Ngụy Diên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các tên gọi
chữ Hán: 魏延
Bính âm: Wèi Yán
Wade-Giles: Wei Yen
Tự: Văn Trường (文長)

Ngụy Diên (chữ Hán: 魏延; ?-234), tên tựVăn Trường (文長), là tướng nhà Thục Hán thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Hoa.

Phó tá Lưu Bị[sửa | sửa mã nguồn]

Ngụy Diên ban đầu làm tướng ở Kinh châu thời Lưu Biểu. Ông có sức khỏe, dũng mãnh hơn người và khéo quan tâm tới quân sĩ; được cấp dưới kính trọng nhưng bạn bè lại không ưa[1].

Năm 208, Tào Tháo mang quân nam tiến đánh chiếm Kinh châu, ông định đi theo Lưu Bị nhưng không đuổi kịp, bèn chạy sang quận Trường Sa theo thái thú Hàn Huyền.

Sau trận Xích Bích thắng lợi, Lưu Bị sai Quan Vũ đi đánh Trường Sa. Hàn Huyền chống cự không hàng. Ngụy Diên muốn theo Lưu Bị, bèn tới thuyết phục viên tướng giỏi nhất ở Trường Sa là Hoàng Trung đầu hàng. Hoàng Trung bằng lòng theo Ngụy Diên hàng Quan Vũ, vì vậy cuối cùng bức được Hàn Huyền không thể tiếp tục chống cự, phải dâng thành đầu hàng nốt[2].

Tam Quốc diễn nghĩa kể rằng Hoàng Trung kiên trinh không hàng, nhưng lại bị Hàn Huyền nghi ngờ mang xử tử. Ngụy Diên đánh vào pháp trường cứu Hoàng Trung rồi dẫn đầu binh sĩ đi giết Hàn Huyền, mang thành Trường Sa theo Quan Vũ. Vì việc này ông bị Gia Cát Lượng xem là người phản phúc. Các sử gia đã chỉ rõ rằng "tướng mạo phản phúc" của Ngụy Diên hoàn toàn do La Quán Trung hư cấu, thực chất ông là người rất trung thành, dũng cảm và những phẩm chất đó được không chỉ Lưu Bị mà cả Gia Cát Lượng quý mến[3].

Năm 212, Ngụy Diên theo Lưu Bị mang quân vào đánh Ích châu[4] của Lưu Chương. Trong quá trình tham chiến ở Ích châu, Ngụy Diên lập công, được phong làm Nha môn tướng quân.

Năm 219, Lưu Bị chiếm được Hán Trung và xưng là Hán Trung vương. Trước khi về Thành Đô, Lưu Bị muốn chọn người trấn thủ Hán Trung. Mọi người ai cũng nghĩ là một người thân tín như Trương Phi, chính Trương Phi cũng cho rằng ngoài mình ra khó ai đảm đương được việc này[5]. Nhưng cuối cùng Lưu Bị lại chọn Ngụy Diên làm Thái thú Hán Trung, Trấn viễn tướng quân. Khi được hỏi về việc đảm đương một vùng sát biên giới với Tào Tháo, Ngụy Diên hùng dũng khẳng định mình sẽ làm tốt nhiệm vụ được Lưu Bị giao phó. Lưu Bị nghe ông nói rất yên tâm rút về Thành Đô.

Năm 221, Lưu Bị xưng đế, Ngụy Diên được phong làm Chinh bắc tướng quân.

Đánh Ngụy[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến kế không được dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 223, Lưu Bị mất, Lưu Thiện lên kế vị. Ngụy Diên được phong làm Đô đình hầu.

Năm 227, Ngụy Diên đóng quân ở Hán Trung kiêm chức thừa tướng phủ tư mã, Thứ sử Lương châu, thống lĩnh quân tiên phong của Thục Hán. Thời kỳ đó các danh tướng Quan Vũ, Trương Phi, Hoàng TrungMã Siêu đều đã mất, tướng Thục Hán tự mình đảm đương được một phương chỉ còn Ngụy Diên và Triệu Vân[6].

Năm 228, Gia Cát Lượng mang quân đánh Ngụy, họp tướng sĩ ở Nam Trịnh bàn kế. Để vào lãnh thổ Tào Ngụy có 3 đường vượt qua Tần Lĩnh[7]:

  1. Đường Tý Ngọ phía đông dài hơn 600 dặm
  2. Đường Trú Cốc ở giữa dài hơn 400 dặm
  3. Đường Tà Cốc phía tây dài gần 500 dặm.

