Hán Vũ Đế
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Hán Vũ Đế (chữ Hán: 漢武帝), tên thật là Lưu Triệt (劉徹; 156 TCN – 87 TCN), là vị Hoàng đế thứ bảy của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông cai trị từ năm 140 TCN đến 87 TCN (54 năm), là vua trị vì lâu nhất trong các vua nhà Hán. Ông nổi tiếng là vị hoàng đế tài ba, đã làm nhiều việc củng cố nền cai trị và mở cửa ra bên ngoài.
Do kiêng tên húy của Vũ Đế, các sách vở Trung Quốc thời đó phải chép chữ Triệt ra chữ Thông. Sau này một số sách vở dùng tư liệu của đời Hán soạn cũng chép tương tự.
Tiểu sử của ông được ghi tại Hán thư, quyển 6 “Vũ Đế kỷ” và Sử ký, quyển 28 “Phong thiện thư”.
Mục lục |
Thân thế [sửa]
Lưu Triệt, từng là Giao Đông vương, là con thứ 10 của Hán Cảnh Đế Lưu Khải, mẹ là hoàng hậu Vương Chí. Năm 140 TCN, Hán Cảnh đế qua đời, Lưu Triệt lên thay khi mới 15 tuổi, tức là vua Hán Vũ Đế.
Thế phả nhà Hán [sửa]
|
|
|
|
1 Hán Cao Tổ ?-195TCN 256-195TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
5 Hán Văn Đế 180-157TCN 202–157TCN |
|
Lưu Cứ |
|
Lưu Bác |
|
2 Hán Huệ Đế 194-188TCN 210–188TCN |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
6 Hán Cảnh Đế 157-141TCN 188–141TCN |
|
Lưu Tiến |
|
9 Xương Ấp Vương 74-74TCN ?-59TCN |
|
3 Hán Tiền Thiếu Đế 188-184TCN ?–184TCN |
|
4 Hán Hậu Thiếu Đế 184-180TCN ?–180TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
7 Hán Vũ Đế 140-87TCN 156-87TCN |
|
10 Hán Tuyên Đế 74-49TCN 91-49TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
8 Hán Chiêu Đế 95–74TCN 87-74TCN |
|
11 Hán Nguyên Đế 76–33TCN 49-33TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Lưu Khang |
|
Lưu Hưng |
|
Lưu Hiển |
|
12 Hán Thành Đế 33–7TCN 51-7TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
13 Hán Ai Đế 7–1TCN 26-1TCN |
|
14 Hán Bình Đế 9TCN–5SCN 1TCN-5SCN |
|
15 Nhũ Tử Anh 5–8 25–25 5–25 |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Cai trị [sửa]
Đối nội [sửa]
Củng cố nền quân chủ chuyên chế [sửa]
Khác với vua cha, ông là người chuyên chế, nóng nảy, nhưng cùng rất nhiều mưu lược tài năng, rất sùng đạo Nho, không theo chính sách vô vi (ít can thiệp vào việc dân) của đạo Lão, như vua đời trước, mà ưa Pháp gia giống như Tần Thủy Hoàng và Hán Cao Tổ.[1]
Thấy đời vua cha, nhóm thất vương làm phản, Vũ Đế quyết tâm bỏ hẳn chế độ phong kiến. Một mặt ông dùng thuật của Pháp gia, đồng thời để trị chư hầu quý tộc (sai người thân tín giúp việc họ do thám họ, ngăn chặn sự mưu phản và lần lần tước hết quyền hành, đất đai họ).
Muốn diệt họa Hung Nô và mở mang bờ cõi thì quân đội phải mạnh, quân luật phải nghiêm, và ông dùng chính sách của Pháp gia. Vũ Đế không tha thứ cho những viên tướng bại trận, không xét hoàn cảnh và tình thế của họ, cứ thẳng tay trừng trị. Vì vậy, có nhiều tướng bại trận phải theo hàng giặc chứ không dám về triều đình. Thấy vậy, Vũ Đế lại càng tàn nhẫn, tru di tam tộc những tướng này, như trường hợp của Lý Lăng. Không ai dám trái ý ông, chỉ tỏ vẻ bất mãn, bất phục cũng đủ làm cho ông trị tội rồi. Vì vậy, triều thần không ai dám can gián. Tư Mã Thiên chỉ vì bênh vực Lý Lăng mà phải chịu tội nhục nhã nhất thời đó: tội bị thiến.[1]
Một mặt, ông rất đề cao Nho học, đặt ra chức ngũ kinh, bác sĩ, tuyển dụng những người giỏi như Công Tôn Hoằng, rồi lại thay đổi triều chính, sửa lại lịch, định lễ tế trời và tế đất, xây cất cung điện. Ông cũng trọng dụng những nhà nho như Đổng Trọng Thư, và thích những nhân văn có tài làm phú ca tụng như Tư Mã Tương Như.[1] Nhờ vậy, văn học thời bấy giờ phát triển.[1]
Như vậy là Vũ Đế dùng cả Pháp lẫn Nho mà hoàn thành được cuộc cách mạng về chính trị, củng cố được chính thể quân chủ chuyên chế: quyền hành tập trung vào tay triều đình và giao phó và giao phó cho kẻ sĩ có tài do dân tiến cử và cả do hoàng đế tuyển dụng. Quý tộc, thân vương vẫn còn được hưởng nhiều đặc quyền, nhưng phải tuân lệnh vua và Tể tướng[1].
