Hán Huệ Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Huệ Đế
汉惠帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Tây Hán
Tại vị 194 TCN188 TCN
Tiền nhiệm Hán Cao Tổ
Kế nhiệm Lưu Cung
Thông tin chung
Thê thiếp Trương Yên
Tên thật Lưu Doanh (刘盈)
Thụy hiệu Hiếu Huệ Hoàng đế
Miếu hiệu Huệ Đế
Triều đại Nhà Hán
Thân phụ Hán Cao Tổ
Thân mẫu Lã Trĩ
Sinh 210 TCN
Mất 188 TCN
An táng An Lăng

Hán Huệ Đế (chữ Hán: 汉惠帝, 210 TCN – 188 TCN) là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc (sau Hán Cao Tổ), ở ngôi từ năm 194 TCN đến năm 188 TCN.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Lưu Doanh (刘盈), con trai thứ hai của Hán Cao Tổ Lưu Bang, mẹ là Lã Trĩ. Chị cùng mẹ của ông là công chúa Lỗ Nguyên, vợ của Triệu vương Trương Ngao. Mẹ Lưu Doanh là vợ thứ của Lưu Bang nhưng lại được làm vợ cả (chính thất). Trên Lưu Doanh là anh lớn Lưu Phì.

Thiên hạ của cha[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Lưu Bang khởi nghĩa chống nhà Tần (209 TCN), Lưu Doanh mới hơn 1 tuổi. Năm 205 TCN, Lưu Doanh lên 5. Năm ấy diễn ra trận Bành Thành, 56 vạn quân Hán bị Hạng Vũ đánh tan tành, hàng chục vạn quân Hán bị giết. Lưu Bang thua to, bỏ chạy, gia quyến bị thất lạc. Trên đường tìm cha, Lưu Bang gặp chị em Lưu Doanh.

Thủ hạ thân tín là Hạ Hầu Anh đưa chị em Lưu Doanh lên xe ngồi cùng Lưu Bang. Quân Sở đuổi gấp phía sau. Lưu Bang quý thiên hạ hơn con, sợ nhiều người ngồi thì nặng sẽ đi chậm không thoát được, nên đẩy cả hai con xuống. Hạ Hầu Anh đang đánh xe, vội nhảy xuống dắt hai chị em lên xe đi tiếp.

Đi được một đoạn, Lưu Bang lại sợ bị quân Sở bắt, cuống cuồng đẩy con xuống lần nữa. Theo Sử ký, việc đó lặp lại tới 3 lần. May có Hạ Hầu Anh nhẫn nại cả 3 lần dừng ngựa, xuống kéo hai chị em lên xe, và van xin Lưu Bang không bỏ con, Bang mới thôi việc đó. Cuối cùng cha con Lưu Bang cũng thoát được sự truy đuổi của quân Sở.

Cho tới nay, các tài liệu nói về năm sinh của Lưu Doanh chưa thống nhất. Có sách ghi năm 210 TCN, có sách ghi năm 207 TCN. Tuy nhiên, sự kiện gặp ông lão xem tướng số xảy ra trước khi Lưu Bang khởi nghĩa (209 TCN) và Lưu Doanh đã ra đời, do đó thông tin 210 TCN hợp lý hơn. Hơn nữa, việc ông bị cha đẩy khỏi xe năm 205 TCN lúc ông lên 5 tuổi hợp lý hơn lúc mới lên 2.

Năm 202 TCN, Lưu Doanh lên 8 tuổi, cha Lưu Bang diệt được Hạng Vũ, lên làm hoàng đế. Lưu Doanh là con trai của Lã hậu nên được lập làm thái tử. Anh lớn Lưu Phì được phong làm Tề vương[1].

Suýt mất ngôi thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Doanh làm thái tử, có Thúc Tôn Thông[2] làm thái phó, Trương Lương làm thiếu phó giúp. Nhưng Cao Đế Lưu Bang sau lại có Lưu Như Ý là con Thích phu nhân thông minh hơn nên muốn bỏ Doanh để lập Như Ý.

Lã Hậu sợ, không biết làm thế nào. Có người nói với Lã Hậu nên hỏi Trương Lương. Lã Hậu bèn sai em là Lã Trạch đến nhờ. Ban đầu Trương Lương định từ chối, nhưng Lã Trạch cố nài nên Lương nhận lời. Nhờ Trương Lương giúp, Lưu Doanh mời được 4 hiền sĩ trong thiên hạ là Đông Viên Công, Giác Lý tiên sinh, Ỷ Lý tiên sinh, Hạ Thạch Công mà trước đó chính Lưu Bang không sao mời nổi.