Nghe tin Ngụy Minh Đế Tào Tuấn sai phò mã Hạ Hầu Mậu đóng quân ở Tây An để phòng thủ Trường An, Ngụy Diên bèn hiến kế với Gia Cát Lượng[8]:

Hạ Hầu Mậu tuổi trẻ, chưa có kinh nghiệm đánh trận, lại là con rể vua Ngụy, tính tình nhút nhát không có mưu lược gì. Nếu bây giờ cho tôi 5000 tinh binh, lương thảo đầy đủ, xuất phát từ Bao Trung dọc theo Tần Lĩnh, đến hang Tý Ngọ lên phía bắc thì chỉ trong 10 ngày có thể đánh đến Trường An. Thóc gạo trong kho và lương thực còn lại trong dân đủ dùng cho quân ta. Quân địch muốn tập trung lực lượng chống cự, ít nhất cũng mất 20 ngày. Khi đó Thừa tướng xuất binh từ Tà Cốc đến Mi Quốc, Trần Thương để vào Trường An. Cứ như vậy hai cánh quân cùng phối hợp thì tất cả vùng phía tây Hàm Dương trở đi sẽ bình định xong.

Tuy nhiên Gia Cát Lượng cho rằng kế này của Ngụy Diên quá mạo hiểm, dễ tổn hại binh sĩ nên không nghe theo, mà chủ định đi theo đường bằng phẳng, bình định vùng Lũng Hữu cho an toàn.

Các sử gia bàn nhiều về ý kiến này của Ngụy Diên. Có ý kiến lấy làm khó hiểu vì sao Gia Cát Lượng không làm theo kế để nhanh chóng đạt thành quả trong việc Bắc phạt, ngược lại những ý kiến đồng tình với Gia Cát Lượng cho rằng cách làm của Ngụy Diên quá sơ xuất và Gia Cát Lượng hiểu rõ thực lực, nhân sự của Tào Ngụy không dễ bị đánh bại ngay bằng một vài trận. Mặt khác, Gia Cát Lượng không thể không thận trọng bởi những tấm gương tày liếp của Quan Vũ đánh Tương Phàn hay Lưu Bị đánh Di Lăng, tuy khởi phát thắng lợi tưởng như nuốt được kẻ địch nhưng sau đó thất bại thê thảm. Các sử gia cũng bác bỏ luồng ý kiến căn cứ vào Tam Quốc diễn nghĩa cho rằng Gia Cát Lượng không tin tưởng Ngụy Diên nên không muốn dùng ông, vì ông vốn là trọng thần từ thời Lưu Bị và tiếp tục được Gia Cát Lượng tin tưởng, đề bạt trong thời Hậu chủ Lưu Thiện. Sở dĩ Ngụy Diên phải ấm ức vì Gia Cát Lượng biết Ngụy Diên có chí lớn diệt Tào Ngụy, mong lập công, nhưng Gia Cát Lượng không thể nói hết với ông rằng: ý nghĩa đánh Ngụy trên thực tế chỉ là "lấy công để thủ" chứ diệt Ngụy là việc không thể làm được với thực lực của Thục Hán[9].

Đó là lần đầu tiên Thục Hán đánh Tào Ngụy trong chiến dịch Bắc phạt, đang tác chiến thuận lợi ở Lũng Hữu thì Mã Tốc để thất thủ Nhai Đình nên phải rút quân về.

Lập công[sửa | sửa mã nguồn]

Không lâu sau, lão tướng Triệu Vân qua đời, các danh tướng thời Lưu Bị chỉ còn lại Ngụy Diên. Năm 230, Ngụy Diên vâng lệnh Gia Cát Lượng cùng Ngô Đài mang kị binh từ Hà Trì ra Kỳ Sơn rồi tiến vào Khương Trung[10]. Do lãnh cả trách nhiệm trấn thủ Hán Trung, Ngụy Diên báo đề nghị có ngày được trở về.

