Tam quốc chí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhị thập tứ sử
STT Tên sách Tác giả Số quyển
1 Sử ký Tư Mã Thiên 130
2 Hán thư Ban Cố 100
3 Hậu Hán thư Phạm Diệp 120
4 Tam quốc chí Trần Thọ 65
5 Tấn thư Phòng Huyền Linh
(chủ biên)
130
6 Tống thư Thẩm Ước 100
7 Nam Tề thư Tiêu Tử Hiển 59
8 Lương thư Diêu Tư Liêm 56
9 Trần thư Diêu Tư Liêm 36
10 Ngụy thư Ngụy Thâu 114
11 Bắc Tề thư Lý Bách Dược 50
12 Chu thư Lệnh Hồ Đức Phân
(chủ biên)
50
13 Tùy thư Ngụy Trưng
(chủ biên)
85
14 Nam sử Lý Diên Thọ 80
15 Bắc sử Lý Diên Thọ 100
16 Cựu Đường thư Lưu Hú
(chủ biên)
200
17 Tân Đường thư Âu Dương Tu,
Tống Kỳ
225
18 Cựu Ngũ Đại sử Tiết Cư Chính
(chủ biên)
150
19 Tân Ngũ Đại sử Âu Dương Tu
(chủ biên)
74
20 Tống sử Thoát Thoát
(chủ biên)
496
21 Liêu sử Thoát Thoát
(chủ biên)
116
22 Kim sử Thoát Thoát
(chủ biên)
135
23 Nguyên sử Tống Liêm
(chủ biên)
210
24 Minh sử Trương Đình Ngọc
(chủ biên)
332
- Tân Nguyên sử Kha Thiệu Văn
(chủ biên)
257
- Thanh sử cảo Triệu Nhĩ Tốn
(chủ biên)
529

Tam quốc chí (giản thể: 三国志; phồn thể: 三國志; Wade-Giles: Sanguo Chih; bính âm: Sānguó Zhì), là một sử liệu chính thức và có căn cứ về thời đại Tam Quốc của Trung Quốc từ năm 189 đến năm 280, do Trần Thọ (陈寿) biên soạn vào thế kỉ thứ 3. Tác phẩm này hình thành từ các mẩu chuyện nhỏ kể về các nước Ngụy, ThụcNgô của thời đại này, đồng thời là nền tảng cho cuốn tiểu thuyết lịch sử rất phổ biến là Tam quốc diễn nghĩa được viết vào thế kỉ 14.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thọ từng làm quan cho nhà Thục Hán, sau khi Thục Hán diệt vong, ông đến Lạc Dương làm quan cho nhà Tây Tấn. Trần Thọ đã dựa vào các sử liệu cơ bản như Ngụy thư của Vương Thẩm, Ngụy lược của Ngư Hoạn, Ngô thư của Vi Chiêu... để viết Tam quốc chí[1], thuật lại lịch sử Trung Quốc từ khởi nghĩa Khăn Vàng vào cuối thời Đông Hán đến khi Tây Tấn thống nhất Trung Quốc, tức từ năm Trung Bình thứ nhất đời Hán Linh Đế (184) đến năm Thái Khang thứ nhất đời Tấn Vũ Đế (280). Tam quốc chí được chia làm 4 phần gồm 66 quyển: Ngụy quốc chí 30 quyển, Thục quốc chí 15 quyển, Ngô quốc chí 20 quyển, ngoài ra còn có 1 quyển Tự lục (lời tựa) nhưng đến nay đã bị thất truyền[2]. Lúc đầu ba tác phẩm Ngụy chí, Thục chíNgô chí tồn tại riêng rẽ, đến năm Hàm Bình thứ 6 thời Bắc Tống (1003) hợp nhất đổi tên thành Tam quốc chí.

Lập trường chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thọ là quan nhà Tấn, do đó phải lấy triều đại đã nhường ngôi cho Tấn là Tào Ngụy làm chính thống.

Ngụy chí xếp các Hoàng đế nhà Ngụy vào bản kỷ, Tào Tháo tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi Hoàng đế nhưng cũng được xếp vào bản kỷ. Có 4 quyển bản kỷ là Vũ Đế kỷ (Tào Tháo), Văn Đế kỷ (Tào Phi), Minh Đế kỷ (Tào Duệ) và Tam Thiếu Đế kỷ (Tào Phương, Tào MaoTào Hoán). Các văn thư nói về việc các vua Ngụy xưng vương, xưng đế, trị nước và việc tang đều không chép (ngoại trừ chiếu nhường ngôi của Hán Hiến Đế - Hán Hiến Đế thiện nhượng sách văn, các văn thư khác chỉ do Bùi Tùng Chi chú thích).

