Lưu Thiện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Hiếu Hoài Đế
Vua Trung Quốc (chi tiết...)
Vua nước Thục Hán
Trị vì 223 - 263
Tiền nhiệm Lưu Bị
Kế nhiệm Triều đại sụp đổ
Thông tin chung
Tên đầy đủ Húy: Lưu Thiện (giản thể: 刘禅, phồn thể: 劉禪, bính âm: Líu Shàn)
Tự: Công Tự (公嗣)
Niên hiệu

Kiến Hưng (建興) 223 — 237
Diên Hi (延熙) 238 — 257
Cảnh Diệu (景耀) 258 — 263

Viêm Hưng (炎興) 263
Thụy hiệu

An Lạc Tư Công (安樂思公)

Hiếu Hoài Hoàng Đế (孝懷皇帝)
Miếu hiệu Nhân Tông (仁宗)
Thân phụ Lưu Bị
Thân mẫu Cam phu nhân
Sinh 207
Mất 271
Trung Quốc

Lưu Thiện (Trung văn giản thể: 刘禅, phồn thể: 劉禪, bính âm: Líu Shàn), 207 - 271), thụy hiệu là Hán Hoài đế (懷帝), hay An Lạc Tư công (安樂思公), tựCông Tự (公嗣)[1], tiểu tự A Đẩu (阿斗)[2], là vị hoàng đế thứ hai và cũng là cuối cùng của nhà Thục Hán dưới thời Tam quốc trong lịch sử Trung Quốc.

Thời thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tam quốc chí của sử gia Trần Thọ, Lưu Thiện là con trai của Hán Chiêu Liệt đế Lưu Bị, vua đầu tiên của nhà Thục Hán với người thiếp là Cam phu nhân, tuy nhiên không cho biết rõ ông là con trai thứ mấy của Lưu Bị. Lưu Thiện chào đời vào năm 207, thời Đông Hán, khi cha ông đã 45 tuổi và còn đang nương nhờ thế lực quân phiệt của Lưu Biểu ở Kinh châu.

Năm 208, sau cái chết của Lưu Biểu, Tào Tháo, người đang nắm giữ quyền lực ở miền bắc mang quân đánh chiếm Kinh châu. Lưu Bị giao tranh với Tào Tháo, bị thua to ở Đơn Dương và Tràng Bản, đành phải đưa quân chạy về phía nam, bỏ lại mẹ con Cam phu nhân và Lưu Thiện. May thay ông được tướng dưới quyền Lưu Bị là Triệu Vân cứu thoát khỏi vòng vây của Tào Tháo trở về đoàn tụ với Lưu Bị[3].

Những năm tiếp theo, Lưu Bị liên tiếp giành được nhiều vùng đất ở Kinh châu và tiến quân sang khu vực Tây Xuyên. Lúc đó, Tôn Quyền ở Giang Đông vốn đã gả cho em gái cho Lưu Bị, nghe tin Lưu Bị không có ở Kinh châu bèn phái một đội thuyền đến Kinh châu đón em gái về. Tôn phu nhân muốn mang cả Lưu Thiện, khi đó mới 7 tuổi, cùng về Đông Ngô nhưng Triệu VânTrương Phi được tin bèn mang quân ra chặn sông, ép Tôn phu nhân trả Lưu Thiện về[4].

Lên ngôi hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Về sau, Lưu Bị chiếm được toàn bộ miền Tây Xuyên và Hán Trung. Năm 219, Lưu Bị làm lễ xưng là Hán Trung vương[5] và cho lập Lưu Thiện làm Vương thái tử[6].

Năm 221, Lưu Bị lên ngôi hoàng đế, tức Hán Chiêu Liệt đế, lập Lưu Thiện làm Hoàng thái tử và giao phó ông cho thừa tướng Gia Cát Lượng[7].

Năm 223, Hán Chiêu Liệt đế mất ở thành Bạch Đế. Đến tháng 5 năm Lưu Thiện, năm ấy 17 tuổi lên nối ngôi hoàng đế ở Thành Đô. Ông đổi niên hiệu là Kiến Hưng và tôn Ngô hoàng hậu làm Hoàng thái hậu[8].