Tháng 11 năm đó, ông mang 1 vạn kị binh từ Khương Trung quay lại bản doanh. Biết tin, tướng Ngụy là Phí Diệu cùng Thứ sử Ung châu là Quách Hoài mang quân chặn đánh. Hai bên ác chiến tại Thượng Khuê[11]. Quân Ngụy bịt hết đường đi, tập trung quân dưới khe núi, định nửa đêm sẽ vây đánh doanh trại của Ngụy Diên. Cùng lúc Gia Cát Lượng phái quân tới tiếp ứng, Ngụy Diên bèn phối hợp 2 cánh quân cùng đánh khiến Quách Hoài đại bại. Do lập công trong trận này, Ngụy Diên được phong chức Tiền quân sư, Chinh tây đại tướng quân, giả tiết, tước Nam Trịnh hầu.

Trong những chiến dịch đánh Ngụy sau đó của Gia Cát Lượng, Ngụy Diên cũng tham chiến, nhưng quân Thục khi thắng khi thua, cuối cùng đều phải rút về không đạt kết quả. Trong những lần ra quân, Ngụy Diên thường đề nghị được lãnh một cánh quân độc lập tác chiến theo đường khác để hội nhau ở Đồng Quan, nhưng không được chấp nhận. Vì vậy ông thường trách Gia Cát Lượng nhát gan không dám theo kế nên tài năng dũng khí của ông bị bỏ phí[12].

Xung đột với Dương Nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Mâu thuẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngụy Diên có tài, giỏi rèn luyện quân sĩ nhưng có tính tự kiêu nên các tướng thường tránh xung đột với ông. Chỉ riêng Dương Nghi không nhân nhượng, thường ra mặt đối đầu với Ngụy Diên. Vì vậy ông rất ghét Dương Nghi[13].

Hai người xung khắc tới mức cứ ngồi với nhau là cãi nhau. Có lần Ngụy Diên tức giận rút kiếm ra chĩa vào Dương Nghi, Nghi khóc ầm lên. Phí Y phải đứng ra hòa giải hai người[14]. Tình trạng bất hòa giữa hai tướng lớn tới mức bên Đông Ngô cũng biết chuyện. Khi Phí Y khi làm sứ giả sang Ngô, Tôn Quyền từng nói với Phí Vĩ về hai người và tiêu liệu rằng khi Gia Cát Lượng mất cả hai người sẽ cùng làm loạn.

Tranh chấp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 234, ông lại theo Gia Cát Lượng đi đánh Ngụy. Ngụy Diên vâng lệnh dẫn quân từ Bắc Cốc Khẩu làm tiên phong đi trước, đóng trại các đại trại của Gia Cát Lượng khoảng 10 dặm. Theo Tam quốc chí, mùa thu năm đó, Gia Cát Lượng ốm nặng trong doanh trại, bí mật sai người gọi Dương Nghi, Phí YKhương Duy đến, sắp đặt việc rút quân, theo đó Trưởng sử Dương Nghi đi trước, Hộ quân Khương Duy cùng Ngụy Diên đi đoạn hậu, nếu Ngụy Diên không chịu thì cứ mặc, đại quân cứ rút về[15].

Gia Cát Lượng qua đời, Dương Nghi sai Phí Vĩ đến báo tin và thăm dò Ngụy Diên. Ngụy Diên không tán thành rút quân chỉ vì cái chết của Gia Cát Lượng mà muốn ở lại tiếp tục đánh Ngụy, đồng thời tỏ ý không phục tùng mệnh lệnh của Dương Nghi[15]. Ông giữ Phí Y lại trong quân, bàn bạc việc hậu sự cho Gia Cát Lượng, ai sẽ hộ tống linh cữu, ai sẽ đi đoạn hậu, viết vào giấy, bảo Phí Y cùng ký tên để công bố cho các tướng biết.

Phí Y sợ Ngụy Diên, phải giả vờ nghe theo, rồi xin trở về thuyết phục Dương Nghi nhường bước. Ngụy Diên tin theo, bèn cho Phí Y trở về. Phí Y ra khỏi doanh trại của Ngụy Diên vội lên ngựa phóng như bay. Ngụy Diên sau đó hối hận sai người đuổi theo giữ lại nhưng không kịp.

