Hán Hoàn Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Hoàn Đế
漢桓帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đông Hán
Trị vì 146167
Tiền nhiệm Hán Chất Đế
Kế nhiệm Hán Linh Đế
Thông tin chung
Tên thật Lưu Chí (劉志)
Niên hiệu Xem văn bản
Thụy hiệu Hiếu Hoàn hoàng đế
Triều đại Nhà Đông Hán
Thân phụ Lãi Ngu hầu Lưu Ký
Thân mẫu Yên phu nhân
Sinh 132
Mất 167
Trung Quốc
An táng Tuyên lăng

Hán Hoàn Đế (chữ Hán: 漢桓帝; 132 – 167), tên thật là Lưu Chí (劉志), là vị Hoàng đế thứ 11 nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Chí là cháu 4 đời của Hán Chương Đế, cha là Lãi Ngu hầu Lưu Ký, mẹ là Yên phu nhân, hiện chưa rõ tên là gì.

Lưu Chí lớn lên được phong chức Ngô Lễ hầu và lấy em gái của Lương thái hậu. Năm ông 14 tuổi, ngoại thích Lương Ký - anh của Lương thái hậu - hãm hại vua Hán Chất Đế và lập Lưu Chí lên ngôi, tức là Hán Hoàn Đế.

Trừ ngoại thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại thích họ Lương thao túng triều đình từ nhiều năm. Sau khi giết Chất Đế, Lương Ký lập Lưu Chí là em rể để dễ khống chế. Do Hoàn Đế mới 14 tuổi nên Lương thái hậu vẫn lâm triều nhiếp chính và Lương Ký vẫn tiếp tục điều hành công việc.

Năm 151, Hoàn Đế lên 19 tuổi, Lương Ký vẫn hoành hành, ngang nhiên vi phạm quy định của triều đình, đeo gươm vào cung. Thượng thư Trương Lăng giận dữ kể tội Lương Ký. Quân ngự lâm liền bắt Lương Ký. Tuy nhiên Hoàn Đế sợ mất lòng Lương thái hậu nên ra lệnh cởi trói cho Lương Ký và chỉ phạt bổng lộc 1 năm[1].

Năm 159, Hoàn Đế 27 tuổi, Lương thái hậu qua đời. Lương Ký cử tâm phúc vào cung dò la tin tức. Hoàn Đế dựa vào các hoạn quan Đan Siêu, Từ Hoàng dẫn quân vây nhà Lương Ký thu ấn Đại tướng quân. Lương Ký sợ hãi, cùng vợ và con cháu uống thuốc độc tự vẫn.

Họa hoạn quan[sửa | sửa mã nguồn]

Do có công giúp vua trừ ngoại thích, các hoạn quan như Từ Hoàng, Đan Siêu, Đường Hoành, Từ Khuyên lại đắc thế, thao túng triều đình.

Một số quan lại xuất thân từ quý tộc như Lý Ưng, Trần Phồn, Vương Sướng, Quách Thái, Phạm Bàng cùng nhau liên hợp công kích hoạn quan. Các hoạn quan cùng nhau vu cáo những người này tội có ý gây loạn. Hán Hoàn Đế nghe lời hoạn quan, bèn bắt giam họ.

Tuy nhiên, các hoạn quan bị Lý Ưng dọa sẽ tố cáo lại việc những người thân của hoạn quan phạm pháp, vì vậy các hoạn quan chỉ kết tội những người chống đối phải bãi chức về quê mà không xử chết[1].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 167, Hán Hoàn Đế qua đời. Ông ở ngôi 21 năm, thọ 35 tuổi. Ông được tôn là Uy Tông Hiếu Hoàn hoàng đế, thường gọi là Hán Hoàn Đế. Trong thời gian ở ngôi, ông dùng các niên hiệu:

  • Bản Sơ (146)[2]
  • Kiến Hòa (147-149)
  • Hòa Bình (150)
  • Nguyên Gia (151-153)
  • Vĩnh Hưng (153-154)
  • Vĩnh Thọ (155-158)
  • Diên Hi (158-167)
  • Vĩnh Khang (167)

Vì Hoàn Đế không có con, Đậu hoàng hậu cùng cha là Đậu Vũ lập cháu 5 đời của Hán Chương Đế, con của Giải Độc đình hầu Lưu Trường là Lưu Hoằng lên ngôi, tức là Hán Linh Đế.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Hoa, NXB Giáo dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 105
  2. ^ Đây vốn là niên hiệu của Hán Chất Đế, đến đây, Hán Hoàn Đế tiếp tục sử dụng từ tháng 6 nhuận đến tháng 12 năm 146)