Chính sách kinh tế [sửa]
Năm nào nào cũng chinh phạt, mà hoàng đế lại xa xỉ, xây cất thêm nhiều cung thất, cho nên triều đình luôn thiếu tiền. Muốn có tiền, Vũ đế dùng ba cách:
- Phát hành một thứ tiền làm bằng kim loại và thiếc, như vậy trữ kim tăng lên; ông lại đặt ra thừ tiền bằng da nữa.
- Bán tước và cho chuộc tội bằng tiền.
- Tuyên bố bao nhiêu tài nguyên trong nước thuộc về quốc gia hết, như vậy “tư nhân không thể chiếm các nguồn lợi của núi, biến làm của riêng mà thao túng các giai cấp thấp hơn”.[1]
Triều đình giữ độc quyền cất và bán rượu, độc quyền làm muối, khai thác các mỏ sắt, năm 119 TCN đặt ra chức quan coi về sắt, gọi là diêm thiết quan.
Hán Vũ đế có sáng kiến diệt những người trung gian đầu cơ, những người cho vay nặng lãi hoặc chứa chất hàng hoá khi giá rẻ rồi bán cho nhân dân khi giá đắt.
Ông đã tổ chức một cơ quan chuyên chở và trao đổi thuộc quyền nhà nước, kiểm soát thương mại chặt chẽ để giá cả khỏi thình lình lên xuống. Trong khắp đế quốc nơi đâu cũng có những nhân viên của triều đình lo việc chuyên chở và giao hàng.[1] Lúc nào mua sản phẩm thì triều đình giữ lại, đợi lúc giá tăng thì đem bán rẻ cho dân, hễ giá xuống thì lại mua vào để trữ; như vậy “bọn phú thương không đầu cơ mà vơ được món lợi lớn... và giá được bình lại”. Người ta đã ghi sổ tất cả những lợi tức của họ để thu thuế hàng năm là 5%.[1]
Hán Vũ đế lại cho khởi công nhiều công tác lớn để cho hàng triệu thợ bị các xí nghiệp tư sa thải có công ăn việc làm, khỏi bị thất nghiệp: bắc cầu qua sông, đào nhiều kênh để nối các dòng sông với nhau và dẫn nước vào ruộng.[1]
Theo Nguyễn Hiến Lê, Sau mấy trận lụt xen với mấy cơn đại hạn kéo dài, vật giá tăng vọt lên, dân chúng la ló, muốn trở lại chế độ cũ, và những người kinh doanh bất bình vì triều đình can thiệp vào công việc của họ, thuế má quá nặng, không còn làm ăn gì được; lại thêm các cung phi được nhà vua sủng ái lấn át các đại thần, nên sau khi Vũ đế qua đời nạn tham nhũng lan tràn khắp nước, sự bóc lột người nghèo bắt đầu trở lại, và trong non một thế kỉ, những cải cách của Vũ đế bị chê bai.[1]
Đối ngoại [sửa]
Hàn Vũ Đế đã khuếch trương thế lực, ngăn chặn được cuộc xâm lăng lúc nào cũng phải bận tâm của Hung Nô ở phương Bắc từ thời Chiến Quốc.
Trong cuộc đời ông, công trạng của ông được nhắc đến là đánh tan được sự uy hiếp và xâm nhập biên cương của Hung Nô. Sau khi Vũ Đế lên ngôi, kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đời sống ấm no, chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho ông khuếch trương thế lực ra bên ngoài.
Mấy năm đầu, Hán Vũ Đế vẫn tiếp tục chính sách hòa thân với Hung Nô, lợi dụng lòng tham của quý tộc Hung Nô, mở rộng cửa quan buôn bán. Mặt khác, Hán Vũ Đế chuẩn bị lực lượng chuyển thế thủ thành thế công.