Thục chí xếp Lưu Bị vào liệt truyện tức Tiên chủ truyện (mặc dù Lưu Bị xưng đế), không gọi trực tiếp tên húy, khi chết dùng chữ băng ngang địa vị với chữ tồ[3]. Các văn thư nói về việc Lưu Bị xưng vương, xưng đế, trị nước và việc tang đều chép đầy đủ (có thể do tình lưu luyến với cố quốc). Hoàng đế thứ hai nhà Thục HánLưu Thiện được xếp vào Hậu chủ truyện.

Ngô chí trong nguyên bản gọi thẳng tên húy các vua Đông Ngô như Tôn Quyền truyện, Tôn Lượng Tôn Hưu Tôn Hạo truyện; cách gọi hiện nay Ngô chủ truyện, Tam tự chủ truyện là do người đời sau sửa lại. Trong phần Ngô chủ truyện có chép Nam giao tức Hoàng đế vị nói về việc Tôn Quyền tuyên bố xưng đế, còn văn thư đăng đàn tế cáo trời đất thì không chép, chỉ có trong phần chú thích của Bùi Tùng Chi.

Đồng thời để tôn trọng sự thống trị của nhà Tấn, Tam quốc chí không viết liệt truyện về các nhân vật Tư Mã Ý, Tư Mã SưTư Mã Chiêu (do được Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm truy đặt thụy hiệu)[4]. Ngoài ra, tác giả cũng lược bỏ nguyên nhân Tào Tháo xử tử nhân vật Khổng Dung.

Bùi Tùng Chi chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời Đông Hán, sử học tiếp nhận ảnh hưởng từ trào lưu đơn giản hóa của kinh học nên xuất hiện trào lưu giản lược hóa các tài liệu lịch sử. Trong bối cảnh đó, đã xuất hiện Tam quốc chí của Trần Thọ với nội dung giản lược về thời đại Tam quốc. Sau khi Trần Thọ mất hơn trăm năm, nhiều sử liệu về thời Tam quốc xuất hiện, Tống Văn Đế thời Nam-Bắc triều thấy nội dung của Tam quốc chí quá sơ lược nên đã ra lệnh cho Bùi Tùng Chi chú thích[5]. Bùi Tùng Chi đã tập hợp các sử liệu để bổ sung các phần mà Tam quốc chí không chép hoặc chép thiếu bằng 6 phương pháp:

  1. Dẫn lời bàn luận của nhiều tác gia khác nhau để phân định phải trái.
  2. Tham khảo ý kiến của nhiều tác gia khác nhau để xét chân giả, thực hư.
  3. Sự việc trong các truyện đều kể rõ mọi đầu đuôi, uẩn khúc.
  4. Bổ sung các sự việc còn thiếu cho các truyện.
  5. Kể rõ cuộc đời của các nhân vật trong các truyện.
  6. Phụ thêm các nhân vật còn thiếu cho các truyện[6].

Các tài liệu chủ yếu mà Bùi Tùng Chi sử dụng để chú giải Tam quốc chí có thể kể đến là:

Theo thống kê của một số học giả, thì số tư liệu mà Bùi Tùng Chi dùng để chú giải Tam quốc chí là khoảng 240 loại, gấp 3 lần so với nguyên bản Tam quốc chí. Mã Niệm Tổ trong tác phẩm Thủy kinh chú đẳng bát chủng cổ tịch dẫn dụng thư mục vị biên cho rằng số tư liệu mà Bùi Tùng Chi sử dụng là 203 loại. Hiện nay, theo thống kê bản hiệu đính Tam quốc chí tại Trung Hoa thư cục đã phát hiện phần chính văn của Trần Thọ có 366657 chữ và phần chú thích của Bùi Tùng Chi có 320799 chữ. Tống Văn Đế đương thời gọi công việc chú thích của Bùi Tùng Chi là "bất hủ". Các sử gia đời sau như Tư Mã Quang (thời Bắc Tống) khi biên soạn Tư trị thông giám đã tổng hợp các truyện ký trong Tam quốc chí của Trần Thọ và phần chú thích của Bùi Tùng Chi để miêu tả trận chiến Xích Bích.

Bản Tam quốc chí do Bùi Tùng Chi chú thích là bản thông dụng nhất hiện nay, còn gọi là Trần chí, Bùi chú.