Gia Cát Lượng chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Cát Lượng (181 - 234).

Lưu Thiện phong cho Gia Cát Lượng làm Thừa tướng Vũ Hương hầu[9]. Trong suốt 11 năm đầu tiên dưới triều đại Lưu Thiện, việc triều chính đều do Gia Cát Lượng quyết đoán.

Mùa hạ năm 223, thái thú quận Tang Kha Chu Bảo khởi binh chống lại triều đình Thục Hán, nhưng nhanh chóng bị đánh dẹp. Ít lâu sau, Lưu Thiện cho lập Trương thị, con gái của Trương Phi, người em kết nghĩa cùng Lưu Bị làm hoàng hậu và sai Thượng thư lang Đặng Chi sang giảng hòa với nước Ngô sau mấy nắm chiến tranh. Từ đó hai nước lập lại hòa hảo[10].

Những năm tiếp theo, các bộ tộc ở miền nam nổi lên chống lại Thục Hán. Gia Cát Lượng đem binh xuống miền nam bình loạn, ổn định lại tình hình.

Từ năm 227, Gia Cát Lượng bắt đầu tiến hành Bắc phạt, ra khỏi Kì Sơn, giao chiến với quân đội của nhà Ngụy ở phía bắc nhưng hầu thư không thu được kết quả.

Năm 234, Gia Cát Lượng tiến hành cuộc bắc phạt lâng thứ bảy, giữa đường thì lâm bệnh nặng. Lưu Thiện nghe tin,bèn gửi thư đến để hỏi Gia Cát Lượng về người sẽ thay thế ông ta nắm quyền triều chính. Gia Cát Lượng đề cử Tưởng Uyển[11].

Không bao lâu sau Gia Cát Lượng và mất trong quân doanh. Tướng quân Ngụy Diên nhân cơ hội đó dẫn quân làm phản, không chịu rút lui về nước để an táng Gia Cát Lượng, bị Dương Nghi và Phí Vĩ lập mưu giết chết. Hậu chủ Lưu Thiện chuẩn theo lời thỉnh cầu của Dương Nghi và Phí Y, khép Ngụy Diên tội mưu phản và ra lệnh tru di tam tộc nhà Ngụy Diên[12].

Sau cái chết của Gia Cát Lượng, Lưu Thiện phong cho Tả tướng quân Ngô Nhất làm Xa kị tướng quân, Tưởng Uyển làm Thượng thư lệnh, nắm giữ quyền bính trong nước theo đúng lời đề nghị của Gia Cát Lượng. Sang tháng 4 năm 235, triều đình thăng Tương Uyển làm Đại tướng quân[13]. Từ đó quyền lực trong triều nằm trong tay Tưởng Uyển.

Tưởng Uyển và Phí Y chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tưởng Uyển (? - 246).

Tưởng Uyển tiếp tục thực hiện chính sách giống như thời Gia Cát Lượng còn sống, do đó việc triều chính vẫn tương đối ổn định.

Về chính sách đối ngoại, Tưởng Uyển tạm ngưng tiến hành chiến tranh với Tào Ngụy, cho rút binh đồn trú ở Hán Trung về Phù huyện[14], chuyển sang thế cầm cự đối với nhà Ngụy. Sang năm 237, hoàng hậu Trương thị qua đời, được ban thụy là Kính Ai hoàng hậu và được an táng ở Nam Lăng.[15] Đến tháng giêng năm sau, 238, Lưu Thiện lại lấy người em gái của Trương hậu lên làm hoàng hậu và lập người con trai trưởng là Lưu Duệ làm thái tử, con nhỏ Lưu Dao làm An Định vương[16][17].

Năm 239, Lưu Thiện phong Tưởng Uyển lên chức Đại tư mã, nắm quyền điều hành triều đình và quân đội. Sang năm 240, triều đình Thục Hán cử Trương Nghi làm thái thú Việt Thường, đem quân bình định các cuộc nổi dậy ở quận Việt Thường. Về sau sức khỏe Tưởng Uyển không tốt, bèn giao quyền hành lại cho Phí Y. Năm 243, Lưu Thiện phong cho Phí Y làm Đại tướng quân, nắm quyền trong triều.

