Sô Diễn, Thuần Vu Khôn, Thận Đáo, Sô Thích, Hoàn Uyên, Tiếp Tử, Điền Biền, Tuân Tử và Mặc Địch |
| 75. | Mạnh Thường quân liệt truyện (孟嘗君列傳) | Ghi chép về Mạnh Thường quân Điền Văn và Phùng Hoan |
| 76. | Bình Nguyên quân Ngu Khanh liệt truyện (平原君虞卿列傳) | Ghi chép về Bình Nguyên quân Triệu Thắng và Ngu Khanh |
| 77. | Ngụy công tử liệt truyện (魏公子列傳) | Ghi chép về Tín Lăng quân Ngụy Vô Kỵ |
| 78. | Xuân Thân quân liệt truyện (春申君列傳) | Ghi chép về Xuân Thân quân Hoàng Hiết |
| 79. | Phạm Thư Thái Trạch liệt truyện (范睢蔡澤列傳) | Ghi chép về Phạm Thư và Thái Trạch |
| 80. | Nhạc Nghị liệt truyện (樂毅列傳) | Ghi chép về Nhạc Nghị, Nhạc Gian và Nhạc Thừa |
| 81. | Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện (廉頗藺相如列傳) | Ghi chép về Liêm Pha, Lạn Tương Như và Lý Mục |
| 82. | Điền Đan liệt truyện (田單列傳) | Ghi chép về Điền Đan |
| 83. | Lỗ Trọng Liên Trâu Dương liệt truyện (魯仲連鄒陽列傳) | Ghi chép về Lỗ Trọng Liên và Trâu Dương |
| 84. | Khuất Nguyên Giả Sinh liệt truyện (屈原賈生列傳) | Ghi chép về Khuất Nguyên và Giả Nghị |
| 85. | Lã Bất Vi liệt truyện (呂不韋生列傳) | Ghi chép về Lã Bất Vi |
| 86. | Thích khách liệt truyện (刺客列傳) | Ghi chép về các thích khách Tào Mạt, Chuyên Chư, Dự Nhượng, Niếp Chính và Kinh Kha |
| 87. | Lý Tư liệt truyện (李斯列傳) | Ghi chép về Lý Tư |
| 88. | Mông Điềm liệt truyện (蒙恬列傳) | Ghi chép về Mông Điềm |
| 89. | Trương Nhĩ Trần Dư liệt truyện (張耳陳餘列傳) | Ghi chép về Triệu vương Trương Nhĩ và Trần Dư |
| 90. | Ngụy Báo Bành Việt liệt truyện (魏豹彭越列傳) | Ghi chép về Ngụy Báo và Lương vương Bành Việt |
| 91. | Kình Bố liệt truyện (黥布列傳) | Ghi chép về Hoài Nam vương Anh Bố |
| 92. | Hoài Âm hầu liệt truyện (淮陰侯列傳) | Ghi chép về Hoài Âm hầu Hàn Tín |
| 93. | Hàn Tín Lư Hoàn liệt truyện (韓信盧綰列傳) | Ghi chép về Hàn vương Tín, Yên vương Lư Quán và Dương Hạ hầu Trần Hy |
| 94. | Điền Đam liệt truyện (田儋列傳) | Ghi chép về Điền Đam, Điền Vinh và Điền Hoành |
| 95. | Phàn Lịch Đằng Quán liệt truyện (樊酈滕灌列傳) | Ghi chép về Vũ Dương hầu Phàn Khoái, Khúc Chu hầu Lịch Thương, Nhữ Âm hầu Đằng công Hạ Hầu Anh và Toánh Âm Hầu Quán Anh |
| 96. | Trương thừa tướng liệt truyện (張丞相列傳) | Ghi chép về Bắc Bình hầu Trương Thương, Phàn Âm hầu Chu Xương, Quảng A hầu Nhâm Ngao và Cố An hầu Thân Đồ Gia |
| 97. | Lịch Sinh Lục Giả liệt truyện (酈生陸賈列傳) | Ghi chép về Lịch Tự Cơ, Lục Giả và Bình Nguyên quân Chu Kiến |
| 98. | Phó Cận Khoái Thành liệt truyện (傅靳蒯成列傳) | Ghi chép về Dương Lăng hầu Phó Khoan, Tín Vũ hầu Cập Hấp và Khoái Thành hầu Chu Tiết |
