Nhà Hán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà Hán

206 TCN–220
 

 

Vị trí của Hán
Cương thổ nhà Hán năm 2, và quan hệ ngoại giao vào thời kỳ đó
Thủ đô Trường An
(206 TCN – 9, 190–195)

Lạc Dương
(25–190, 196)

Hứa Xương
(196–220)
Ngôn ngữ Tiếng Trung cổ
Tôn giáo Đạo giáo, Khổng giáo, các tôn giáo dân gian khác
Chính thể Quân chủ chuyên chế
Hoàng đế
 - 202–195 TCN Hán Cao Tổ
 - 195-187 TCN Hán Huệ Đế
 - 180-157 TCN Hán Văn Đế
Thừa tướng
 - 206–193 TCN Tiêu Hà
 - 193–190 TCN Tào Tham
 - 189–192 Đổng Trác
 - 208–220 Tào Tháo
 - 220 Tào Phi
Lịch sử
 - Thành lập 206 TCN
 - Trận Cai Hạ; Nhà Hán bắt đầu cai trị Trung Hoa 202 TCN
 - Vương Mãng cướp ngôi 9–23
 - Nhường ngôi cho nhà Tào Ngụy 220
Diện tích
 - ước lượng năm 50 TCN.[1] 6.000.000 km²; (2.316.613 mi²)
Dân số
 - Năm 2[2] ước tính 57.671.400 
Tiền tệ Tiền xu
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
Thập Lục Quốc
304–439
  Đông Tấn 317–420
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay

Nhà Hán (Trung văn giản thể: 汉朝; phồn thể: 漢朝; bính âm: Hàn cháo; Wade–Giles: Han Ch'au; Hán Việt: Hán triều;; 203 TCN–220) là triều đại thứ hai của Trung Quốc, triều đại trước đó là nhà Tần (221-207 TCN), và được tiếp nối bởi thời kỳ Tam Quốc (220-280). Nhà Hán được thành lập bởi Lưu Bang, một lãnh tụ khởi nghĩa chống lại sự cai trị của nhà Tần, được biết đến sau khi qua đời là Hán Cao Tổ. Triều nhà Hán bị gián đoạn bởi Vương Mãng, một cựu thần nhà Hán, tự lập mình lên làm hoàng đế, thành lập nhà Tân (9-23). Chính việc này đã chia nhà Hán thành hai giai đoạn: Tây Hán (202 TCN-9 SCN) và Đông Hán (23-220). Kéo dài hơn bốn thế kỷ nhà Hán được xem như là một triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc.[3] Cho đến ngày nay, nhóm dân tộc chiếm phần lớn dân số Trung Quốc cũng tự cho mình là "người Hán", và chữ viết Trung Quốc cũng được xem là "Hán tự".[4]

Nhà Hán đặt ra các khu vực cai trị được quản lý trực tiếp từ trung ương, thường được gọi là quận và một số nước chư hầu. Tuy nhiên, những nước này đã dần dần bị loại bỏ, đặc biệt là sau loạn bảy nước. Năm 200 TCN, Hung Nô, một quốc gia du mục, đã đánh bại quân đội nhà Hán. Sau khi thất bại, nhà Hán đã bắt đầu dựng lên một cuộc hôn nhân giữa công chúa nhà Hán với vua Hung Nô. Và thực sự, nhà Hán đã chịu thua kém Hung Nô. Mặc dù hai bên đã ký hòa ước với nhau, nhưng người Hung Nô vẫn thường xuyên tấn công biên giới phía bắc nhà Hán. Hán Vũ Đế (trị vì 141-87 TCN) đã phát động nhiều chiến dịch quân sự chống trả, và những chiến thắng trong những cuộc chiến cuối cùng đã khiến Hung Nô phải thần phục và hằng năm nộp cống cho nhà Hán. Những chiến dịch mở rộng cương thổ được thực hiện chủ yếu tại lòng chảo Tarim, Trung Á. Thành lập một hệ thống thương mại rộng lớn tới tận khu vực Địa Trung Hải mà người ta thường gọi là con đường tơ lụa. Nhà Hán chia Hung Nô thành hai nước đối lập nhau, Nam và Bắc Hung Nô qua sông Y Lê. Tuy đã ổn định biên giới phía bắc, nhưng nhà Hán vẫn gặp nhiều cuộc tấn công của người Tiên Ti.

Tầm quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Người Trung Quốc coi thời gian trị vì của nhà Hán, kéo dài 400 năm, là một trong những giai đoạn vĩ đại nhất trong toàn bộ lịch sử Trung Quốc. Vì thế, đa phần người Trung Quốc ngày nay vẫn tự cho mình là "người Hán", để vinh danh dòng họ Lưu và triều đại mà họ đã sáng lập ra.[cần dẫn nguồn]

Ở thời Hán, Trung Quốc chính thức trở thành một đất nước theo Khổng giáo và phát triển thịnh vượng: nông nghiệp, thủ công và thương mại tiến bộ và dân chúng đạt tới con số 50 triệu người. Trong lúc ấy, đế chế mở rộng ảnh hưởng văn hóa và chính trị của nó đến toàn bộ Việt Nam, Triều Tiên, Mông CổTrung Á trước khi nó sụp đổ vì cả sức ép bên trong và bên ngoài.