Ông bèn sai thủ hạ đi theo dõi cử động của Dương Nghi. Khi biết tin các tướng đang chuẩn bị rút về theo kế hoạch của Gia Cát Lượng, Ngụy Diên nổi giận, quyết định hành động trước. Ông mang quân chiếm lĩnh con đường rút về phía nam. Đường xá trong Thục vốn hiểm trở phải bắc ván thành đường nhỏ để hành quân gọi là sạn đạo; Ngụy Diên phá hỏng các con đường sạn đạo đi về Hán Trung để ngăn Dương Nghi rút lui[16].

Dương Nghi thấy Ngụy Diên ra tay trước, bèn cùng Phí Y dâng biểu về triều, nói Ngụy Diên làm phản. Ngụy Diên cũng dâng biểu về triều nói Dương Nghi và Phí Vĩ làm phản[17]. Hậu chủ Lưu Thiện và các quan trong triều không hiểu ai đúng ai sai, phải hỏi ý kiến Trưởng sử Tưởng Uyển và Thị trung Đổng Doãn. Hai người cho rằng chỉ có Ngụy Diên đáng nghi ngờ, còn Dương Nghi sẽ không làm phản[16].

Dương Nghi thấy đường sạn đạo bị phá, bèn sai quân chặt cây, làm cầu gấp rút ngày đêm để khai thông đường hành quân. Quân Dương Nghi tiến gần tới chỗ Ngụy Diên đóng quân. Ngụy Diên chiếm cứ Bao Cốc đón đánh Dương Nghi.

Thất bại[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Nghi lệnh cho Vương Bình đi tiên phong đánh Ngụy Diên. Vương Bình chỉ trích hành động làm loạn của Ngụy Diên, kích động quân Ngụy Diên đào ngũ. Kết quả quân Ngụy Diên không chịu chiến đấu, bỏ đi gần hết.

Ngụy Diên cô thế đành cùng con trai và mấy người thân tín bỏ chạy về Hán Trung. Dương Nghi sai Mã Đại mang quân đuổi theo, giết chết ông. Mã Đại mang thủ cấp về cho Dương Nghi. Nghi trông thấy thủ cấp Ngụy Diên, bèn trút tức giận, đứng bật dậy đá mạnh vào thủ cấp và chửi rủa[18].

Hậu chủ Lưu Thiện chuẩn theo lời thỉnh cầu của Dương Nghi và Phí Y, khép Ngụy Diên tội mưu phản và ra lệnh tru di tam tộc nhà Ngụy Diên[17]. Còn Dương Nghi trở về, không lâu sau vì bất mãn không được thay Gia Cát Lượng làm thừa tướng, tỏ ra oán hận cũng bị cách chức và tự vẫn (năm 235).

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Về quan hệ với Gia Cát Lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngụy Diên được đánh giá là viên tướng có tài năng, dũng cảm; là một trong những trụ cột của nước Thục Hán[19][20].

Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình cho rằng Gia Cát Lượng đã sai lầm khi không trọng dụng Ngụy Diên; Lý Tiên Niệm cũng cho rằng Gia Cát Lượng bắc phạt không thắng lợi do không theo kế đi đường hang Tý Ngọ của ông[21]. Sau khi Gia Cát Lượng mất, Ngụy Diên được đánh giá là người có năng lực phù hợp để thay thế Gia Cát Lượng hơn cả[22].

Về cách ứng xử của Gia Cát Lượng trước mâu thuẫn giữa Ngụy Diên và Dương Nghi, có ý kiến cho rằng thừa tướng nước Thục Hán có phần thiên lệch cho Dương Nghi, hoài nghi và trù dập Ngụy Diên, dẫn tới hành động lạm quyền của Dương Nghi sau khi Gia Cát qua đời[22].

Về nghi án[sửa | sửa mã nguồn]

Án "Ngụy Diên mưu phản" được xem là một án lớn thời Tam Quốc, các sử gia nhìn nhận là có nguyên nhân nhưng không có chứng cứ.

Trong hoàn cảnh lúc đó, việc làm của Ngụy Diên sẽ gây ra nghi ngờ cho triều đình vì những lý do sau[23]:

  1. Quân nhân luôn phải phục tùng mệnh lệnh, tự mình hành động sẽ bị quy kết
  2. Mang quân xuống phía nam, không đi đoạn hậu làm trái ý Gia Cát Lượng
  3. Chặn đường Dương Nghi, sẽ bị ngờ vực muốn đánh vào Thành Đô. Trong khi đó phía Dương Nghi chưa thấy dấu hiệu nào đáng ngờ, vì vậy trong bối cảnh cả 2 người tố cáo lẫn nhau thì Ngụy Diên khó giải thích nổi, nên Tưởng UyểnĐổng Doãn chỉ nghi ngờ Ngụy Diên mà không nghi ngờ Dương Nghi.