Các tác phẩm hậu thế bổ sung[sửa | sửa mã nguồn]

Tam quốc chí tập giải[sửa | sửa mã nguồn]

Lư Bật (1876 - 1967) đã tập hợp các phần chú thích, hiệu đính và khảo chứng Tam quốc chí của nhiều học giả ở các thời đại khác nhau, biên soạn thành Tam quốc chí tập giải.

Bổ sung phần chí[sửa | sửa mã nguồn]

Bổ sung phần biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tạ Chung Anh, Tam quốc cương vực biểu, Tam quốc cương vực biểu nghi
  • Vạn Tư Đồng trong Lịch đại sự biểuTam quốc đại sự niên biểu, Tam quốc Hán quý phương trấn niên biểu, Ngụy tướng tương đại thần niên biểu, Tam quốc chư vương thế biểu, Ngụy quốc tướng tương đại thần niên biểu, Ngụy tướng tương đại thần niên biểu, Ngụy phương trấn niên biểu, Hán tướng tương đại thần niên biểu, Ngô tướng tương đại thần niên biểu.

Thể loại và cấu trúc tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tam quốc chí tuy gọi là "chí" nhưng thực chất chỉ có bản kỷ và liệt truyện chứ không chép gì về địa lý, kinh tếchế độ chính trị.

Toàn bộ tác phẩm gồm 66 quyển như đã nói ở trên, cụ thể gồm có:

Ngụy chí[7][sửa | sửa mã nguồn]

Quyển Tựa đề Nội dung
1 Vũ Đế kỷ Tào Tháo
2 Văn Đế kỷ Tào Phi
3 Minh Đế kỷ Tào Duệ
4 Tam Thiếu Đế kỷ Tào Phương, Tào Mao, Tào Hoán
5 Hậu phi truyện Vũ Tuyên Biện Hoàng hậu, Văn Chiêu Chân Hoàng hậu, Văn Đức Quách Hoàng hậu, Minh Điệu Mao Hoàng hậu, Minh Nguyên Quách Hoàng hậu
6 Đổng nhị Viên Lưu truyện Đổng Trác, Lý Thôi, Quách Dĩ, Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu
7 Lã Bố Tang Hồng truyện Lã Bố, Trương Mạc, Trần Đăng, Tang Hồng
8 Nhị Công Tôn Đào tứ Trương truyện Công Tôn Toản, Đào Khiêm, Trương Dương, Công Tôn Độ, Trương Yên, Trương Tú, Trương Lỗ
9 Chư Hạ Hầu Tào truyện Hạ Hầu Đôn (phụ: Hàn Hạo), Hạ Hầu Uyên, Tào Nhân (phụ: Tào Thuần), Tào Hồng, Tào Hưu, Tào Chân (phụ: Tào Sảng, Hà Yến), Hạ Hầu Thượng
10 Tuân Úc Tuân Du Giả Hủ truyện Tuân Úc, Tuân Du, Giả Hủ
11 Viên Trương Lương Quốc Điền Vương Bỉnh Quản truyện Viên Hoán, Trương Phạm, Trương Thừa, Lương Mậu, Quốc Uyên, Điền Trù, Vương Tu, Bỉnh Nguyên, Quản Ninh
12 Thôi Mao Từ Hà Hình Bảo Tư Mã truyện Thôi Diễm, Mao Giới, Từ Dịch, Hà Quỳ, Hình Ngung, Bảo Huân, Tư Mã Chi
13 Chung Do Hoa Hâm Vương Lãng truyện Chung Do, Hoa Hâm, Vương Lãng
14 Trình Quách Đổng Lưu Tưởng Lưu truyện Trình Dục, Quách Gia, Đổng Chiêu, Lưu Diệp, Tưởng Tế, Lưu Phóng
15 Lưu Tư Mã Lương Trương Ôn Giả truyện Lưu Phức, Tư Mã Lãng, Lương Tập, Trương Ký, Ôn Khôi, Giả Quỳ
16 Nhâm Tô Đỗ Trịnh Thương truyện Nhâm Tuấn, Tô Tắc, Đỗ Kỳ, Đỗ Thứ, Trịnh Hồn, Thương Từ
17 Trương Nhạc Vu Trương Từ truyện Trương Liêu, Nhạc Tiến, Vu Cấm, Trương Cáp, Từ Hoảng
18 Nhị Lý Tang Văn Lã Hứa Điển nhị Bàng Diêm truyện Lý Điển, Lý Thông, Tang Bá, Tôn Quan, Văn Sính, Lã Kiền, Hứa Chử, Điển Vi, Bàng Đức, Bàng Dục, Diêm Ôn
19 Nhâm Thành Trần Tiêu Vương truyện Tào Chương, Tào Thực, Tào Hùng
20 Vũ Văn thế Vương Công truyện Con của Vũ Đế: Tào Ngang, Tào Thước, Tào Xung, Tào Cứ, Tào Vũ, Tào Lâm, Tào Cổn, Tào Huyền, Tào Tuấn, Tào Củ, Tào Cán, Tào Thượng, Tào Bưu, Tào Cần, Tào Thừa, Tào Chỉnh, Tào Kinh, Tào Quân, Tào Cấc, Tào Huy, Tào Mậu; con của Văn Đế: Tào Hiệp, Tào Nhuy, Tào Giám, Tào Lâm, Tào Lễ, Tào Ung, Tào Cống, Tào Nghiễm
21 Vương Vệ nhị Lưu Phó truyện Vương Xán (phụ: Từ Cán, Trần Lâm, Nguyễn Vũ, Ứng Sướng, Lưu Trinh), Vệ Ký, Lưu Dị, Lưu Thiệu, Phó Hỗ
22 Hoàn nhị Trần Từ Vệ Lư truyện Hoàn Giai, Trần Quần, Trần Kiểu, Từ Tuyên, Vệ Trăn, Lư Dục
23 Hòa Thường Dương Đỗ Triệu Bùi truyện Hòa Hợp, Thường Lâm, Dương Tuấn, Đỗ Tập, Triệu Nghiễm, Bùi Tiềm
24 Hàn Thôi Cao Tôn Vương truyện Hàn Kỵ, Thôi Lâm, Cao Nhu, Tôn Lễ, Vương Quán
25 Tân Tỷ Dương Phụ Cao Đường Long truyện Tân Bì, Dương Phụ, Cao Đường Long
26 Mãn Điền Khiên Quách truyện Mãn Sủng, Điền Dự, Khiên Chiêu, Quách Hoài
27 Từ Hồ nhị Vương truyện Từ Mạc, Hồ Chất, Vương Sưởng, Vương Cơ
28 Vương Vô Khâu Gia Cát Đặng Chung truyện Vương Lăng, Vô Khâu Kiệm, Gia Cát Đản, Đường Tư, Đặng Ngải, Chung Hội
29 Phương kỹ truyện Hoa Đà, Đỗ Quỳ, Chu Kiến Bình, Chu Tuyên, Quản Lộ
30 Ô Hoàn Tiên Ti Đông Di truyện Ô Hoàn, Tiên Ti, Phù Dư, Cao Câu Ly, Ốc Trở, Ấp Lâu, Uế, Tam Hàn (Mã Hàn, Thìn Hàn, Biện Hàn), Nụy