Năm 195 TCN, sau khi đánh phá quân Anh Bố về, Lưu Bang ốm càng nặng, muốn thay thái tử. Trương Lương can, Lưu Bang không nghe.

Đến khi ăn tiệc, thái tử Doanh rót rượu đứng chầu. Bốn người theo thái tử tuổi đều ngoài tám mươi, mày râu bạc phơ, áo mũ rất đẹp. Lưu Bang lấy làm lạ hỏi. Bốn người tiến đến thưa, kể họ tên, là Đông Viên Công, Giác Lý tiên sinh, Ỷ Lý tiên sinh, Hạ Thạch Công. Lưu Bang kinh ngạc nói:

Ta tìm các ông mấy năm nay, các ông trốn tránh ta. Nay tại sao các ông lại từ đâu đến chơi với con ta như vậy?

Bốn người đáp:

Bệ hạ khinh kẻ sĩ, hay mắng người, bọn thần nghĩa khí không chịu nhục, cho nên sợ mà trốn tránh. Nay trộm nghe thái tử là người nhân đức hiếu thảo, cung kính, thương yêu kẻ sĩ, trong thiên hạ không ai không vươn cổ muốn vì thái tử mà chết, vì vậy chúng tôi đến đây.

Lưu Bang nói:

Phiền các ông nhờ giúp đỡ thái tử cho trót.

Lưu Bang bèn quyết định giữ ngôi thái tử của Lưu Doanh. Như Ý được phong làm Triệu vương[3].

Không lâu sau, Lưu Bang mất, Lưu Doanh lên nối ngôi, tức là Hán Huệ Đế. Năm đó ông 16 tuổi.

Phúc đức tại mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân từ không cứu được em[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy Huệ Đế làm vua nhưng việc điều hành triều đình do mẹ là Lã thái hậu quyết định. Huệ đế thực chất không có quyền hành.

Lã thái hậu ép Huệ đế lấy Trương Yên - con gái của chị là công chúa Lỗ Nguyên và Triệu vương cũ Trương Ngao (đã bị truất làm Tuyên Bình hầu), vốn còn rất nhỏ tuổi, và là cháu ruột gọi bằng cậu, làm hoàng hậu.

Lã thái hậu hết sức oán giận Thích phu nhân và người con của phu nhân là Triệu vương Như Ý, bèn sai giam Thích phu nhân ở cung Vĩnh Hạng và gọi Như Ý đến. Sứ giả ba lần trở về, Kiến Bình hầu Chu Xương làm tướng quốc nước Triệu bảo sứ giả:

Cao đế giao phó Triệu vương cho tôi. Triệu vương hãy còn ít tuổi, tôi trộm nghe thái hậu oán giận Thích phu nhân, muốn mời Triệu vương về để giết cả hai mẹ con, tôi không dám cho nhà vua đi. Nhà vua lại bị bệnh không thể vâng theo chiếu.

Lã thái hậu cả giận, bèn sai người gọi Chu Xương về. Chu Xương về đến Trường An, thái hậu lại sai người mời Triệu vương lần nữa. Triệu vương đành phải ra đi. Chưa đến kinh đô thì Huệ Đế vốn là người nhân từ, biết thái hậu giận, nên thân hành đón Như Ý ở Bá Thượng, rồi cùng vào cung, luôn luôn kèm Triệu vương, lúc Như Ý đi đứng, ăn uống, Huệ Đế đều ở bên cạnh, thái hậu muốn giết Như Ý nhưng không có dịp nào.

Tháng 12 năm 194 TCN, Huệ đế buổi sớm ra đi săn bắn. Như Ý còn nhỏ, không thể dậy sớm. Thái hậu nghe tin Như Ý ở một mình, bèn sai người mang thuốc độc đến cho Như Ý uống. Lúc mờ sáng, Huệ Đế trở về thì Triệu vương Như Ý đã chết.

Sau đó thái hậu cho Hoài Dương vương Lưu Hữu làm Triệu vương thay Như Ý. Hai người con khác của Lưu Bang lần lượt thay Như Ý làm Triệu vương sau đó đều bị Lã hậu giết.

Đau lòng cốt nhục[sửa | sửa mã nguồn]

Để trả thù Thích phu nhân, Lã thái hậu bèn sai chặt chân tay Thích phu nhân, móc mắt, đốt tai, cho uống thuốc thành câm, cho ở trong nhà tiêu gọi đó là "con người lợn".