Giai đoạn đầu tiên trong hai giai đoạn của nhà Hán, được gọi là Tiền Hán (前漢) hay triều Tây Hán (西漢) 206 TCN–9 CN, đóng đô ở Trường An. Hậu Hán (後漢) hay triều Đông Hán (東漢) 25–220, đóng đô ở Lạc Dương. Việc quy ước thành Tây Hán và Đông Hán được sử dụng hiện nay để tránh nhầm lẫn với triều Hậu Hán của giai đoạn Ngũ Đại Thập Quốc mặc dù cách gọi tiền và hậu đã từng được sử dụng trong các văn bản lịch sử gồm cả cuốn Tư trị thông giám của Tư Mã Quang.

Trí thức, văn chương và nghệ thuật hồi sinh và phát triển ở thời nhà Hán. Giai đoạn Hán là thời của nhà sử học nổi tiếng nhất Trung Quốc, Tư Mã Thiên (145 – 87 TCN?), cuốn Sử ký Tư Mã Thiên của ông ghi chép biên niên sử chi tiết từ thời kỳ còn huyền thoại là nhà Hạ đến thời Vũ đế nhà Hán (141–87 TCN). Các tiến bộ kỹ thuật cũng ghi dấu ở thời kỳ này. Một trong những phát minh vĩ đại của Trung Quốc: giấy, đã ra đời từ thời Hán.

Cũng khá chính xác khi tuyên bố rằng hai đế chế cùng thời với nhau là nhà HánĐế quốc La Mã là hai siêu cường của thế giới. Nhiều phái bộ ngoại giao La Mã đến Trung Quốc và được ghi chép lại trong lịch sử, đầu tiên ở trong cuốn Hậu Hán Thư có ghi chép một phái đoàn La Mã tháp tùng 1 hoàng đế[5] tới kinh đô của nhà Hán lúc đó Lạc Dương năm 166 và được Hán Hoàn Đế tiếp đón.

Nhà Hán nổi tiếng vì khả năng quân sự. Đế chế này mở rộng về phía tây tới tận mép lưu vực Tarim (Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương ngày nay), có thể đã kiểm soát được con đường vận chuyển ngang Trung Á. Những con đường này thường được gọi là "Con đường tơ lụa" vì nó được dùng để xuất khẩu tơ lụa của Trung Quốc. Các đội quân Trung Quốc cũng đã tấn công và sáp nhập nhiều vùng ở bắc Việt Nambắc Triều Tiên (Vệ Mãn Triều Tiên) ở khoảng gần cuối thế kỷ thứ 2 TCN. Tuy nhiên, các vùng kiểm soát ngoại vi của nhà Hán nói chung là không chắc chắn. Để đảm bảo hoà bình với các lực lượng phi Hán ở các địa phương, triều đình Hán phát triển một "hệ thống chư hầu" lợi ích song phương. Các nước chư hầu phi Hán được phép giữ quyền tự trị với sự chấp nhận quyền lực tượng trưng của nhà Hán. Các mối quan hệ cống nạp được xác định và được tăng cường bằng những cuộc hôn nhân lẫn nhau ở tầng lớp cai trị và những trao đổi quà tặng và hàng hóa thường xuyên.

Sự trỗi dậy[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hán Sở tranh hùng

Ba tháng đầu tiên sau cái chết của Tần Thủy Hoàng tại Sa Khâu, các cuộc nổi dậy của nông dân, tù nhân, binh sỹ và hậu duệ của tầng lớp quý tộc cũ tại các nước Chiến Quốc nổi lên khắp nơi. Trần ThắngNgô Quảng là hai người nằm trong nhóm 900 binh sỹ bị điều đi đánh Hung Nô đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên. Các cuộc nổi dậy liên tục cuối cùng đã lật đổ nhà Tần vào năm 206 TrCN. Lãnh đạo các cuộc nổi dậy là Hạng Vũ, một chỉ huy quân sự xuất chúng nhưng lại không có tài về chính trị, ông đã chia nước thành 19 nước phong kiến theo ý thích của riêng mình.

Cuộc chiến tiếp theo diễn ra giữa các nước đó trong 5 năm (206-202 TCN), gọi là thời Hán Sở tranh hùng. Lưu Bang là người giành thắng lợi cuối cùng, trở thành vị vua đầu tiên của nhà Hán. Ban đầu, "Hán" (là địa giới do Hạng Vũ phân chia) chỉ gồm vùng Tứ Xuyên, Trùng Khánh và phía nam Thiểm Tây và chỉ là một công quốc nhỏ, nhưng dần lớn mạnh thành một đế chế; nhà Hán được gọi theo công quốc này, tên của nó lại được đặt từ chữ Hán Trung (漢中) — phía nam Thiểm Tây hiện nay, vùng bao quanh thành phố Hán Trung. Sự khởi đầu của triều Hán có thể tính từ năm 206 TCN khi nhà Tần sụp đổ và công quốc Hán được thành lập hay từ năm 202 TCN khi vua nước Sở là Hạng Vũ tự sát.

Sự ra đời nhà Hán được lịch sử ghi nhận là có sự góp công rất lớn của 3 người dưới trướng Lưu Bang là: Mưu sĩ Trương Lương, Đại tướng quân Hàn Tín và Thừa tướng Tiêu Hà.