| 99. | Lưu Kính Thúc Tôn Thông liệt truyện (劉敬叔孫通列傳) | Ghi chép về Kiến Tín hầu Lưu Kính và Tắc Tự quân Thúc Tôn Thông |
| 100. | Quý Bố Loan Bố liệt truyện (季布欒布列傳) | Ghi chép về Quý Bố, Tào Khâu Sinh, Quý Tâm, Đinh Công và Loan Bố |
| 101. | Viên Áng Triều Thác liệt truyện (袁盎晁錯列傳) | Ghi chép về Viên Áng, Triều Thác và Đặng Công |
| 102. | Trương Thích Chi Phùng Đường liệt truyện (張釋之馮唐列傳) | Ghi chép về Trương Thích Chi và Phùng Đường |
| 103. | Vạn Thạch Trương Thúc liệt truyện (萬石張叔列傳) | Ghi chép về Vạn Thạch quân Thạch Phấn, Mục Khâu hầu Thạch Khánh, Kiến Lăng hầu Vệ Oản, Tắc hầu Trực Bất Nghi, Chu Nhân và Trương Thúc |
| 104. | Điền Thúc liệt truyện (田叔列傳) | Ghi chép về Điền Thúc và Điền Nhân |
| 105. | Biển Thước Thương công liệt truyện (扁鵲倉公列傳) | Ghi chép về Biển Thước và Thương công Thuần Vu Ý |
| 106. | Ngô vương Tỵ liệt truyện (吳王濞列傳) | Ghi chép về Ngô vương Tỵ |
| 107. | Ngụy Kỳ Vũ An hầu liệt truyện (魏其武安侯列) | Ghi chép về Ngụy Kỳ hầu Đậu Anh, Vũ An Hầu Điền Phiên và Quán Phu |
| 108. | Hàn Trường Nhụ liệt truyện (韓長孺列傳) | Ghi chép về Hàn An Quốc |
| 109. | Lý tướng quân liệt truyện (李將軍列傳) | Ghi chép về Lý Quảng |
| 110. | Hung Nô liệt truyện (匈奴列傳) | Ghi chép về người Hung nô |
| 111. | Vệ tướng quân phiếu kỵ liệt truyện (衛將軍驃騎列傳) | Ghi chép về Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh |
| 112. | Bình Tân hầu Chủ phụ liệt truyện (平津侯主父列傳) | Ghi chép về Bình Tân hầu Công Tôn Hoằng và Chủ phụ Yển |
| 113. | Nam Việt liệt truyện (南越列傳) | Ghi chép về xứ Nam Việt |
| 114. | Đông Việt liệt truyện (東越列傳) | Ghi chép về xứ Đông Việt |
| 115. | Triều Tiên liệt truyện (朝鮮列傳) | Ghi chép về xứ Triều Tiên |
| 116. | Tây Nam Di liệt truyện (西南夷列傳) | Ghi chép về người Di ở Tây Nam |
| 117. | Tư Mã Tương Như liệt truyện (司馬相如列傳) | Ghi chép về Tư Mã Tương Như |
| 118. | Hoài Nam Hành sơn liệt truyện (淮南衡山列傳) | Ghi chép về Hoài Nam Lệ vương Lưu Trường, Hoài Nam vương Lưu An và Hành sơn vương Lưu Tứ |
| 119. | Tuần lại liệt truyện (循吏列傳) | Ghi chép về các quan lại liêm khiết Tôn Thúc Ngao, Tử Sản, Công Nghi Hưu, Thạch Xa và Lý Ly |
| 120. | Cấp Trịnh liệt truyện (汲鄭列傳) | Ghi chép về Cấp Ảm và Trịnh Đương Thì |
| 121. | Nho lâm liệt truyện (儒林列傳) | Ghi chép về các nhà nho Thân Công, Viên Cố Sinh, Hàn Anh (thi); Phục Thắng (thư); Cao Đường Sinh, Từ Sinh (lễ); Dương Hà (dịch); Đổng Trọng Thư, Hồ Vô Sinh, Giang Sinh (Xuân Thu) |
| 122. | Khốc lại liệt truyện (酷吏列傳) | Ghi chép về các quan lại tàn bào |
| 123. | Đại uyển liệt truyện (大宛列傳) | Ghi chép về người Đại uyển và các tộc người thiểu số khác |