Năm 244, Tào SảngHạ Hầu Bá dẫn quân Ngụy tấn công vào khu vực Hán Trung[18]. Đại tướng quân Phí Y đưa quân ra chống cự, buộc quân Ngụy lui quân. Đến tháng 11 năm 246, Tưởng Uyển lâm bệnh qua đời[19]. Từ thời điểm này, Lưu Thiện tự mình nắm quyền triều chính, còn Phí Y tuy giữ chức Đại tướng quân nhưng chỉ lo việc quân, vì thế Lưu Thiện lại tin dùng hoạn quan Hoàng Hạo. Từ đó thế lực của Hoàng Hạo bắt đầu tăng lên, chi phối triều chính.

Năm 249, Thái phó Tư Mã Ý ở nước Ngụy làm đảo chính, giết chết quan phụ chính Tào Sảng. Tướng Hạ Hầu Bá sợ bị liên lụy, bèn trốn sang hàng Thục. Mùa thu cùng năm, đại tướng quân Khương Duy tiến hành bắc phạt, nhưng không thành công, hai tướng Cấu An và Lý Thiều đầu hàng quân Ngụy[20]. Năm 251 Khương Duy một lần nữa đưa quân tấn công Tây Bình của nhà Ngụy, nhưng không thắng phải rút quân về. Năm 252, Lưu Thiện phong cho người con thứ là Lưu Tông làm Tây Hà vương.

Năm 253, Phí Y bị hàng tướng của nhà Ngụy là Quách Tuấn sát hại[21]. Từ đó Khương Duy trở thành người thống lĩnh quân đội. Trong các năm từ 253 đến 256, Khương Duy nhiều lần đưa quân bắc phạt song hầu như không thu được kết quả đáng kể.

Tin dùng hoạn quan[sửa | sửa mã nguồn]

Khương Duy (205-264).

Năm 256, Lưu Thiện chính thức phong cho Khương Duy làm Đại tướng quân[22][23]. Duy định ước với Hồ Tế hội quân ở Thượng Khuê để cùng chống Ngụy nhưng Hồ Tế không đến. Khương Duy một mình lãnh quân giao chiến với Đặng Ngải ở Đoạn Cốc và thua trận, thương vong rất nhiều. Lưu Thiện theo lời thỉnh tội của Khương Duy, giáng ông ta làm Hậu tướng quân. Cùng năm đó, ông lại phong cho người con là Lưu Toản làm Tân Bình vương.

Năm 257, Khương Duy nhân cơ hội quyền thần nước Ngụy Tư Mã Chiêu đang giao tranh với Hạ Hầu Bá bèn đem quân ra Kì Sơn đánh Ngụy, nhưng không thắng phải rút về.

Năm 259, Lưu Thiện tiếp tục phong vương cho các con: Lưu Kham làm Bắc Địa vương, Lưu Tuân làm Tân Hưng vương, Lưu Kiền làm Thượng Đảng vương[24].

Năm 262, Khương Duy tiếp tục tiến đánh vùng Thao Dương. Đặng Ngải đưa quân phá tan quân Thục ở Hầu Hòa[25], quân Thục bị tổn thất nghiêm trọng. Tuy nhiên về sau Khương Duy dùng mưu "Dương Đông kích Tây", đánh bại Đặng Ngải, mang quân chiếm được 9 trại Kỳ Sơn, chuẩn bị tấn công Trường An. Thấy tình thế bất lợi, Đặng Ngải sai người mua chuộc hoạn quan Hoàng Hạo nhờ Hạo khuyên Lưu Thiện chúa triệu Duy về. Hoàng Hạo khoe tài muốn ra thay Khương Duy nên Lưu Thiện sai sứ hai ba lần đến thúc giục Khương Duy lui binh. Khương Duy đành phải lui về. Hoàng Hạo sau đó lại xin Lưu Thiện rút lại lệnh xuất quân. Khi Khương Duy về triều thì không được Lưu Thiện gặp. Khương Duy ghét Hoàng Hạo chuyên quyền, bẩm với Lưu Thiện muốn giết đi. Lưu Thiện nói:

"Hạo chỉ là đứa tiểu thần để sai khiến, trước đây Đổng Doãn cứ nghiến răng căm tức, ta vẫn hận việc ấy. Ngươi cần gì phải để ý".