Đạo giáo và hệ thống phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc mới vẫn giữ lại nhiều phần của cơ cấu hành chính cũ thời Tần nhưng giảm sự cai trị tập trung đi một chút bằng cách lập ra các công quốc chư hầu ở một số vùng để có được thuận lợi về chính trị. Sau khi lập lên triều Hán, Hán Cao Tổ (Lưu Bang) chia nước thành nhiều "tiểu quốc phong kiến" để thoả mãn một số đồng minh của ông, mặc dù ông đã sắp đặt kế hoạch để trừ khử họ một khi ông đã củng cố xong quyền lực.

Sau khi ông chết, những người kế nghiệp ông từ Huệ đế đến Cảnh đế đều tìm cách cai trị Trung Quốc bằng cách tổng hợp các biện pháp của Pháp gia và những tư tưởng triết học Đạo giáo. Trong "thời Đạo giáo giả hiệu" này, một chính quyền tập trung ổn định cai trị toàn bộ Trung Quốc đã được thành lập thông qua sự hồi sinh của các lĩnh vực nông nghiệp và sự tan rã của "các tiểu quốc phong kiến" sau khi đàn áp cuộc nổi loạn của bảy nước (Thất quốc chi loạn) năm 154 TCN.

Vũ Đế và Khổng giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Ở "thời Đạo giáo", Trung Quốc có khả năng giữ được hoà bình với Hung Nô bằng cách nộp cống và gả các công chúa cho họ. Tại thời này, mục tiêu của chính quyền là giảm sự hà khắc của hình luật, chiến tranh và các điều kiện sống cho người dân so với thời Tần, hạn chế các đe doạ từ dân du mục bên ngoài và những xung đột sớm bên trong triều đình. Chính phủ giảm bớt thuế và đảm bảo tình trạng cống nộp cho các bộ lạc du mục. Chính sách này giảm can thiệp vào đời sống dân cư (與民休息) bắt đầu một giai đoạn ổn định, được gọi là Văn Cảnh chi trị (文景之治), được gọi theo tên hai vị hoàng đế của thời kỳ này. Tuy nhiên, dưới thời cai trị của Hán Vũ Đế, giai đoạn thịnh vượng nhất của Hán triều (140 TCN–87 TCN) đế chế đã có khả năng tự bảo vệ. Thời đỉnh cao, Trung Quốc gồm cả vùng Vân Nam, Thanh Hải, Cam Túc, bắc Việt Nam, bắc Triều Tiên trong lãnh thổ của nó.

Vũ Đế quyết định rằng Đạo giáo không còn thích hợp cho Trung Quốc nữa, và chính thức tuyên bố Trung Quốc là một quốc gia Khổng giáo; tuy nhiên, giống như các vị vua trước đó, ông tổng hợp các biện pháp của Pháp gia với ý tưởng Khổng giáo. Sự công nhận chính thức đối với Khổng giáo này dẫn tới một hệ thống bổ nhiệm quan chức dân sự duy nhất, nhưng các ứng cử viên cũng bắt buộc phải thông hiểu các tác phẩm kinh điển của Khổng giáo (Tứ thư, Ngũ kinh) đối với hệ thống quan lại của đế quốc, yêu cầu này kéo dài tới tận khi nước Cộng hoà Trung Hoa được thành lập năm 1911. Các trí thức Khổng giáo có được ưu thế nổi bật khi họ là hạt nhân của hệ thống bổ nhiệm quan chức dân sự.

Mở rộng lãnh thổ dưới triều Hán Vũ đế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Tây Nam Di và Đông Nam Di[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Hán chinh phạt các tộc người Tây Nam Di và Đông Nam Di (phía tây và tây nam Tứ Xuyên, nam Cam Túc, tây Quý Châu, Vân Nam) đặt các quận Kiện Vi (năm 135 TCN), Tường Kha (Quý Châu), Việt Tê (Tứ Xuyên), Thẩm Lê (Tứ Xuyên), Văn Sơn (Tứ Xuyên) Võ Đô (Cam Túc), đánh Điền quốc đặt quận Ích Châu (Vân Nam) năm 109 TCN.

Để mở rộng quan hệ thương mại mới hình thành với Miến ĐiệnẤn Độ, Hán Vũ Đế còn giao cho Đường Mông nhiệm vụ bảo trì và mở rộng Ngũ xích đạo, đổi tên nó thành "Tây nam Di đạo". Vào thời gian đó, kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp ở Vân Nam đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương sử dụng các công cụ và cày bừa bằng đồng thau cũng như chăn thả nhiều loại gia súc, như trâu, , ngựa, cừu, , lợnchó. Các nhà nhân loại học đã xác định là những người này có quan hệ họ hàng gần với những người mà ngày nay gọi là người Thái. Họ sinh sống theo bộ tộc, đôi khi được những người Hán bị lưu đày đứng đầu.