Năm 129 TCN, đế quốc Tây Hán chính thức tiến công Hung Nô, kéo dài đến năm 127 TCN, thu được nhiều thành trì ở Nội Mông Cổ, Hà Nam.
Từ năm 124 TCN đến năm 119 TCN, Hán Vũ Đế thường xuyên dùng từ 10 đến 20 vạn quân đánh phá Hung Nô, nhiều lần quân Hung Nô bại trận, người và của tổn thất rất nhiều. Từ đó, Hung Nô chạy xa không dám quay lại, xóa được nạn Hung Nô uy hiếp triều đình. Thời kỳ này có các danh tướng như Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh lần lượt xuất binh Bắc phạt qua cửa ải Nhạn Môn Quan.
Chính sách đối ngoại khuếch trương của Hán Vũ Đế không những dẹp yên nạn xâm lăng, mở rộng bờ cõi phương Bắc mà còn đánh chiếm và đưa tay thống trị xuống phía nam - Nam Việt, đông - Cổ Triều Tiên, tây - Tân Cương, biên cương mở rộng.
Cuối đời [sửa]
Cuối đời, Hán Vũ Đế sa vào hưởng lạc, xây cất nhiều cung điện và tin vào chuyện mê tín. Do tin vào chuyện trong một giấc mơ, ông sai cận thần Giang Sung mở một cuộc điều tra và thảm sát nhiều người, trong đó có cả cha thừa tướng Công Tôn Hạ, các công chúa là chị em gái ông như Chư Ấp, Dương Thạch, cháu Vệ hoàng hậu là Vệ Nguyên,... Cuối cùng Giang Sung tìm đến cung của Vệ hậu và thái tử Lưu Cứ, rao lên rằng có bùa yểm. Lưu Cứ sợ Giang Sung hại mẹ con mình, bèn giả lệnh vua bắt Sung và mang quân chiếm cứ các vị trí trọng yếu trong kinh thành Tràng An. Hán Vũ Đế đang dưỡng bệnh, nghe tin thái tử làm loạn bèn sai thừa tướng Lưu Khuất Mạo đem quân bắt thái tử. Cuối cùng thái tử Lưu Cứ bị thua, phải tự vẫn. Hoàng hậu Vệ Tử Phu bị buộc phải tự vẫn; 3 hoàng tử, 1 công chúa khác cũng bị xử tử[2].
Không lâu sau đó thừa tướng Lưu Khuất Mạo cũng bị cho là dính dáng tới chuyện yểm bùa và bị giết.
Cuối cùng Hán Vũ Đế tỉnh ngộ ra rằng những chuyện yểm bùa phần nhiều do Giang Sung bày đặt ra, nên bắt giết cả nhà Giang Sung.
Hán Vũ Đế sau đó còn cố gắng tìm thuốc tiên để trường sinh bất lão. Ông gả con gái cho phương sĩ Dịch Đại, phong làm tướng quân và tước hầu, giao cho 10 vạn cân vàng để tìm thuốc tiên. Vì Dịch Đại tìm mãi không ra thuốc tiên nên bị Vũ Đế giết chết[3].
Hán Vũ Đế qua đời năm 87 TCN sau 54 năm ở ngôi, hưởng thọ 70 tuổi, được tôn miếu hiệu là Thế Tông, thụy hiệu là Hiếu Vũ Hoàng đế, thường gọi là Vũ Đế. Ông là vị vua ở ngôi lâu nhất và thọ nhất nhà Tây Hán.
Vũ Đế mất, Thái tử Lưu Phất Lăng lên ngôi, tức là Hán Chiêu Đế. Vua mới tuổi còn nhỏ, được Đại Tư Mã Hoắc Quang giúp sức, tiếp tục sự phồn thịnh của nhà Tây Hán qua 2 đời Chiêu Đế (87 TCN - 74 TCN), Tuyên Đế (74 TCN - 49 TCN)
Niên hiệu [sửa]
Trong 54 năm ở ngôi, Hán Vũ Đế đặt 11 niên hiệu. Điều đáng chú ý là 6 niên hiệu đầu được ông đều đặn đổi 6 năm 1 lần; 4 niên hiệu sau đó đổi đều đặn 4 năm 1 lần; niên hiệu cuối cùng được 2 năm thì ông qua đời:
- Kiến Nguyên (140 - 135 TCN)
- Nguyên Quang (134 - 129 TCN)
- Nguyên Sóc (128-123 TCN)
- Nguyên Thú (122 - 117 TCN)
- Nguyên Đỉnh (116 - 111 TCN)
- Nguyên Phong (110 - 105 TCN)
- Thái Sơ (104 - 101 TCN)
- Thiên Hán (100 - 97 TCN)
- Thái Thủy (96 - 93 TCN)
- Chính Hòa (92 - 89 TCN)
- Hậu Nguyên (88 - 87 TCN)
Gia quyến [sửa]
- Cha: Hán Cảnh Đế
- Mẹ: hoàng hậu Vương Chí
- Vợ:
- Hoàng hậu Trần Kiều (bị phế năm 130 TCN vì việc bùa chú phù thủy)
- Hoàng hậu Vệ Tử Phu (mẹ của Lưu Cứ, bị giết năm 91 TCN)
- Doãn tiệp dư
- Hình phu nhân
- Câu Dặc phu nhân Triệu thị (mẹ của Lưu Phất Lăng, bị giết năm 88 TCN)
- Lý phu nhân
- Vương phu nhân
- Con:
- Vệ Trường công chúa (mẹ: Vệ hoàng hậu), sau thành thân với Tào Tương - con trai của Công chúa Bình Dương với chồng quá cố.