Tuy nhiên, đó chỉ là phán xét hành động bên ngoài. Nếu nhìn vào hoàn cảnh thực tế, Ngụy Diên không có khả năng "làm phản thay vua Thục Hán" (như tội danh bị quy kết) và bản thân Ngụy Diên cũng không có tính toán như vậy. Nếu ông muốn làm phản để lật Hán, cách tốt nhất là mang quân bản bộ hàng Ngụy, dẫn Tư Mã Ý vào đánh Thục, trước tiên tiêu diệt Dương Nghi. Sau này ngay cả khi bị Vương Bình đánh bại, Ngụy Diên cũng không chạy sang quân Tư Mã Ý mà chỉ trở về Hán Trung, như vậy ông không hề có ý định phản Hán[17][24].

Các sử gia thống nhất với ý kiến của Trần Thọ - tác giả Tam quốc chí, giải thích hành động của Ngụy Diên đúng như lời ông đã tuyên bố với Phí Y, chứ không phải đó là chiêu bài để "làm phản" triều đình[25][26]:

  • Bình sinh chỉ có Gia Cát Lượng khống chế được Ngụy Diên. Sau khi Khổng Minh qua đời, Ngụy Diên không chịu phục tùng tướng khác, nhất là Dương Nghi vốn hay ra mặt đối kháng với ông
  • Ngụy Diên không muốn hàng Ngụy, chỉ muốn đón đánh giết Dương Nghi, trở thành người thay Gia Cát Lượng làm người chỉ huy tối cao cuộc Bắc phạt và tiếp tục công việc này. Ông vẫn luôn ấm ức vì kế sách của mình không được dùng nên muốn thực hiện được nó.

Các sử gia cho rằng hành động của Ngụy Diên mạo hiểm và đáng trách, nhưng nếu kết tội "làm phản" thì oan uổng cho ông[27], và tru di tam tộc là việc làm thái quá của triều đình[28]. Theo sử gia Trần Nhĩ Đông, Ngụy Diên cả đời chinh chiến, có công lớn, không có tội lớn, nhưng gặp họa lớn và bị vu khống (mưu phản)[29]. Sử gia Hách Kinh và Lưu Gia cho rằng Dương Nghi vì tư thù giết đại tướng, tội còn nặng hơn Ngụy Diên; lại đạp thủ cấp, (xúi triều đình) giết 3 họ là cách trả thù của tiểu nhân[30].

Lê Đông Phương cho rằng Ngụy Diên chết rất oan uổng; việc làm "đốt đường sạn đạo" và dùng vũ lực ngăn cản Dương Nghi, Lê Đông Phương cho rằng đó là do Dương Nghi và Phí Y dựng lên tâu với Hậu chủ[17].

Ý kiến của Bùi Tùng Chi khi chú giải Tam quốc chí, dẫn Ngụy lược cho rằng Gia Cát Lượng lúc lâm chung vốn chỉ định Ngụy Diên thay mình chứ không phải là Dương Nghi, và "ngầm lệnh cho Ngụy Diên lo việc của mình, bí mật chôn cất"; Ngụy Diên làm theo lệnh của Gia Cát Lượng nhưng bị Dương Nghi tranh chấp nên mới mang quân đánh Nghi; nhưng Ngụy Diên không có ý phản nên khi thất bại đã rút lui về căn cứ Hán Trung và bị Dương Nghi giết. Với cách nhìn nhận này, thì chính Gia Cát Lượng là người có trách nhiệm gây ra xung đột giữa Dương và Ngụy và để xảy ra án oan cho Ngụy Diên, vì Khổng Minh đã đưa cho hai người hai mệnh lệnh khác nhau và đẩy hai người tới chỗ một mất một còn[31]. Với ý kiến này, các sử gia hiện đại đã bác bỏ là không có khả năng Khổng Minh "ngầm ra lệnh cho lo việc của mình, bí mật chôn cất", vì Ngụy Diên vốn đóng quân ở xa, chỉ có Dương Nghi bên cạnh. Với mệnh lệnh đó Ngụy Diên không có cách nào thực hiện được và người như Khổng Minh sẽ không ra một mệnh lệnh như vậy[32].