Nước Dạ Lang[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu đời nhà Hán có một nước Miêu ở về phía nam tên gọi là Dạ Lang chiếm một phần tỉnh Quảng Tây và và phần lớn tỉnh Quý Châu hiện nay. Nước Dạ Lang giáp quận Ba Thục và một mặt thì giáp hồ Động Đình về phía tây giáp nước Điền của người Lô Lô miền Tây tỉnh Vân Nam bấy giờ, phía đông hồ Vân Nam. Nước cổ Dạ Lang từng phồn thịnh hàng trăm năm trên cao nguyên Quý Châu.

Thế kỷ thứ 2 TCN, nhà sử học Tư Mã Thiên đi theo sứ giả của nhà Hán đến thực thi sứ mệnh ngoại giao tại các chính quyền dân tộc thiểu số ở miền Tây Nam Trung Hoa. Trong “ Sử ký -Tây Nam Di Chí” của Tư Mã Thiên ghi lại rằng, trong các bộ tộc Tây Nam, Dạ Lang có thế lực hùng mạnh nhất, có 100 nghìn lực lượng tinh nhuệ, tàu bè của người Dạ Lang đi lại trên mặt sông, quanh cảnh hết sức tấp nập. Lúc đó Đại Hán thống trị phần lớn khu vực Trung Nguyên, Dạ Lang nằm trong miền núi xa xôi hẻo lánh.

Năm 136 TCN Vũ đế cử Đường Mông làm Lang trung tướng dẫn 1000 binh sĩ và mấy vạn dân đem theo lương thực và công cụ sản xuất xuất phát từ Ba quận vượt qua Phù Quan (Hợp Giang, Tứ Xuyên) đến Dạ Lang. Đường Mông tuyên truyền với Dạ Lang hầu Đa Đồng về sức mạnh của Hán triều, ban tặng của cải để Dạ Lang hầu cho phép Đường Mông đặt cơ quan quản lý ở đó và cử con trai Dạ Lang hầu làm Lệnh (tương đương huyện lệnh).

Năm 130 TCN Vũ đế xuống lệnh đặt thành quận cả khu vực nói trên và chọn Bậc đạo (An biên trường tây nam thành phố Nghi tân, Tứ xuyên) làm quận lỵ rồi phát động quân sĩ 2 quận Ba Thục tiến hành việc mở đường từ Bậc đạo thông đến sông Tường Kha. Người đất ThụcTư Mã Tương Như lại dâng thư yêu cầu đặt quận huyện tại Cùng (vùng thành phố Tây Xương, Tứ Xuyên), Trách (vùng huyện Diêm Nguyên, Tứ Xuyên) thuộc Tây Di. Tư Mã Tương Như được Vũ đế cử làm Trung lang tướng. Tư Mã Tương Như tuyên truyền với các thủ lĩnh dân tộc thiểu số tại địa phương được họ đồng ý cho nhà Hán đặt tại khu vực đó mười mấy huyện và 1 đô úy trực thuộc Thục quận.

Sau khi tiêu diệt Nam Việt, nhà Hán cho 8 hiệu úy chỉ huy các tội nhân tấn công Thả Lan (vùng phía tây nam huyện Hoàng Bình, Quý Châu) giết chết mấy vạn người, đặt tại khu vực Nam Di này quận Tường Kha. Dạ Lang hầu thấy Nam Việt bị tiêu diệt liền quy thuận nhà Hán được Vũ đế phong làm Dạ Lang vương.

Nước Dạ Lang đã quy phục nhà Hán năm 111 TCN và gọi là quận Kiện Vi. Sau này quận đó chia làm hai, quận Kiện Vi ở phía bắc và quận Thương Ngô ở về phía nam. Quận Kiện Vi phía bắc và phía tây giáp sông Dương Tử giang ngăn quận Kiện vi với quận Ba. Còn quận Thương Ngô thì phía bắc giáp quận Kiên Vi, phía tây giáp quận Tấn Ninh tức là nước Điền cũ, phía đông bắc giáp quận Vũ Lăng tức là quận Kiến Trung đời nhà Tấn. Ở đó có hồ Động Đình.

Đất Cùng, Trách[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Hán lại giết chết các thủ lĩnh của Cùng làm cho Trách hầu và Nhiễm Manh sợ hãi xin thần phục, bằng lòng cho nhà Hán đặt quận Việt Tê tại kinh đô của Cùng, đặt quận Thẩm Lê tại kinh đô của Trách, đặt quận Văn Sơn tại Nhiễm Manh (phía bắc huyện Mậu Văn, Tữ Xuyên) còn ở Bạch Mã thì đặt quận Võ Đô.

Đất Điền[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ đế phái Vương Thiên Vũ đến đất Điền tuyên truyền sức mạnh của quân Hán nhưng Điền Vương ỷ có mấy vạn binh sĩ lại có những bộ tộc cùng họ ở phía đông bắc là Lao Thâm, Mạc My ủng hộ nên không chịu quy phục. Năm 109 TCN, Vũ đế điều động quân Ba Thục tấn công tiêu diệt Lao Thâm, Mạc My xua quân tiến sát đất Điền. Điền vương xin đầu hàng, nhà Hán giao quyền cho tướng Quách Xương đặt quận Ích châu với 24 huyện trực thuộc. Nơi đặt trụ sở của quận này là huyện Điền Trì (ngày nay là Tấn Ninh). Về sau lại hàng phục được Côn Minh sáp nhập vùng này vào quận Ích châu.