| 124. | Du hiệp liệt truyện (游俠列傳) | Ghi chép về các tay du hiệp Lỗ Chu Gia và Quách Giải |
| 125. | Nịnh hạnh liệt truyện (佞幸列傳) | Ghi chép về các nịnh thần |
| 126. | Hoạt kê liệt truyện (滑稽列傳) | Ghi chép về những truyện hài hước của Thuần Vu Khôn, Ưu Mạnh, Ưu Chiên, Quách Xá Nhân, Đông Phương Sóc, Đông Quách tiên sinh, Vương tiên sinh và Tây Môn Báo |
| 127. | Nhật giả liệt truyện (日者列傳) | Ghi chép về thầy tiên tri Tư Mã Quý Chủ |
| 128. | Quy sách liệt truyện (龜策列傳) | Ghi chép về bói toán |
| 129. | Hóa thực liệt truyện (貨殖列傳) | |
| 130. | Thái sử công tự tự (太史公自序) | Lời đề tựa của Thái sử công |
Một số khái niệm chủ yếu [sửa]
- “Nhất tự thiên kim” (Một chữ ngàn vàng) - Sử Ký, liệt truyện Lã Bất Vi (呂不韋列傳): Lúc Lã Bất Vi viết xong tác phẩm Lã thị xuân thu, ông để một ngàn nén vàng ở cửa thành Hàm Dương, và nói rằng: Hữu năng tăng tổn nhất tự giả dữ thiên kim (有能增損一字者予千金), nghĩa là nếu ai thêm bớt được một chữ trong tác phẩm ấy, thì ông sẽ thưởng cho ngàn nén vàng.
- “Tứ hải thiên hạ” (Bốn biển dưới trời) - Sử Kí, bản kỷ Tần Thủy Hoàng (秦始皇本紀) có viết: Dĩ dưỡng tứ hải thiên hạ chi sĩ phỉ nhiên hương phong (以養四海、天下之士斐然鄉風) nghĩa là “để dạy phong-tục văn vẻ cho học trò trong cả nước”.
- “Danh thật nhất thể” (Tên và thật, cùng một bậc) - Trong Sử Ký, liệt truyện Trương Nghi (張儀列傳) viết: Thị ngã nhất cử nhi danh thật phụ dã (是我一舉而名實附也), nghĩa là “thế là ta làm một việc mà danh và thật tương hợp”.
- “Tửu trì nhục lâm” (Ao rượu, rừng thịt): Chương Ân Bản Kỷ (殷本紀) của Sử Ký viết về Trụ Vương, nổi tiếng là một ông vua dâm đãng, thường thết nhiều tiệc lớn, làm đầy ao với rượu và treo thịt trên cây trong rừng (以酒為池、縣肉為林).
Đánh giá [sửa]
Theo lời bàn của Ban Bưu thì Sử ký :
| “ |
Nhặt kinh, lượm chuyện, phân tán sự việc của một số nhân vật rất đổi sơ lược, có khi xúc phạm đến người ta. Được một điều là sự tìm kiếm cũng khá rộng, sách viết cũng có quán xuyến kinh truyện, rong ruỗi xưa nay, trên dưới đến vài ngàn năm, có thể nói là cần cù siêng năng. Lại nữa, sách bàn phải trái thì sai lầm nhiều so với lời thánh nhân; luận đạo lớn thì để Hoàng lão lên trước, lục kinh xuống sau; kể về du hiệp thì thoái kẻ xử sĩ mà tiến kẻ gian hùng, nói về hóa thực thì đề cao thế lợi mà cho nghèo hèn là đáng khinh bỉ, đó là những điểm thiếu sáng suốt vậy. |
” |
Lục Giả thời Hán làm sách Hán Sở xuân thu có nói:
| “ |
Điều trái phải tuy dựa vào Nho gia làm gốc, song chức vụ Thái sử nguyên từ Đạo gia mà ra; cha của Tư Mã Thiên là Đàm cũng sùng thượng Hoàng lão, cho nên Sử ký tuy có sai lầm về nho thuật, nhưng có thể cho là nổi được cái nghiệp cũ đã cách xa lâu ngày, Huống chi phát phẫn mà làm sách, ý nghĩa khá kích động. |