Rồi sai Hoàng Hạo đến tạ tội với Khương Duy, Khương Duy sợ bị trả thù bèn nói với Hoàng Hạo rằng muốn ra Đạp Trung[26] lập đồn điền để tránh tai vạ. Cuộc bắc phạt chấm dứt.

Mất nước, hàng Ngụy[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Tam quốc năm 262

Mùa thu năm 263, Tư Mã Chiêu ở nước Ngụy phái Đặng Ngải cùng với Chung Hội dẫn đại quân đánh Thục.

Khương Duy ở Đạp Trung được tin, bèn viết biểu về triều, đề nghị Lưu Thiện điều động Trương Dực, Liêu Hóa bảo vệ Dương An và Âm Bình. Nhưng Lưu Thiện tin theo Hoàng Hạo, không nghe theo những tờ thư của Khương Duy, nên quân Thục không được điều động đi phòng thủ. Mãi đến khi Đặng Ngải sắp kéo đến Đạp Trung, Chung Hội sắp tiến vào Lạc Cốc, triều đình Thục Hán mới cho Trương Dực, Đổng Quyết dẫn quân tới Dương An lập trại tiếp ứng.

Khương Duy dẫn quân ra chống cự, bị dồn vào Khổng U Cốc tuy nhiên sau đó trốn thoát, ẫn quân đuổi đánh cánh quân của Khương Duy. Cùng lúc đó cánh quân ba vạn người khác do Gia Cát Tự chỉ huy cũng chiếm được vùng Vũ Đô, tiến gần đến Âm Bình, cắt đường rút lui của Khương Duy và dồn ông ta Khổng U Cốc[27], tuy nhiên sau đó Khương Duy trốn thoát[28] rồi tiếp tục giao tranh với Chung Hội.

Trong khi đó Chung Hội tấn công Hán Trung và Lạc Thành. Tướng giữ ải Dương Quan là Tưởng Thư đầu hàng, phó tướng Phó Thiêm tử trận. Chung Hôi tiến vào Quan Khẩu và cầm cự với Khương Duy trong một thời gian.

Về cánh quân của Đặng Ngải, đến tháng 10 năm 263, Đặng Ngải cho tiến quân theo đường núi Âm Bình, vượt qua Cảnh Cốc, đánh nhau với tướng Thục là Gia Cát Chiêm (con trai của Gia Cát Lượng) và con là Gia Cát Thượng ở Miên Trúc. Ngải đem quân đi lẻn về phía Âm Bình Sơn, một vùng núi non hiểm trở, nơi mà quân Thục không phòng bị. Quân Ngụy ra khỏi 800 dặm đường núi hoang vắng, xuống đồng bằng phá thành Miên Trúc. Đặng Trung và Tư Mã Sư Toản đưa hai cánh quân tả hữu ra giao chiến với Gia Cát Chiêm, gặp bất lợi định quay về. Đặng Ngải không chịu và phái trở lại tham chiến. Lần này quân Ngụy giết chết cha con Gia Cát Chiêm vào thẳng Thành Đô. Tình hình vô cùng nguy cấp.

Tại Thành Đô, Lưu Thiện nghe theo lời của Tiều Chu và Đặng Lượng, muốn ra hàng quân Ngụy. Bắc Địa vương Lưu Kham cầu xin tiếp tục giao chiến nhưng Lưu Thiện không chịu. Kham tuyệt vọng, giết chết cả gia quyến rồi tự sát.[29].

Lưu Thiện Trương Thiệu, Tiều Chu và Đặng Lương mang thư đến quân doanh Đặng Ngải xin hàng. Mấy hôm sau, quân Đặng Ngải tiến vào Thành Đô, Lưu Thiện ra thành đầu hàng. Nước Thục diệt vong.[30]

Không nhớ đất Thục[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Ngải bái Lưu Thiện làm Phiêu kị tướng quân và cho đưa ông về Lạc Dương[31]. Ông viêt thư khuyên Khương Duy đầu hàng. Về sau Duy dùng kế trá hàng và dụ Chung Hội tạo phản để chống lại Tư Mã Chiêu nhưng không thành và bị giết.