- Dương Thạch công chúa (mẹ: Vệ hoàng hậu), tức Thạch Ấp công chúa.
- Chư Ấp công chúa (?-91), (mẹ: Vệ hoàng hậu), bị buộc tự sát.
- Lệ thái tử Lưu Cứ (128–91 TCN), (mẹ: Vệ hoàng hậu), ông nội của Hán Tuyên Đế - vua thứ 10 nhà Hán, bị buộc tự sát.
- Lưu Bác (?-86 TCN), tức Xương Ấp Ai vương (mẹ: Lý phu nhân), cha của Lưu Hạ - vua thứ 9 nhà Tây Hán/
- Lưu Hoành (?–109 TCN), tức Tề Hoài vương (mẹ: Vương phu nhân).
- Lưu Đán (?-80 TCN), Yên vương, bị buộc tự sát.
- Lưu Tư (?-53 TCN) Quảng Lăng vương, bị buộc tự sát
- Lưu Phất Lăng (94-74 TCN), tức Hán Chiêu Đế (mẹ: Câu Dặc phu nhân) - vua kế tục Vũ Đế.
- Cháu nội:
- Hoàng trưởng tôn Lưu Tiến (?-91 TCN), cha của Hán Tuyên Đế.
- Xương Ấp Vương Lưu Hạ(?-59 TCN), vua thứ 9 của nhà Tây Hán.
- Cháu cố:
- Hoàng tằng tôn Lưu Bệnh Dĩ (91-49 TCN), tức Hán Tuyên Đế - vua thứ 10 của nhà Hán.
Nhận định [sửa]
Theo Sử Trung Quốc (1997) của Nguyễn Hiến Lê, triều đại ông được xem là là triều đại rực rỡ nhất của nhà Hán: uy quyền được củng cố, trong nước bình trị, bờ cõi được mở rộng, thương mại thịnh vượng nhờ khuếch trương, giao thiệp với các lân bang (nhất là Tây Vực) và văn học cũng phát triển.[1]
Về chính sách kinh tế [sửa]
Về chính sách kinh tế của ông, trong sách La civilisation Chinoise (Albin Michael, 1948), có lời nhận định:[1]
| “ |
Chính sách đó thật cách mạng, nếu Võ đế[1] có tinh thần kiên trì thì ông... đã tạo nên quốc gia Trung Hoa trong một xã hội mới rồi... Nhưng ông chỉ biết nhìn cái lợi trước mắt, làm cái gì gấp nhất, dùng những phương tiện để giải quyết từng lúc một, xong rồi lại bỏ đi, chỉ dùng những người mới một thời gian, hễ họ thành công, uy tín tăng lên có thể lấn át ông được là ông hi sinh họ liền. Tính đa nghi của một ông vua chuyên chế, óc thiển cận của bọn quan lại lập pháp tại triều khiến cho Trung Hoa bỏ lỡ cơ hội hiếm nhất đó. |
” |
|
—Marcel Granet |
||
Hán Vũ Đế trong phim ảnh [sửa]
Hán Vũ Đế, một trong những vị hoàng đế nổi bật nhất của Trung Quốc, xuất hiện trong rất nhiều bộ phim Trung Quốc, điển hình như:
Xem thêm [sửa]
Tham khảo [sửa]
- Nguyễn Hiến Lê (1997) Sử Trung Quốc, Chương I: Nhà Hán (206 TCN - 220)
- Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
- Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, NXB Giáo dục
Chú thích [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: Hán Vũ Đế |
|
|||||||||||||||||||||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Hán Vũ Đế. |