Thục chí[7][sửa | sửa mã nguồn]

Quyển Tựa đề Nội dung
31 Lưu nhị mục truyện Lưu Yên, Lưu Chương
32 Tiên chủ truyện Lưu Bị
33 Hậu chủ truyện Lưu Thiện
34 Nhị chủ phi tử truyện Phi tử của tiên chủ: Cam Hoàng hậu, Mục Hoàng hậu (phụ: Lưu Vĩnh, Lưu Lý); phi tử của hậu chủ: Đại Trương Hoàng hậu, Tiểu Trương Hoàng hậu (phụ: Lưu Tuyền)
35 Gia Cát Lượng truyện Gia Cát Lượng
36 Quan Trương Mã Hoàng Triệu truyện Quan Vũ, Trương Phi, Mã Siêu, Hoàng Trung, Triệu Vân
37 Bàng Thống Pháp Chính truyện Bàng Thống, Pháp Chính
38 Hứa My Tôn Giản Y Tần truyện Hứa Tĩnh, My Chúc, My Phương, Tôn Càn, Giản Ung, Y Tịch, Tần Bật
39 Đổng Lưu Mã Trần Đổng Lã truyện Đổng Hòa, Lưu Ba, Mã Lương, Mã Tốc, Trần Chấn, Đổng Doãn, Trần Chi, Lã Nghệ
40 Lưu Bành Liêu Lý Lưu Ngụy Dương truyện Lưu Phong, Bành Dạng, Liêu Lập, Lý Nghiêm, Lưu Diễm, Ngụy Diên, Dương Nghi
41 Hoắc Vương Hướng Trương Dương Phí truyện Hoắc Tuấn, Hoắc Dặc, Vương Liên, Hướng Lãng, Hướng Sủng, Trương Duệ, Dương Hồng, Phí Thi, Vương Xung
42 Đỗ Chu Đỗ Hứa Mạnh Lai Doãn Lý Tiều Khước truyện Đỗ Vi, Chu Quần, Đỗ Quỳnh, Hứa Từ, Mạnh Quang, Lai Mẫn, Doãn Mặc, Lý Soạn, Tiều Chu, Khích Chính
43 Hoàng Lý Lã Mã Vương Trương truyện Hoàng Quyền, Lý Khôi, Lã Khải, Mã Trung, Vương Bình, Trương Ngực
44 Tưởng Uyển Phí Y Khương Duy truyện Tưởng Uyển, Phí Y, Khương Duy
45 Đặng Trương Tông Dương truyện Đặng Chi, Trương Dực, Tông Dự, Liêu Hóa, Dương Huy