Sau mấy hôm, thái hậu cho gọi Huệ Đế vào để xem "con người lợn". Huệ Đế thấy, ngạc nhiên bèn hỏi. Khi biết đó là Thích phu nhân, ông liền khóc rống lên. Do đó Huệ Đế đau lòng quá, mắc bệnh, trong hơn một năm không dậy được. Ông sai người nói với thái hậu:

Việc đó không phải là việc con người làm! Tôi là con của thái hậu, không thể nào trị thiên hạ được!

Huệ Đế bất lực trước sự độc ác của mẹ, không có cách nào ngăn cản được, vì thế ngày đêm uống rượu chơi bời dâm dật, không nghe chính sự, cho nên mắc bệnh.

Năm 193 TCN, những người anh em là Nguyên vương nước Sở, Điệu vương nước Tề (Lưu Phì) đến chầu. Huệ Đế cùng ăn tiệc và uống rượu với Tề vương trước mặt thái hậu. Vì ông cho rằng Lưu Phì là anh nên để ngồi ghế trên theo lễ những người trong nhà. Thái hậu nổi giận, bèn sai rót hai chén thuốc độc đặt trước mặt mình, sai Lưu Phì chúc thọ. Phì đứng dậy, Huệ Đế cũng đứng dậy nâng chén muốn cùng chúc thọ với Tề vương. Thái hậu sợ quá, thân hành đứng dậy hắt chén rượu của Huệ Đế.

Tề vương lấy làm lạ, do đó không dám uống, giả vờ say đi ra. Khi hỏi, Lưu Phì biết đó là thuốc độc. Tề vương sợ hãi, tự cho rằng không thể ra khỏi Tràng An nên rất lo lắng. Quan nội sử của Tề vương tên là Sỹ nói với Tề vương:

Thái hậu chỉ có một mình hoàng đế và công chúa Lỗ Nguyên. Nay đại vương có hơn 70 thành, mà công chúa[4] chỉ có vài thành, nếu đại vương quả thực đem một quận dâng cho thái hậu để làm ấp tắm gội của công chúa, thì thái hậu thế nào cũng mừng rỡ và đại vương cũng không lo ngại gì.

Tề vương bèn dâng quận Thành Dương, tôn công chúa Lỗ Nguyên làm Vương thái hậu. Lã Hậu mừng rỡ bằng lòng, bèn đặt tiệc rượu ở cung riêng của vua Tề, sau khi uống chén rượu vui vẻ, thái hậu cho vua Tề trở về nước mình.

Mẹ không khóc con[sửa | sửa mã nguồn]

Huệ Đế trong thời gian ở ngôi cho thi hành chính sách "Nhân Chính" giảm bớt thuế má, cất nhắc Tào Tham làm Thừa Tướng, làm xã hội dần ổn định. Nhưng Huệ đế nhu nhược vô năng, trong thời gian tại vị bị Lã thái hậu khống chế nên không thực hiện được những công việc lớn.

Do bị mẹ áp chế không thể chống lại được, Huệ Đế buồn rầu sinh bệnh rồi mất sớm, năm 188 TCN. Lúc mất ông mới có 22 tuổi.

Theo Sử ký, khi ông mất, Lã Thái hậu khóc nhưng không chảy nước mắt. Người con của Trương Lương là Trương Tích Cương làm thị trung, mới 15 tuổi, nói với thừa tướng Trần Bình:

-Thái hậu chỉ có một mình hoàng đế. Nay hoàng đế mất, thái hậu khóc không đau xót, ngài có biết tại sao không?
-Tại sao vậy?
-Hoàng đế không có con lớn tuổi để kế nghiệp. Thái hậu sợ bọn các ông nổi loạn. Nay ông xin cho Lã Thái, Lã Sản, Lã Lộc[5] làm tướng, cầm quân giữ các đạo quân trong phía nam và phía bắc, cho những người con họ Lữ vào giữ các chức vụ trong cung. Làm như thế thì thái hậu sẽ yên tâm và bọn các ông may mà tránh khỏi tai họa.

Thừa tướng Trần Bình bèn làm theo kế của Tích Cương. Lã Thái hậu mừng rỡ, lúc ấy khóc mới thảm thiết.