” |
Tuy nhiên theo lời của Mao Khôn thì:
| “ |
Đọc chuyện du hiệp, thì lập tức muốn coi thường sự sống, đọc truyện Khuất Nguyên, Giả Nghị thì lập tức muốn trào nước mắt, đọc truyện Trang Chu, Lỗ Trọng Liên thì lập tức muốn vất bỏ cuộc đời, đọc truyện Lí Quảng thì lập tức muốn đứng dậy chiến đấu, đọc truyện Thạch Kiến lập tức muốn cúi mình, đọc truyện Tính Lăng Quân, Bình Nguyên Quân thì lập tức muốn nuôi kẻ sĩ. |
” |
Ngoài ra theo như Hán Thư đã nói rằng, tuy là một tác phẩm đồ sộ , độc đáo nhưng Sử ký vẫn có chỗ khuyết, nên người viết tiếp nổi lên như bời, các văn nhân đời sau như Giả tiên sinh, Phùng Thương, Lưu Hâm tiếp tục bổ sung , chỉnh lý những chỗi sai sót, nhầm lẫn của Tư Mã Thiên, Hán thư cũng có chỗ từ Lưu Hâm mà ra, cho nên Thôi Thích cho rằng văn Sử ký so với toàn bộ có chỗ trái, so với Hán Thư có chỗ hợp, đó là những chỗ Lưu Hâm viết tiếp thêm vậy. Còn nhiều niên đại xa cách khác nhau chương cú cắt xé ra thì chắc là do những kẻ càn quấy đời sau thêm vào và những người đời sau sao chép viết sai đi một nửa.[3]
Bản in [sửa]
Sử Ký có khá nhiều bản in khác nhau, bản in sớm nhất hiện tại là bản sao từ những bản bị thất lạc và được lưu hành trong thời Nam Bắc triều. Bản khắc sớm nhất và còn sót lại là bản “Sử Ký Tập Giải” thời Bắc Tống, bản in của Hoàng Thiện Phu thời Nam Tống có lẽ là bản khắc sớm nhất tập hợp chú giải của ba nhà hiện là bản được Trung Hoa thư cục phát hành phổ biến, gồm bản giản thể và phồn thể, ngoài ra còn có bản “Tam Gia Chú” (ba nhà chú thích) được ấn bản lần hai và được coi là bản tốt nhất hiện nay.
Bản văn Bạch Thoại làm theo có “Tân Bạch Thoại Sử Ký” do Hàn Triệu Kỳ chú thích. (bản giản thể tự do Trung Hoa thư cục xuất bản, bản phồn thể hay chính thể tự do Đài Bắc Đài Loan Cổ Tịch xuất bản), và “Sử Ký” do Trương Liệt chú thích (Bản giản thể tự do nhà xuất bản Quý Châu Cổ Tịch xuất bản, chính thể tự do Đài Bắc Đài Loan Cổ Tịch xuất bản).
Ngoài ra còn có rất nhiều bản chú giải về Sử Ký trong thời Trung Quốc hiện đại như “Sử Ký cập Chú thích Tổng hợp dẫn đắc”do nhà xuất bản Đại học Harvard Yên Kinh biên soạn, “Sử Ký Tác Dẫn” do Hoàng Phúc Loan biên soạn, “Sử Ký Tác Dẫn” do Lý Hiểu Quang, Lý Ba biên tập, “Sử Ký Nhân danh Tác dẫn” do Chung Hoa biên tập, “Sử Ký Tam gia Chú dẫn thư Tác dẫn” do Đoạn Thư An biên tập, và cuốn “Sử Ký Từ Điển” do Thương Tu Lương chủ biên.
Hiện có rất nhiều bản Sử Ký được tìm thấy rất quý hiếm, có tầm quan trọng như một số bản được liệt kê ở dưới.