Ngô chí[7][sửa | sửa mã nguồn]

Quyển Tựa đề Nội dung
46 Tôn phá lỗ thảo nghịch truyện (nguyên tên là Tôn Kiên Tôn Sách truyện) Tôn Kiên, Tôn Sách
47 Ngô chủ truyện (nguyên tên là Tôn Quyền truyện) Tôn Quyền
48 Tam tự chủ truyện (nguyên tên là Tôn Lượng Tôn Hưu Tôn Hạo truyện) Tôn Lượng, Tôn Hưu, Tôn Hạo
49 Lưu Do Thái Sử Từ Sĩ Nhiếp truyện Lưu Do, Thái Sử Từ, Sĩ Nhiếp
50 Phi tần truyện Phi tần của Tôn Kiên: Ngô phu nhân (phụ: Ngô Cảnh); phi tần của Tôn Quyền: Tạ phu nhân, Từ phu nhân, Bộ phu nhân, Vương phu nhân, Vương phu nhân, Phan phu nhân); phi tần của Tôn Lượng: Toàn phu nhân; phi tần của Tôn Hưu: Chu phu nhân; phi tần của Tôn Hòa: Hà Cơ; phi tần của Tôn Hạo: Đằng phu nhân
51 Tông thất truyện Tôn Tĩnh, Tôn Hiệu, Tôn Hoán, Tôn Bí, Tôn Phụ, Tôn Dực, Tôn Khuông, Tôn Thiều, Tôn Hoàn
52 Trương Cố Gia Cát Bộ truyện Trương Chiêu, Cố Ung, Gia Cát Cẩn, Bộ Chất
53 Trương Nghiêm Trình Hám Tiết truyện Trương Hoành, Nghiêm Tuấn, Trình Bỉnh, Hám Trạch, Tiết Tống
54 Chu Du Lỗ Túc Lã Mông truyện Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông
55 Trình Hoàng Hàn Tưởng Chu Trần Đổng Cam Lăng Từ Phan Đinh truyện Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Đương, Tưởng Khâm, Chu Thái, Trần Vũ, Đổng Tập, Cam Ninh, Lăng Thống, Từ Thịnh, Phan Chương, Đinh Phụng
56 Chu Trị Chu Nhiên Lã Phạm Chu Hoàn truyện Chu Trị, Chu Nhiên, Lã Phạm, Chu Hoàn
57 Ngu Lục Trương Lạc Lục Ngô Chu truyện Ngu Phiên, Lục Tích, Trương Ôn, Lạc Thống, Lục Mạo, Ngô Xán, Chu Cứ
58 Lục Tốn truyện Lục Tốn
59 Ngô chủ ngũ tử truyện (nguyên tên là Tôn Quyền ngũ tử truyện) Tôn Đăng, Tôn Lự, Tôn Hòa, Tôn Bá, Tôn Phấn
60 Hạ Toàn Lã Chu Chung Ly truyện Hạ Tề, Toàn Tông, Lã Đại, Chu Phường, Chung Ly Mục
61 Phan Tuấn Lục Khải truyện Phan Tuấn, Lục Khải
62 Thị Nghi Hồ Tống truyện Thị Nghi, Hồ Tống
63 Ngô Phạm Lưu Đôn Triệu Đạt truyện Ngô Phạm, Lưu Đôn, Triệu Đạt
64 Gia Cát Đằng nhị Tôn Bộc Dương truyện Gia Cát Khác, Đằng Dận, Tôn Tuấn, Tôn Lâm, Bộc Dương Hưng
65 Vương Lâu Hạ Vi Hoa truyện Vương Phồn, Lâu Huyền, Hạ Thiệu, Vi Chiêu[8], Hoa Hạch

Ngoài ra còn có quyển 66: Tự lục (nay thất truyền).