Biên cương nhà Hán mở rộng đến tận núi Cao Lê Cống và núi Ai Lao ngày nay, đồng thời có sự qua lại với người Ai Lao sống ở khu vực sông Lan thương và vùng đông bắc của Miến Điện. Tuy nhiên một số nơi có quá ít người sinh sống nên cuối đời Vũ đế xóa bỏ quận Thẩm lê, năm 67 TCN đời Tuyên đế xóa bỏ quận Văn Sơn. Lãnh thổ 2 quận này được nhập vào Thục quận.

Quan hệ với các nước phía nam Đông dương[sửa | sửa mã nguồn]

Trong phần “Địa lý chí” của Hán thư có ghi chép con đường hàng hải giữa Tây Hán và các nước ở phương nam.

Từ Nhất nam (duyên hải miền trung Việt Nam), Chướng Tái, Từ Văn (tây nam huyện Từ Văn, Quảng Đông), Hợp Phố (Hợp Phố, Bắc Hải, Quảng Tây) đi thuyền 5 tháng thì có thể đến nước Đô Nguyên; lại đi thuyền 4 tháng nữa sẽ gặp nước Ấp Lư Một; lại đi thêm ngoài 20 ngày sẽ đến nước Thầm Ly; nếu đi bộ thì hơn 10 ngày sẽ gặp nước Phù Cam Đô Lư. Từ nước Phù Cam Đô Lư đi thuyền hơn 2 tháng sẽ gặp nước Hoàng Chi; phong tục người dân ở đây cũng giống như người dân ở châu Nhai (đông bắc đảo Hải nam). Từ nước Hoàng Chi đi thêm 8 tháng sẽ tới Bì Tôn, nếu đi 2 tháng nữa sẽ đến Nhất Nam, Tượng Lâm. phía nam của Hoàng Chi có nước Trình Bất. Sứ giả và người thông dịch của nhà Hán đi đến đây thì dừng.

Sự khởi đầu con đường tơ lụa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Con đường tơ lụa
Hành trình 138 TCN126 TCN của Trương Khiên về phía tây, Hang Mộ Cao, tranh tường 618–712.

Từ năm 138 TCN, Vũ đế cũng cử Trương Khiên hai lần dẫn đoàn sứ bộ đi về các vùng phía tây, và quá trình khai phá con đường hiện được gọi là Con đường tơ lụa từ Trường An (Tây An, tỉnh Thiểm Tây hiện nay), xuyên qua Tân Cương và Trung Á tới bờ phía đông Địa Trung Hải.

Tiếp theo các đoàn sứ bộ của Trương Khiên, các quan hệ giữa Trung Quốc và Trung cũng như Tây Á phát triển, khi ngày càng có nhiều đoàn sứ thần Trung Quốc được cử đi trong cả thế kỷ thứ 1 TrCN, khởi đầu sự phát triển của Con đường tơ lụa:

"Phái đoàn sứ bộ lớn nhất đi ra ngoại quốc gồm vài trăm người, trong khi đoàn ít nhất cũng hơn 100 người... Trong một năm có từ năm, sáu đến hơn mười đoàn được phái đi."

Trung Quốc cũng cử các phái đoàn tới Parthia, và tiếp sau là nhiều phái đoàn đi lại giữa hai nước khoảng năm 100 TrCN.

"Khi đoàn sứ bộ Hán lần đầu tiên tới vương quốc An Tức-Anxi (Parthia), nhà vua Anxi đã gửi một đoàn 20.000 kỵ binh tới gặp họ ở biên giới phía đông vương quốc... Khi các đoàn sứ bộ Hán trở về nước, vua Anxi cũng gửi các đoàn sứ của mình đi theo cùng với họ... Hoàng đế rất hài lòng về điều này."

Các quan hệ ngoại giao nhà Hán năm 2 CN

Nhà sử học La Mã Florus miêu tả sự viếng thăm của nhiều đoàn sứ bộ, trong đó có Seres (người Trung Quốc), tới vị hoàng đế đầu tiên của La Mã là Augustus, cầm quyền từ năm 27 TCN đến năm 14:

"Thậm chí các nước còn lại của thế giới, vốn không phải là mục tiêu của sự thống trị của nó cũng nhận thức được sự vĩ đại của nó, và nó được chiêm ngưỡng với lòng kính trọng dành cho người dân La Mã, nhà chinh phục vĩ đại của các quốc gia. Vì thế thậm chí người Scythia và Sarmatia cũng gửi các đoàn sứ giả tới để tìm kiếm tình hữu nghị với La Mã. Không những thế, người Sere cũng tới và người Ấn Độ cư trú ở bên dưới đỉnh mặt trời cũng mang tới những quà tặng gồm đá quý và ngọc trai và voi, nhưng hãy bớt nghĩ về thời điểm đó mà hãy nghĩ nhiều hơn về sự to lớn của con đường họ đã đi qua, và họ đã nói rằng phải mất bốn năm. Trên thực tế phải nhìn vào nước da của họ để thấy rằng họ là giống người ở tại một vùng khác trên Trái Đất so với chúng ta."