- Bản khắc của Hoàng Thiện Phu thời Nam Tống (viết tắt là Hoàng Thiện Phu bản)
- Bản Nhị Thập nhất Sử giám khắc thời Gia Tĩnh , Vạn Lịch nhà Minh (viết tắt là Giám bản)
- Bản Nhị Thất Sử của Mao Thị Cấp Cổ Các nhà Minh (viết tắt là Mao Khắc bản)
- Bản Nhị Thập Tứ Sử khắc tại điện Vũ Anh thời Càn Long nhà Thanh (viết tắt là Vũ Anh điện bản hoặc Điện bản)
- Bản do Trương Văn Hổ thời Đồng Trị nhà Thanh chỉnh lý, ( Kim Lăng Thư Cục xuất bản thành quyển [bản khắc tổng hợp “Sử Ký Tập Giải Tác Ẩn Chính Nghĩa”] trang 3) (viết tắt là Kim Lăng cục bản)
Chú dẫn [sửa]
Việc chú thích, bình luận niên đại trong Sử Ký chủ yếu có ba nhà, một là bản “Sử Ký Tập Giải” của Bùi Nhân thời Lưu Tống, hai là “Sử Ký Tác Ẩn” của Tư Mã Trinh và “Sử Ký Chính Nghĩa” của Trương Thủ Tiết đời Đường, toàn bộ lời bình luận , chú giải đều được cả ba nhà tổng kết từ Sử Ký. “Sử Ký Chí Nghi” của Lương Học Thằng đời Thanh được coi là một trước tác tập hợp các nghiên cứu về Sử Ký. Ở thời Cận đại có cuốn “Sử Ký Hội Chú Khảo Chứng” của học giả Nhật Bản là Takigawa Sukekoto biên soạn được coi là một tác phẩm trứ danh. Đương thời còn có cuốn “Sử Ký Tiên Chứng” của Hàn Triệu Kỳ, nhưng tất cả vẫn lấy trước tác của ba nhà xưa chú thích và quyển “Sử Ký Hội Chú Khảo Chứng” làm cơ sở, là tác phẩm chú giải tường tận và chi tiết nhất về Sử Ký. Sau đây là danh sách liệt kê các tác giả chú thích và tác phẩm của họ trong từng triều đại, từng thời kỳ lịch sử.
Các bản dịch tiếng Việt [sửa]
| Nhị thập tứ sử | |||
|---|---|---|---|
| STT | Tên sách | Tác giả | Số quyển |
| 1 | Sử ký | Tư Mã Thiên | 130 |
| 2 | Hán thư | Ban Cố | 100 |
| 3 | Hậu Hán thư | Phạm Diệp | 120 |
| 4 | Tam quốc chí | Trần Thọ | 65 |
| 5 | Tấn thư | Phòng Huyền Linh (chủ biên) |
130 |
| 6 | Tống thư | Thẩm Ước | 100 |
| 7 | Nam Tề thư | Tiêu Tử Hiển | 59 |
| 8 | Lương thư | Diêu Tư Liêm | 56 |
| 9 | Trần thư | Diêu Tư Liêm | 36 |
| 10 | Ngụy thư | Ngụy Thâu | 114 |
| 11 | Bắc Tề thư | Lý Bách Dược | 50 |
| 12 | Chu thư | Lệnh Hồ Đức Phân (chủ biên) |
50 |
| 13 | Tùy thư | Ngụy Trưng (chủ biên) |
85 |
| 14 | Nam sử | Lý Diên Thọ | 80 |
| 15 | Bắc sử | Lý Diên Thọ | 100 |
| 16 | Cựu Đường thư | Lưu Hu (chủ biên) |
200 |
| 17 | Tân Đường thư | Âu Dương Tu, Tống Kỳ |
225 |
| 18 | Cựu Ngũ Đại sử | Tiết Cư Chính (chủ biên) |
150 |
| 19 | Tân Ngũ Đại sử | Âu Dương Tu (chủ biên) |
74 |
| 20 | Tống sử | Thoát Thoát (chủ biên) |
496 |
| 21 | Liêu sử | Thoát Thoát (chủ biên) |
116 |
| 22 | Kim sử | Thoát Thoát (chủ biên) |
135 |
| 23 | Nguyên sử | Tống Liêm (chủ biên) |
210 |
| 24 | Minh sử | Trương Đình Ngọc (chủ biên) |
332 |
| - | Tân Nguyên sử | Kha Thiệu Văn (chủ biên) |
257 |
| - | Thanh sử cảo | Triệu Nhĩ Tốn (chủ biên) |
529 |
Đến nay, Sử ký vẫn chưa được dịch trọn bộ ra tiếng Việt. Có các bản dịch phổ biến sau:
- Bản dịch của Nhữ Thành (tức Phan Ngọc), được tái bản nhiều lần từ những năm 1960 tới năm 1988 (Nxb Văn học). Tái bản năm 1999, ký tên thật Phan Ngọc và bổ sung thêm một số thiên như (Hiếu Văn bản kỷ, Tấn Thế gia, Ngô Thái Bá thế gia, Triệu Thế gia, Tề thế gia) cùng một số liệt truyện (Hung Nô, Cam Mậu - Sư Lý Tử, Mạnh Tử - Tuân Khanh, Lỗ Trọng Liên, Ninh hạnh, Lưu Kính - Thúc Tôn Thông, Viên Áng - Tiều Thố)
- Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê - Giản Chi (Sài Gòn, trước 1975). Bản dịch này dịch ít hơn so với bản của Phan Ngọc và nhiều thiên dịch không đủ.
- Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn - Việt Anh (Nxb Văn hóa Thông tin, 2005): Thực chất là bản bổ sung cho bản của Phan Ngọc vì hai dịch giả này dịch thêm các bản kỷ: Ngũ Đế, Hạ, Thương, Chu, Tần [4]. Chính các dịch giả cũng lấy tên gọi của bản dịch theo tinh thần đó: “Sử ký Tư Mã Thiên - Những điều chưa biết”, tức là dụng ý cung cấp cho người đọc một số trong những thiên Sử ký trước đây chưa được dịch.
Dù vậy, Sử ký vẫn chưa được dịch hoàn chỉnh với những thiên các dịch giả đã dịch xong. Tổng số các thiên đã dịch chưa tới một nửa nguyên bản mà Tư Mã Thiên đã viết.
Tác phẩm phái sinh [sửa]
Văn học [sửa]
Vì là bộ sách ghi chép sử đầy đủ đầu tiên còn lưu truyền lại, Sử ký Tư Mã Thiên là tư liệu cho rất nhiều người sau này sử dụng, đặc biệt nở rộ các tác phẩm dựa lịch sử viết vào thời nhà Minh-Thanh.
- Phong thần diễn nghĩa của Hứa Trọng Lâm viết về việc vua Chu Vũ Vương lật đổ Trụ Vương nhà Thương, lập nên nhà Chu
- Đông Chu Liệt Quốc của Sai Nguyên Phóng viết về giai đoạn Chu Tuyên Vương cho đến hết thời nhà Chu, vua Tần Thủy Hoàng lên ngôi
Kịch nghệ [sửa]
Điện ảnh [sửa]
Chú thích [sửa]
- ^ Từ điển văn học (bộ mới), trang 1571, Nhà xuất bản Thế giới, 2005.
- ^ Từ điển văn học (bộ mới), đã dẫn.
- ^ Hán văn học sử cương yếu, trích trong Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn, trang 416, 417, NXB ĐHQG Hà Nội
- ^ Phần nước Tần từ lập quốc cho tới trước Thủy Hoàng là một bản kỷ riêng, thiên Tần Thủy Hoàng bản kỷ là thiên riêng và dịch đủ - thiên Tần Thủy Hoàng bản kỷ, bản dịch Phan Ngọc lược bỏ vài đoạn.
Tham khảo [sửa]
- Tư Mã Thiên (1993), Records of the Grand Historian of China. Chin Dynasty. Translated by Burton Watson (New York, Columbia University Press). ISBN 0-231-08168-5 (hbk); ISBN 0-231-08169-3 (pbk)
- Tư Mã Thiên (1993), Records of the Grand Historian of China. Han Dynasty II. (Revised Edition). Translated by Burton Watson (New York, Columbia University Press). ISBN 0-231-08168-5 (hbk); ISBN 0-231-08167-7 (pbk)
- Tư Mã Thiên (1961), Records of the grand historian of China, Translated from the Shih chi of Ssu-ma Ch'ien by Burton Watson (New York: Columbia University Press). ISBN 0-231-08165-0
- Tư Mã Thiên (1994), The Grand Scribe’s Records I: the basic annals of pre-Han China (editor—Nienhauser W.H. Jr.) (Bloomington: Đại học Indiana Press). (An annotated translation.)
- Tư Mã Thiên (1994), The Grand Scribe’s Records VII: the memoirs of pre-Han China (editor—Nienhauser W.H. Jr.) (Bloomington: Đại học Indiana Press). (An annotated translation.)
- Hulsewé A.F.P. (1993), “Shih chi”, Early Chinese Texts: a bibliographical guide (editor—Loewe M.) p. 405–414 (Berkeley: Society for the Study of Early China).
Xem thêm [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về: |
- Sử ký Tư Mã Thiên (bản dịch của Phan Ngọc)[liên kết hỏng]
- Văn bản gốc (tiếng Trung Quốc)
- A comparative reading on the texts in both modern and classical Chinese[liên kết hỏng]
|
||||||||||||||||||||||||||