Lưu Thiện được đưa về Lạc Dương, kinh đô nhà Ngụy. Triều đình nhà Ngụy phong cho ông làm An Lạc huyện công. Những người con của Lưu Thiện đều được phong cho chức tước.

Tư Mã Chiêu vẫn còn đề phòng Lưu Thiện. Theo Hán Tấn Xuân Thu thì một hôm Chiêu mời Lưu Thiện đến phủ của mình. Trong buổi tiệc, Tư Mã Chiêu cho cung nữ múa điệu múa ở nước Thục làm rất nhiều quan lại nước Thục trước đây cảm động phát khóc. Nhân đó, Tư Mã Chiêu hỏi ông có còn nhớ đất Thục không. Lưu Thiện nói:

Ở đây rất vui. Tôi không còn nhớ gì đến đất Thục nữa.

Khước Chính nghe thấy lời nói của Lưu Thiện thì không hài lòng và khuyên ông nếu Tư Mã Chiêu có còn hỏi thì nên nói rằng mồ mả tổ tiên vẫn còn ở Lũng Thục nên không ngày nào không nhớ.

Lát sau Tư Mã Chiêu lại hỏi, Lưu Thiện đáp y như vậy. Chiêu bèn bảo:

Sao giống lời Khước Chính thế.

Lưu Thiện thất kinh, thú nhận hết việc này. Mọi người xung quanh đều chê cười ông.

Năm 271 đời Thái Thủy nhà Tấn, Lưu Thiện mất ở Lạc Dương, thụy là Tư công. Con trai ông là Lưu Tuân lên kế nhiệm tước vị An Lạc công.[32]. Nhiều nhà sử học thời xưa thường nhìn nhận Lưu Thiện là một dung chủ (ông vua mất nước).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Hán Chiêu Liệt đế Lưu Bị
  • Mẹ: Cam phu nhân
  • Thê thiêp
    • Kính Ai hoàng hậu Trương thị
    • Hoàng hậu Trương thị (em Kính Ai)
    • Vương quý nhân, nguyên là thị nữ của Trương hậu
    • Lý Chiêu nghi, tự sát khi nước Thục diệt vong
  • Con cái
    • Lưu Tuyền
    • Lưu Dao
    • Lưu Tông
    • Lưu Toản
    • Lưu Kham
    • Lưu Tông
    • Lưu Cừ