Năm 97 một vị tướng Trung Quốc là Ban Siêu đã đi về phía tây tới tận biển Caspi với 70.000 quân và thiết lập các liên hệ quân sự trực tiếp với đế chế Parthia, và cũng sai Cam Anh đi sứ tới La Mã.

Nhiều đoàn sứ bộ La Mã đến Trung Quốc kể từ năm 166, và được ghi chép chính thức trong biên niên sử Trung Quốc. Những sự trao đổi hàng hóa như tơ lụa Trung Quốc, ngà voi châu Phi và hương trầm La Mã làm tăng cường tiếp xúc giữa Đông và Tây.

Các tiếp xúc với đế quốc Quý Sương dẫn tới việc đưa Phật giáo từ Ấn Độ vào Trung Quốc ở thế kỷ 1.

Sự trỗi dậy của tầng lớp chủ đất[sửa | sửa mã nguồn]

Để có được nhiều tiền cung cấp cho các chiến dịch quân sự thắng lợi chống Hung Nô, Vũ Đế bỏ ngỏ việc kiểm soát đất đai cho các nhà buôn và những người giàu có, và vì thế đã hợp pháp hóa quá trình tư hữu hóa đất đai. Thuế đất đai dựa trên diện tích của mảnh đất chứ không phải trên thu nhập có được từ nó. Thu hoạch từ mùa màng không phải luôn luôn đủ để nộp thuế vì việc bán sản phẩm bị thị trường chi phối nên không thể đảm bảo luôn có được một số thu cố định, đặc biệt sau khi bị thiên tai làm thiệt hại mùa màng. Các lái buôn và các gia đình thế lực dụ dỗ nông dân bán đất của mình, bởi vì sự tích luỹ đất đai giúp đảm bảo cuộc sống sung túc và quyền lực của họ và cả con cháu họ trong xã hội nông nghiệp Trung Quốc. Vì thế có sự tích tụ đất đai vào giai cấp mới, bao gồm các gia đình chủ đất. Triều đình nhà Hán tới lượt họ lại áp thêm thuế đối với những người đầy tớ vẫn còn độc lập để bù vào số thuế thiếu hụt, vì thế lại càng thúc đẩy nhiều nông dân chui vào tay tầng lớp chủ đất hay chúa đất.

Một đồng tiền xu thời Hán bằng đồng Thế kỷ thứ nhất TCN.

Về mặt lý thuyết, nông dân trả cho chúa đất một lượng thu nhập theo chu kỳ (thường là hàng năm), để được bảo vệ khỏi nạn cướp bóc và các mối nguy hiểm khác. Trên thực tế, số lượng nông dân đông đảo ngày càng tăng dưới thời thịnh vượng của nhà Hán và số lượng đất đai hạn chế đã làm cho tầng lớp trên nâng cao đòi hỏi của họ đối với bất kỳ một nông dân phụ thuộc nào. Việc học hành không đầy đủ và thường là hoàn toàn mù chữ của người nông dân buộc họ phải làm việc chân tay để sống, và thường là làm ruộng trong một xã hội nông nghiệp. Các nông dân vì không có nghề nào khác tốt hơn để kiếm sống buộc phải hạ tiêu chuẩn và hạ giá bán sản phẩm nông nghiệp để trả tiền cho các chúa đất. Trên thực tế, họ thường phải trì hoãn việc thanh toán hoặc vay mượn tiền từ các chủ đất của họ sau khi thiên tai làm mất mùa. Để làm tình trạng của họ tồi tệ hơn, một số nhà cai trị thời Hán còn tăng thuế lên gấp đôi. Cuối cùng đời sống của tá điền ngày càng kém sút vì họ bị phụ thuộc vào mùa màng của mảnh đất đã từng thuộc sở hữu của họ.

Về phần mình, tầng lớp chủ đất và lãnh chúa còn đưa ra các thông tin không đúng về các tá điền và ruộng đất của họ để trốn thuế; tình trạng tham nhũng và sự bất lực của tầng lớp trí thức Khổng giáo trong lĩnh vực kinh tế đóng một vai trò rất nguy hiểm trong việc này. Những quan lại nhà Hán nào cố gắng tước đoạt đất đai ra khỏi tay các lãnh chúa đều gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ và chính sách của họ không thể thực thi nổi. Trên thực tế chỉ một thành viên trong các gia đình chủ đất, ví dụ như Vương Mãng là có thể đưa các ý tưởng cải cách này thành hiện thực dù nó đã thất bại khi ông tìm cách thực hiện các chính sách "quay lại thời trước".

Sự đứt quãng trong giai đoạn cai trị của nhà Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nhà Tân

Sau 200 năm, sự cai trị của nhà Hán bị ngắt quãng một thời gian ngắn từ năm 8 đến 23 do sự cướp ngôi của Vương Mãng, một nhà cải cách và là một thành viên trong các gia đình địa chủ, lập ra triều nhà Tân. Tình hình kinh tế lâm vào nguy ngập ở cuối thời Tây Hán. Vương Mãng vốn tin rằng họ Lưu đã mất thiên mệnh, chiếm lấy quyền lực và muốn quay trở lại thời trước với các cải cách tiền tệ và ruộng đất mạnh mẽ, nhưng những cải cách này còn mang tới kết quả tệ hại hơn. Cuối cùng chính quyền của nhà Tân của ông bị lật đổ.