Do đó, có ý kiến nêu cần xem lại tính xác thực của mệnh lệnh khi lâm chung của Khổng Minh: "Khương Duy cùng Ngụy Diên đi đoạn hậu, nếu Ngụy Diên không chịu thì cứ mặc, đại quân cứ xuất phát" và cho rằng khi còn sống Gia Cát Lượng không kịp sắp đặt việc rút quân, chính Dương Nghi đã đặt ra di mệnh này của Khổng Minh và không ai trong quân Thục có thể kiểm chứng rằng đó là lời Khổng Minh hay Dương Nghi[33].

Trong Tam Quốc diễn nghĩa và Tam Quốc ngoại truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Ngụy Diên ban đầu là một viên tướng có chức vụ trung bình của Lưu Biểu. Ngụy Diên đã đầu hàng và theo phò Lưu Bị sau khi Lưu Bị chiếm được Trường Sa khoảng năm 209.

Ngụy Diên được mô tả là một tướng thường mang lòng phản trắc, phản chủ cầu vinh, đằng sau gáy có phản cốt. Lúc Gia Cát Lượng qua đời, Ngụy Diên làm phản nhưng đã bị Mã Đại và Dương Nghi giết chết theo kế của Gia Cát Lượng trước khi mất đã truyền cho.

Theo nhiều ý kiến thì Gia Cát Lượng có thành kiến không tốt với Ngụy Diên nên thường hay đem lòng nghi ngờ lòng trung thành của ông. Dù có lần Ngụy Diên hiến kế hay (đánh Nguỵ từ đường tắt là hang Tý Ngọ để tập kích vào Trường An chứ không đi theo đường chính diện sẽ lâu và lộ liễu) nhưng Gia Cát Lượng vì thành kiến cá nhân nên không nghe theo. Kết quả thực tế cho thấy 6 lần Gia Cát Lượng ra Kỳ Sơn không theo kế của ông lần nào và đều không thành công.

Sách "Tam Quốc ngoại truyện" cho rằng chính Nguỵ Diên bị Dương Nghi vu hãm, còn bản thân ông là người tốt.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Đông Phương (2007), Kể chuyện Tam Quốc, NXB Đà Nẵng
  • Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân (2006), Tướng soái cổ đại Trung Hoa, tập 1, NXB Lao động.
  • Dịch Trung Thiên (2010), Phẩm Tam Quốc, tập 2, NXB Công an nhân dân.
  • Trần Văn Đức (2008), Khổng Minh Gia Cát Lượng đại truyện, NXB Văn học
  • Phùng Lập Bản (2005), Thuật dùng người thời Tam Quốc, NXB Thanh niên

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Văn Đức, sách đã dẫn, tr 161
  2. ^ Trần Văn Đức, sách đã dẫn, tr 160
  3. ^ Lê Đông Phương, sách đã dẫn, tr 310
  4. ^ Ngày nay là tỉnh Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
  5. ^ Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 653
  6. ^ Trần Văn Đức, sách đã dẫn, tr 384
  7. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 312
  8. ^ Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 655
  9. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 314-319, 326
  10. ^ Nay là huyện Lâm Hạ tỉnh Cam Túc và huyện Tuần Hóa, Quý Đức tỉnh Thanh Hải
  11. ^ Nay là vùng đông nam huyện Vệ Nguyên tỉnh Cam Túc
  12. ^ Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 655-656
  13. ^ Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 656
  14. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 298
  15. ^ a ă Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 658
  16. ^ a ă Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 659
  17. ^ a ă â b Lê Đông Phương, sách đã dẫn, tr 317
  18. ^ Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 660
  19. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 301
  20. ^ Phùng Lập Bản, sách đã dẫn, tr 333
  21. ^ Phùng Lập Bản, sách đã dẫn, tr 104
  22. ^ a ă Phùng Lập Bản, sách đã dẫn, tr 334
  23. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 292
  24. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 292-293
  25. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 294
  26. ^ Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 660
  27. ^ Phùng Lập Bản, sách đã dẫn, tr 103
  28. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 294
  29. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 301
  30. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 301
  31. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 303
  32. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 306
  33. ^ Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 311