Đến sau loạn Vĩnh Gia thì Thục Hán tuyệt tự.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Hậu chủ húy Thiện, tự Công Tự, tiên chủ tử dã
  2. ^ Tam quốc chí, quyển 40: Tự lập A Đẩu vi thái tử dĩ lai
  3. ^ Tam quốc chí, quyển 36: Cập tiên chủ vi Tào công sở truy ư Đương Dương Trường Bản, khí thê tử nam tẩu, Vân thân bão nhược tử, tức hậu chủ dã, bảo hộ Cam phu nhân, tức hậu chủ mẫu dã, giai đắc miễn nan
  4. ^ Tam quốc chí, quyển 36: Thử thì tiên chủ Tôn phu nhân dĩ Quyền muội kiêu hào, đa tương Ngô lại binh, tung hoành bất pháp. Tiên chủ dĩ Vân nghiêm trọng, tất năng chỉnh tề, đặc nhậm chưởng nội sự. Quyền văn Bị tây trưng, đại khiển chu thuyền nghênh muội, nhi phu nhân nội dục tương Hậu chủ hoàn Ngô, Vân dữ Trương Phu lặc binh tiệt giang, nãi đắc hậu chủ hoàn
  5. ^ Tam quốc chí, 32: Thượng thần đại tư mã Hán Trung vương. Thần phục tự tam tỉnh, thụ quốc hậu ân, hà nhậm nhất phương, trần lực vị hiệu, sở hoạch dĩ quá, bất nghi phục thiểm cao vị dĩ trọng tội báng. Quần liêu kiến bức, bách thần dĩ nghĩa Thần thối duy khấu tặc bất kiêu, quốc nan vị dĩ, tông miếu khuynh nguy, xã tắc tương trụy, thành thần ưu trách toái thủ chi phụ. Nhược ứng quyền thông biến, dĩ ninh tĩnh thánh triều tuy phó thủy hỏa, sở bất đắc từ, cảm lự thường nghi, dĩ phòng hậu hối. Triếp thuận chúng nghị, bái thụ ấn tỉ, dĩ sùng quốc uy
  6. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Kiến an nhị thập tứ niên, tiên chủ vi Hán Trung vương, lập vi Vương thái tử
  7. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Cập tức tôn hào, sách viết: Duy Chương Vũ nguyên niên ngũ nguyệt tân tị, hoàng đế nhược viết: thái tử Thiện, trẫm tao Hán vận gian nan, tặc thần soán đạo, xã tắc vô chủ, cách nhân quần chánh, dĩ thiên minh mệnh, trẫm kế đại thống. Kim dĩ thiện vi hoàng thái tử, dĩ thừa tông miếu, chi túc xã tắc. sử trì tiết Thừa tướng Lượng thụ ấn thụ, kính thính sư phó, hành nhất vật nhi tam thiện giai đắc yên, khả bất miễn dữ
  8. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Ngũ nguyệt, hậu chủ tập vị ư Thành Đô, thì niên thập thất, tôn hoàng hậu viết Hoàng thái hậu, đại xá, cải nguyên
  9. ^ Tam quốc chí, quyển 35: Kiến hưng nguyên niên, phong Lượng Vũ Hương hầu, khai phủ trị sự
  10. ^ Tam quốc chí, quyển 33: thị tuế, lập Hoàng hậu Trương thị. Khiển thượng thư lang Đặng Chi cố hảo ư Ngô, Ngô vương Tôn Quyền dữ Thục hòa thân sử sính, thị tuế thông hảo
  11. ^ Tam quốc chí, quyển 44: Lượng mỗi ngôn: Công Diễm thác chí trung nhã, đương dữ ngô cộng tán vương nghiệp giả dã. Mật biểu hậu chủ viết"Thần nhược bất hạnh, hậu sự nghi dĩ phó Uyển"
  12. ^ Lê Đông Phương, sách đã dẫn, tr 317
  13. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Đại xá, dĩ tả tương quân Ngô Nhất vi Xa kị tướng quân, Giả tiết đốc Hán Trung, dĩ Thừa tướng lưu phu trưởng sử Tương Uyển vi Thượng thư lệnh, tổng thống quốc sự. Thập tam niên xuân chánh nguyệt trung quân sư Dương Nghi phế tỉ Hán gia quận. Hạ tứ nguyệt, tiến Tương Uyển vị vi đại tương quân
  14. ^ Nay thuộc huyện Miên Dương, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc
  15. ^ Tam quốc chí, quyển 34: Hậu chủ Kính ai hoàng hậu, Xa kị tướng quân Trương Phi trưởng nữ dã. Chương Vũ nguyên niên, nạp vi Thái tử phi. Kiến Hưng nguyên niên, lập vi hoàng hậu. Thập ngũ niên hoăng, táng Nam Lăng