Trích dẫn tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Vương dục hoàn, xuất lệnh viết "kê lặc", quan thuộc bất tri sở vị. Chủ bộ Dương Tu tiện tự nghiêm trang, nhân kinh vấn Tu: "Hà dĩ tri chi?"

Tu viết: "Phù kê lặc, khí chi như khả tích, thực chi vô sở đắc, dĩ tỷ Hán Trung, tri Vương dục hoàn dã" (Khi Vương muốn rút về, mới ra lệnh rằng "kê lặc", các quan không hiểu ý gì. Quan chủ bộ là Dương Tu liền tự thu xếp hành trang, mọi người kinh ngạc hỏi Tu: "Làm sao ông biết?"

Tu đáp: "Gân gà, bỏ đi thì tiếc, ăn vào thì không ra gì, lấy nó để ví với đất Hán Trung, biết Vương đã muốn lui rồi" (時王欲還,出令曰「雞肋」,官屬不知所謂。主簿楊脩便自嚴裝,人驚問脩:「何以知之?」脩曰:「夫雞肋,棄之如可惜,食之無所得,以比漢中,知王欲還也。」

  • "Tư Mã Chiêu chi tâm, lộ nhân sở tri" (lòng dạ Tư Mã Chiêu, người ngoài đường cũng biết): Ngụy thư quyển 4, Tam Thiếu Đế kỷ, Bùi Tùng Chi dẫn sách Hán Tấn Xuân Thu của Tập Tạc Xỉ viết: Đế kiến uy quyền nhật khứ, bất thăng kỳ phẫn. Nãi triệu thị trung Vương Thẩm, thượng thư Vương Kinh, tán kỵ thường thị Vương Nghiệp, vị viết: "Tư Mã Chiêu chi tâm, lộ nhân sở tri dã. Ngô bất năng tọa thụ phế nhục, kim nhật đương dữ khanh tự xuất thảo chi" = Vua thấy uy quyền càng ngày càng mất, không nén nổi căm giận. Bèn triệu quan thị trung Vương Thẩm, quan thượng thư Vương Kinh và tán kỵ thường thị Vương Nghiệp, nói rằng: "Lòng dạ Tư Mã Chiêu, người ngoài đường cũng biết. Ta không thể ngồi yên chịu nhục, hôm nay muốn cùng các khanh đi thảo phạt nghịch tặc" (帝見威權日去,不勝其忿。乃召侍中王沈、尚書王經、散騎常侍王業,謂曰:「司馬昭之心,路人所知也。吾不能坐受廢辱,今日當與卿自出討之。」
  • "Lão sinh thường đàm" (lời thầy đồ thường nói): Ngụy thư quyển 29, Quản Lộ truyện, Đặng Dương nói với Quản Lộ: "Thử lão sinh chi thường đàm" (此老生之常譚 - Đó là lời lũ thầy đồ thường nói). Quản Lộ đáp: "Phù lão sinh giả kiến bất sinh, thường đàm giả kiến bất đàm" (夫老生者見不生,常譚者見不譚 - Lão sinh đã thấy thì không sinh, thường đàm đã thấy thì không đàm)

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Tam quốc chí là chính sử ghi chép về thời Tam quốc của Trung Quốc, được xếp vào danh sách nhị thập tứ sử. Đương thời đại thần nhà TấnTrương Hoa đánh giá rất cao tác phẩm này. Sau khi Trần Thọ mất, Thượng thư lang Phạm Quân dâng biểu tâu rằng:

Trần Thọ viết Tam quốc chí, lời văn nhiều chỗ khuyên răn, tỏ rõ mọi điều lợi hại, có ích cho phong hóa, tuy văn không hay bằng Tương Như nhưng chất thì ngay thẳng hơn nhiều, nguyện xin sao lục[9].

Lưu Hiệp, người thời Lương (Nam-Bắc triều) đánh giá Tam quốc chí của Trần Thọ như sau:

Tam quốc chí của Trần Thọ thấm nhuần chất văn, Tuân, Trương đem so sánh với Thiên, Cố chẳng phải là quá lời[10].