Sự trỗi dậy và sụp đổ của nhà Đông Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Một người họ hàng xa của hoàng tộc nhà Hán là Lưu Tú dẫn đầu một cuộc nổi dậy chống Vương Mãng với sự ủng hộ của các gia đình chủ đất và những nhà buôn. Ông "tái lập" triều Hán ở Lạc Dương và tiếp tục cai trị trong 200 năm sau và trở thành Hán Quang Vũ Đế.

Đầu ngựa bằng đất nung thời Hậu Hán (thế kỷ 2)

Năm 105, dưới thời Đông Hán, một vị quan và là nhà phát minh tên là Thái Luân đã phát minh ra kỹ thuật làm giấy. Phát minh ra giấy được coi là một cuộc cách mạng trong trao đổi thông tin và học tập, giảm chi phí giáo dục đi rất nhiều.

Tuy nhiên cũng như triều đình trước, các hoàng đế nhà Đông Hán không thành công trong việc cải cách phân chia lại ruộng đất. Tình trạng tham nhũng, quan liêu lan tràn và sự hối lộ góp phần vào việc làm chậm trễ những hiệu quả của việc tư nhân hóa đất đai trên toàn đất nước. Uy tín của một triều đại mới tái thành lập dưới thời cai trị của ba hoàng đế (Quang Vũ Đế-Minh Đế-Chương Đế) đã có khả năng che lấp tình trạng tham nhũng; tuy nhiên tầng lớp học giả Khổng giáo lại quay sang chống lại hoạn quan vì họ đã lấn sang chính quyền, trong khi các gia đình ngoại thích và các hoạn quan đánh lẫn nhau để giành quyền lực. Không bên nào trong ba bên đó có thể cải thiện đời sống của những người nông dân đang phụ thuộc vào các gia đình chủ đất. Sự tư nhân hóa đất đai và sự tích lũy đất đai vào trong tay tầng lớp trên đã ảnh hưởng tới các xã hội thời Tam QuốcNam Bắc Triều tới mức tầng lớp chủ đất chiếm được quyền điều khiển và cai trị quốc gia. Các thực thể chiếm được quyền cai trị hợp tác với các gia đình đó, và hậu quả là các chính sách của họ chỉ dành ưu tiên cho tầng lớp chúa đất. Những ảnh hưởng bất lợi của hệ thống kiểm soát chín cấp hay hệ thống chín bậc (chế định cửu phẩm) là những ví dụ cụ thể.

Tư tưởng thái bình của Đạo giáo về bình đẳng quyền lợi và bình đẳng trong phân phối đất đai lan tràn trong giới nông dân. Kết quả là nông dân tham gia cuộc Khởi nghĩa Khăn Vàng (khởi nghĩa hoàng cân) đã tập hợp lại ở Đồng bằng Hoa Bắc, khu vực nông nghiệp chính của đất nước. Quyền lực của hoàng tộc họ Lưu rơi vào tay các sứ quân địa phương, dù có sự đàn áp cuộc khởi nghĩa Trương Giác và các anh em của ông. Ba vị lãnh chúa cuối cùng đã kiểm soát được toàn bộ Trung Quốc, mở ra thời đại Tam Quốc. Vị vua bù nhìn Hiến Đế cai trị tới năm 220 khi Tào Phi buộc ông thoái vị.

Năm 311, khoảng 100 năm sau sự sụp đổ nhà Đông Hán, thủ đô Lạc Dương bị người Hung Nô cướp phá.

Ban Siêu chinh phục Tây Vực[sửa | sửa mã nguồn]

Việc Trung Quốc trở nên thịnh vượng lại làm xuất hiện cố gắng mở rộng về phía tây.

Vua Quang Vũ lập lại trật tự rồi, nhiều nước ở Tây Vực nghĩ rằng thà chịu lệ thuộc Hán ở xa còn hơn là lệ thuộc Hung Nô ở gần, nên xin Quang Vũ bảo hộ. Quang Vũ không nhận vì không đủ quân đưa đi Tây Vực.

Đầu đời Đông Hán, Lư Phương cát cứ vùng An Định được Hung Nô ủng hộ đã chiếm các quận Ngũ Nguyên, Sóc Phương, Vân Trung, Định Tương, Nhạn Môn, giúp cho Hung Nô có cơ sở tiến xuống phía nam. Quang Vũ Đế không đủ sức chống trả nên phải bỏ khu vực từ Hà Sáo đến Tinh Châu và phía bắc U Châu, dời tất cả dân cư vào nội địa.

Khoảng năm 45, Hung Nô bị nhiều nạn hạn hán và một nạn châu chấu, súc vật chết nhiều, dân đói. Nước chia làm hai: bắc sống độc lập, nam lệ thuộc Hán; Quang Vũ mưu mô gây sự bất hòa giữa hai bên. Nhằm cắt đứt liên hệ giữa Bắc và Nam Hung Nô nhà Đông Hán cho đặt Độ Liêu Tướng quân xây đồn lũy ở các vùng Ngũ Nguyên, Mang Bá (đông nam của Đạt Lạp Đặc Kỳ thuộc Nội Mông). Qua đời sau Minh Đế làm tuyệt đường giao thông giữa Bắc và Nam Hung Nô, rồi sai Đậu Cố đánh Bắc Hung Nô, chiếm đất làm đồn điền.