  16. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Diên Hi nguyên niên xuân chánh nguyệt, lập hoàng hậu Trương thị, đại xá, công nguyên. Lập tử Duệ vi thái tử, tử Dao vi An Định vương
  17. ^ Tam quốc chí, quyển 34: Hậu chủ Trương hoàng hậu, tiền hậu Kính Ai chi muội dã. Kiến hưng thập ngũ niên, nhập vi quý nhân. Diên Hi nguyên niên xuân chánh nguyệt, sách viết:" Trẫm thống thừa đại nghiệp, quân lâm thiên hạ, phụng giao miếu xã tắc. Kim dĩ quý nhân vi hoàng hậu
  18. ^ Nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc
  19. ^ Tam quốc chí, quyển 44: Chí cửu niên tốt, ích viết Cung
  20. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Thu, Vệ tướng quân Khương Duy xuất công Ung châu, bất khắc nhi hoàn. Tướng quân Cấu An, Lý Thiều hàng Ngụy
  21. ^ Tam quốc chí, quyển 44: Diên Hi thập lục niên tuế thủ đại hội, Ngụy hàng nhân  Quách Tuần tại tọa. Y hoan ẩm trầm túy, vi Tuần thủ nhận sở hại, ích viết Kính hầu
  22. ^ Tam quốc chí, quyển 44: Thập cửu niên xuân, tựu thiên Duy vi đại tương quân
  23. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Thập cửu niên xuân, tiến Khương Duy vị vi Đại tướng quân
  24. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Nhị niên hạ lục nguyệt, lập tử Kham vi Bắc Địa vương, Tuân vi Tân Hưng vương, Kiền vi Thượng Đảng vương
  25. ^ Đông bác Trác Ni, Thiểm Tây
  26. ^ Phía tây huyện Đa Khúc, nam Mân huyện thuộc Cam Túc
  27. ^ Nay thuộc vùng ngoài Bạch Lang Giang, bến nước Khổng U, huyện Vũ Đô, Cam Túc
  28. ^ Tam quốc chí, quyển 28: Tứ niên thu, chiếu chư quân chinh Thục, đại tương quân Tư Mã Văn vương giai chỉ thụ tiết độ, sử Ngải dữ duy tương chuế liên. Ung châu thứ sử Gia Cát Tự yếu duy, lệnh bất đắc quy. Ngải khiển Thiên Thủy thái thủ Vương Kì đẳng trực công duy doanh, Lũng Tây thái thú Khản Hoằng đẳng yêu kì tiền, Kim Thành thái thủ Dương Hân đẳng nghệ cam tùng. Duy văn Chung Hội chư quân dĩ nhập Hán Trung, dẫn thối hoàn
  29. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Kham khốc ư Chiêu Liệt chi miếu, tiên sát thê tử, nhi hậu tự sát
  30. ^ Tam quốc chí, quyển 28: Đông thập nguyệt, Ngải tự Âm Bình đạo hành vô nhân chi địa thất bách dư lí, tạc san thông đạo, tạo tác Kiều Các san cao cốc thâm, chí vi gian hiểm, hựu lương vận tương quỹ, tần ư nguy đãi. Ngải dĩ chiên tự khỏa, thôi chuyển nhi hạ. Tương sĩ giai phàn mộc duyên nhai, ngư quán nhi tiến. Tiên đăng chí giang do, Thục thủ tướ Mã Mạc hàng.Thục Vệ tương quân Gia Cát Chiêm tự phù hoàn Miên Trúc, liệt trần đãi Ngải. Ngải khiển tử huệ đường đình hầu Trung đẳng xuất kì hữu, tư mã sư toản đẳng xuất kì tả. Trung toản chiến bất lợi, tịnh thối hoàn, viết: "Tặc vị khả kích." Ngải nộ viết:"Tồn vong chi phân, tại thử nhất cử, hà bất khả chi hữu?". Nãi sất Trung, toản đẳng, tương trảm chi. Trung, Toản trì hoàn canh chiến, đại phá chi, trảm Chiêm cập thượng thư Trương Tuân đẳng thủ, tiến quân đáo lạc. Lưu Thiện khiển sử phụng hoàng đế tỉ thụ, vi tiên nghệ Ngải thỉnh hàng
  31. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Ngải chí thành bắc, hậu chủ hưng sấn tự phược, nghệ quân lũy môn. Ngải giải phược phần sấn, diên thỉnh tương kiến. Tấn chư công tán viết: Lưu Thiện thừa loa xa nghệ ngải, bất cụ vong quốc chi lễ. Nhân thừa chế bái hậu chủ vi Phiêu kị tướng quân. Chư vi thủ tất bị hậu chủ sắc, nhiên hậu hàng hạ
  32. ^ Tam quốc chí, quyển 33: Công Thái Thủy thất niên hoăng ư Lạc Dương. Thục kí vâ thụy viết Tư công tử Tuân tự