Thiếu sót lớn nhất của Tam quốc chí là chỉ có bản kỷ và liệt truyện, không có phần chí và biểu, do đó tác phẩm chủ yếu chép về các nhân vật thời Tam quốc chứ không chép về địa lý, kinh tếchế độ chính trị. Tính khách quan của Trần Thọ khi viết sử cũng còn nhiều ý kiến phê bình khác nhau, như Tấn thư của Phòng Huyền Linh ghi lại rằng:

Đinh Nghi, Đinh Dị là hai người có tiếng ở nước Ngụy, Thọ bảo con họ rằng: "Nếu tìm cho ta được nghìn hộc lương, ta sẽ vì tôn phụ mà viết truyện cho hay." Họ Đinh không mang đến nên không được viết truyện. Cha Thọ làm tham quân cho Mã Tốc, Tốc bị Gia Cát Lượng giết, cha Thọ cũng bị xử tội cắt tóc, Gia Cát Chiêm lại khinh Thọ. Thọ viết truyện về Lượng, bảo Lượng mưu lược không cao, không có tài ứng địch, bàn luận thì chỉ dựa vào sách vở, tiếng tăm vượt quá sự thực. Người bàn lấy đó để chê[11].

Đường Canh, người thời Bắc Tống phê bình cách xưng hô quốc hiệu Thục Hán của Trần Thọ như sau:

Trên từ Sử ký Tư Mã Thiên, dưới đến Ngũ Đại sử, trong khoảng mấy ngàn năm, từ vương bá chính thống đến tiếm ngôi loạn tặc, từ các nước nhỏ, cho đến các nước Man Di Nhung Địch ở bên ngoài, sử gia không bao giờ là không ghi chép quốc hiệu, nhưng Tam quốc chí thì không thế. Cha con Lưu Bị nối tiếp nhau cai trị hơn bốn chục năm, trước sau đều xưng quốc hiệu là Hán, chưa từng xưng là Thục bao giờ, nếu như có xưng Thục thì cũng chỉ là lời tục xưng mà thôi. Trần Thọ phế bỏ chính hiệu, dùng lời tục xưng, làm theo ý riêng của Ngụy Tấn, bỏ đi phép công của người viết sử. Dụng ý như thế, thì những việc thiện ác khen chê trong sách chắc cũng định đoạt luôn, là đáng tin ư![12]

Tam quốc chí quyển 20: Vũ Văn thế Vương Công truyện có chép việc Tào Xung cân voi, Hà Trác (người thời Thanh) nghi ngờ rằng việc này không chắc đã có thật:

Tôn Sách chết vào năm Kiến An thứ năm, Tôn Quyền mới lên thay, đến năm Kiến An thứ mười lăm Quyền sai Bộ Chất làm Thứ sử Giao Châu, Sĩ Nhiếp đem anh em đến vâng theo mệnh lệnh, sau đó (người Ngô) mới có thể biết được loài voi to (ở Giao Châu), còn Thương Thư (tên tự của Tào Xung) thì đã mất vào năm Kiến An thứ mười ba, do đó việc (Tào Xung cân voi) là bịa đặt. Vạch mực nước đánh dấu trên thuyền thì nghi rằng toán thuật cũng có phép này.[13]

Tam quốc chí quyển 30: Ô Hoàn Tiên Ti Đông Di truyện đã dựa vào các tư liệu từ Ngụy thư của Vương ThẩmNgụy lược của Ngư Hoạn để ghi chép về Nhật Bản - quốc gia ở phía đông Trung Quốc. Đây là sử liệu rất quan trọng ghi chép lịch sử Nhật Bản thời kỳ cổ đại.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tam quốc diễn nghĩa

Vào cuối thời Nguyên đầu thời Minh, La Quán Trung đã căn cứ vào các truyền thuyết dân gian, thoại bản, hý khúc cùng các tài liệu lịch sử là Tam quốc chí của Trần ThọTam quốc chí chú của Bùi Tùng Chi để viết nên tác phẩm Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa (gọi tắt là Tam quốc diễn nghĩa).