Hán Huệ Đế được chôn tại An Lăng. Ông được truy tôn miếu hiệuHán Hiếu Huệ Đế nên thường gọi tắt là Hán Huệ Đế

Trương Yên, hoàng hậu của Huệ Đế (con công chúa Lỗ Nguyên) không có con. Theo Sử ký, Lã hậu mang một đứa trẻ giấu kín vào cung, giả cách rằng Trương Yên có chửa và đến ngày sinh ra đứa bé. Khi Huệ Đế mất, đứa trẻ được đưa lên ngôi, sử gọi là Thiếu Đế.

Sau khi Huệ đế mất, Lữ Hậu lộng quyền thống trị, lập 2 thiếu đế lên ngôi nhưng tự mình thi hành nhiều chính sách tàn ác dài cả 8 năm. Nhiều người con khác của Lưu Bang tiếp tục bị giết. Họ Lã được phong nắm nhiều chức vụ trong triều.

Năm 180 TCN, Lã thái hậu chết. Các công thần khai quốc Trần Bình, Chu Bột làm binh biến giết hết các tướng họ Lã mà Lã hậu dựng lên để lấy lại thiên hạ cho họ Lưu. Vì Lã hậu tàn ác, các tướng bàn nhau rằng: nhà họ Bạc, mẹ Đại vương Lưu Hằng[6] - con thứ 4 của Lưu Bang - là người hiền đức, nên lập Lưu Hằng làm vua. Do đó hoàng tử Lưu Hằng được lập làm người kế vị, tức là Hán Văn Đế. Dòng dõi của chi Văn Đế được truyền nối cho tới khi nhà Tây Hán mất (8 CN).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Cao Tổ Lưu Bang
  • Mẹ: Thái hậu Lã Trĩ
  • Vợ: Trương Yên
  • Các con: Theo Sử ký, ngoài Thiếu đế, những người thiếp của Huệ Đế sinh được nhiều con:
    • Lưu Cung được lập làm Thiếu đế
    • Lưu Cường được phong làm Hoài Dương vương;
    • Lưu Bất Nghi được phong làm Thường Sơn vương;
    • Lưu Sơn được phong làm Hạp Quan hầu. Sau đổi tên là Lưu Nghĩa, rồi Lưu Hồng được phong làm Thường Sơn vương và sau nữa Lã Hậu lập làm Thiếu Đế thứ 2 trong thời gian chấp chính
    • Lưu Vũ được phong Hoài Dương vương;
    • Lưu Thái được phong làm Tế Xuyên vương
    • Lưu Triều cũng được phong làm Thường Sơn vương[7]

Thế phả nhà Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đương thời Hán Huệ Đế không có quyền hành. Vì vậy, Tư Mã Thiên viết Sử ký, sau Cao Tổ bản kỷ chép thẳng tới Lã Hậu bản kỷ mà không chép riêng truyện Huệ Đế. Hai Thiếu đế kế tiếp ông trong tay Lã hậu cũng được sử nhắc tới rất ít.

Hán Huệ Đế bản tính tốt, hiền lành, nhân từ, khác hẳn cha và mẹ - đều là những người mạnh mẽ, quyết đoán, coi trọng quyền lực trên hết và tàn nhẫn, lạnh lùng. Từ nhỏ bị cha bỏ, lớn lên bị mẹ áp chế, các anh em bị mẹ giết trước mắt, Lưu Doanh có ngôi vị cũng như không.

Đời sau cho rằng Tư Mã Thiên đã rất thẳng thắn và có lối viết sử "tàn nhẫn" khi chép lại chính điều con trai Lưu Doanh nhận xét về hành động của bà mẹ Lã Trĩ rằng: "Việc đó không phải là việc con người làm!"

Sự đau khổ và bất lực khiến Lưu Doanh trở thành ông vua yểu mệnh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sau khi Tề vương Hàn Tín bị cải phong thành Sở vương
  2. ^ Danh sĩ từ thời nhà Tần, theo nhà Hán
  3. ^ Triệu vương cũ là Trương Ngao, con của Trương Nhĩ, bị phế truất để ngôi đó thuộc về họ Lưu
  4. ^ Lúc này Lỗ Nguyên đã đứng ngôi mẹ vợ của Huệ Đế
  5. ^ Là những người cháu trong họ của Lã Trĩ
  6. ^ Bạc phu nhân vốn là vợ cũ của Nguỵ vương Báo
  7. ^ Nhiều người lần lượt được phong 1 chức, sau khi người trước chết hoặc cải phong đi nơi khác

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sử ký Tư Mã Thiên, các thiên:

  • Cao Tổ bản kỷ
  • Lã hậu bản kỷ
  • Lưu hầu thế gia.