Tiểu thuyết này có ảnh hưởng rất lớn ở Trung Quốc và nhiều nước châu Á. So với Tam quốc chí là chính sử, thì Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử, thêm thắt rất nhiều truyền thuyết, truyện kể dân gian; do đó bị đánh giá là "thất thực tam hư" (bảy phần thực, ba phần hư cấu), độ tin cậy về lịch sử dĩ nhiên không cao bằng Tam quốc chí.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tam quốc chí: Giới thiệu tác giả trên Bách độ bách khoa
  2. ^ Tùy thư, Kinh tịch chí, quyển 33 chép rằng Tam quốc chí ngoài 65 quyển còn có 1 quyển Tự lục, Đường thư, Kinh tịch thượng, quyển 46Tân Đường thư, Nghệ văn chí, quyển 58 chép rằng Ngô quốc chí có 21 quyển kể cả quyển Tự lục, do đó có thể xác định Tam quốc chí nguyên bản có 66 quyển.
  3. ^ Kinh Thư trong phần Nghiêu điển đã dùng chữ tồ để chỉ cái chết của Đường Nghiêu "Nhị thập hữu bát tái, đế nãi tồ lạc". Vào thời Tam quốc chữ tồ thường được dùng cho đế vương, như Gia Cát Lượng trong phần đầu Xuất sư biểu đã viết: "Tiên đế sáng nghiệp vị bán nhi trung đạo băng tồ".
  4. ^ Các nhân vật này được ghi chép trong quyển 1 và quyển 2 phần Đế kỷ của sách Tấn thư do Phòng Huyền Linh chủ biên.
  5. ^ Cù Lâm Đông, Trung Quốc sử học sử cương, Công ty TNHH Xuất bản sách Ngũ Nam xuất bản, 2002, ISBN 9789571129679.
  6. ^ Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu, thời nhà Thanh: "Nhất thị dẫn chư gia chi luận, dĩ biện thị phi; nhị thị tham chư gia chi thuyết, dĩ hạch ngụy dị; tam thị truyện sở hữu chi sự, tường kỳ ủy khúc; tứ thị truyện sở vô chi sự, bổ kỳ khuyết dật; ngũ thị truyện sở hữu chi nhân, tường kỳ sinh bình; lục thị truyện sở vô chi nhân, phụ dĩ đồng loại".
  7. ^ a ă â Các bản Tam quốc chí hiện nay đều gọi là Ngụy thư, Thục thư, Ngô thư
  8. ^ Tam quốc chí viết là Vi Diệu (韋曜) do kiêng húy của Tấn Văn Đế Tư Mã Chiêu
  9. ^ Tấn thư, quyển 82, Trần Thọ truyện: "Trần Thọ tác Tam quốc chí, từ đa khuyến giới, minh hồ đắc thất, hữu ích phong hóa, tuy văn diễm bất nhược Tương Như, nhi chất trực quá chi, nguyện thùy thái lục."
  10. ^ Văn tâm điêu long, Sử truyện, quyển 16: "Duy Trần Thọ Tam chí, văn chất biện hiệp, Tuân, Trương tỷ chi ư Thiên, Cố, phi vọng dự dã."
  11. ^ Tấn thư, quyển 82, Trần Thọ truyện: "Hoặc vân Đinh Nghi, Đinh Dị hữu thịnh danh ư Ngụy, Thọ vị kì tử viết: "Khả mịch thiên hộc mễ kiến dữ, đương vi tôn công tác giai truyện." Đinh bất dữ chi, cánh bất vi lập truyện. Thọ phụ vi Mã Tốc tham quân, Tốc vi Gia Cát Lượng sở tru, Thọ phụ diệc tọa bị khôn, Gia Cát Chiêm hựu khinh Thọ. Thọ vi Lượng lập truyện, vị Lượng tương lược phi trường, vô ứng địch chi tài, ngôn chiêm duy công thư, danh quá kì thực. Nghị giả dĩ thử thiểu chi."
  12. ^ Đường Canh, Tam quốc tạp sự: "Thượng tự Tư Mã Thiên Sử ký, hạ chí Ngũ Đại sử, kỳ gian số thiên bách niên, chính thống thiên bá dữ phu tiếm thiết loạn tặc, thậm vi chí nhược chi quốc, ngoại chí Man Di Nhung Địch chi bang, sử gia vị hữu bất thư kỳ quốc hiệu giả, nhi Tam quốc chí độc bất nhiên. Lưu Bị phụ tử tương kế tứ thập dư niên, thủy chung hiệu Hán, vị thường nhất xưng Thục; kì xưng Thục, tục lưu chi ngữ nhĩ. Trần Thọ truất kỳ chính hiệu, tòng kỳ tục xưng, tuần Ngụy Tấn chi tư ý, phế sử gia chi công pháp. Dụng ý như thử, tắc kỳ sở thư thiện ác bao biếm dư đoạt, thượng khả tín hồ!"
  13. ^ Lương Chương Cự, Tam quốc chí bàng chứng: "Tôn Sách dĩ Kiến An ngũ niên tử, thì Tôn Quyền sơ thống sự, chí Kiến An thập ngũ niên Quyền khiển Bộ Chất mã vi Giao Châu Thứ sử, Sĩ Nhiếp suất huynh đệ phụng thừa tiết độ, thử hậu hoặc năng trí cự tượng, nhi Thương Thư dĩ vu Kiến An thập tam niên tiền tử hỹ, tri thử sự vọng sức dã. Trí thủy khắc thuyền, nghi toán thuật trung bản hữu thử pháp."

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]