Năm 73, các tướng Đậu Cố, Cảnh Yểm đã chỉ huy quân Hán tấn công miền Nam Hung Nô. Năm 89, Đậu Hiến và Cảnh Bỉnh đem quân đánh Hung Nô, Bắc Thiền vu bỏ trốn, hơn 2 vạn người đầu hàng. Quân Hán đánh thẳng lên núi Yến Nhiên (núi Hàng Ái, Mông Cổ) lập bia đá kỷ niệm chiến công ở đó.

Năm 90, quân Hán đoạt lại Y Ngô Lư, cùng với quân Nam Hung nô tiến đến Kê Lộc Tán (tây Hàng Cẩm Hậu Kỳ, Mông cổ) để tấn công Hung Nô.

Năm 91, tướng Cảnh Quỳ dẫn quân Hán bao vây Bắc Thiền vu của Hung Nô tại núi Kim Huy (Antai), một bộ phận người Hung nô bỏ chạy sang Ô Tôn, Bắc Hung nô bị đánh bại triệt để, từ đó dời bỏ Cao nguyên Mông Cổ phải dời sang phía tây.

Minh Đế lại phái Ban Siêu đi thông sứ các nước Tây Vực.

Ban Siêu người đất Bình Lăng. Cha là Ban Bưu, anh cả là Ban Cố nhà sử gia nổi tiếng, em gái là Ban Chiêu, đều là những người học vấn uyên thâm nổi tiếng một thời. Siêu cũng có óc mạo hiểm như Trương Khiên, đến nước Thiện Thiện thuyết phục vua nước đó bỏ Hung Nô mà liên kết với Hán.

Mới đầu Vua Thiện Thiện tiếp ông rất lễ độ, trong khi đó, một phái đoàn của Hung Nô cũng tới, vua Thiện Thiện thay đổi thái độ, lơ là phái đoàn Hán. Ban Siêu cả gan dùng thuật vào hang cọp để bắt cọp con, nửa đêm sai mười người núp sau nhà của phái đoàn Hung Nô, người nào cũng cầm trống; còn 26 người nữa, núp ở phía trước nhà, rồi một mình ông tiến vào đốt nhà. Đêm đó có cơn dông, lửa bốc cao, bọn mười người phía sau đập trống vang trời, phái đoàn Hung Nô hoảng hốt, chạy ra phía trước, bị người Hán bắn chết một phần, phần còn lại chết cháy. Vua Thiện Thiện thấy vậy, vội thề kết thân với Hán. Chưa thấy phái đoàn ngoại giao nào dùng thuật kì dị như vậy.

Sau đó, Ban Siêu tới nước Vu Điền (Khetan) giết một mụ phù thủy quân sư của Nhà vua vì mụ dám nhục mạ sứ giả của nhà Hán, đòi sứ giả phải giết một con ngựa vàng mõm đen rồi hai bên mới thương thuyết. Vua Vu Điền thấy vậy cũng hoảng như Vua Thiện Thiện và vội xin qui phục nhà Hán, giết hết các sứ giả Hung Nô ở trong nước.

Nhờ phương pháp đó mà Ban Siêu thành công mĩ mãn: Nam Hung Nô và trên 50 nước nhỏ ở Tây Vực đều dâng biểu triều cống với nhà Hán. Còn Bắc Hung Nô thì bị Đậu Hiến đánh đuổi qua phía tây. Năm 69 tuổi, sau 30 năm hoạt động ở Tây Vực, Siêu về nước, được Triều đình phong tước Định Viễn Hầu, nghỉ được một năm rồi chết năm 102 (đời Hòa Đế).

Năm 97, con trai Ban Siêu là Ban Dung gửi Sứ thần Cam Anh đến phía tây đến được nước Điều Chi bên vịnh Ba Tư chuẩn bị vượt biển để đến Đế quốc La Mã thì người nước An Tức (Ba Tư) nói: “ Biển rất rộng, gặp gió xuôi phải 3 tháng mới vượt qua được, nếu gió ngược thì phải mất 2 năm. Cho nên người vượt biển ai cũng phải chuẩn bị đủ lương thực 3 năm để dùng. Đó là chưa nói sống trên biển rất dễ bị bệnh nhớ quê hương cho nên luôn có người chết ngoài biển”. Nghe lời nói đó, Cam Anh không dám vượt biển, đành quay trở về. Tuy nhiên đến năm 166, một phái đoàn La Mã đã thông thương với Đông Hán.

Thành lập cơ quan quản lý Tây Vực[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 74, sau khi đánh bại Hung Nô, một cơ quan quản lý người Hung nô được lập ra gọi là Tây Vực Đô hộ phủ và bị triệt thoái năm 107. Nhà Đông Hán đặt chức Hiệu úy Mậu Kỷ là chức quan võ cao cấp trông coi và giữ gìn vùng Tây Vực.

Sau khi Ban Siêu về nước người kế nhiệm là Nhâm Thượng không tiếp thu kinh nghiệm của ông nên dẫn đến sai lầm trong việc cai trị. Năm 107, Tây Vực Đô hộ phủ phải triệt thoái. Quân tư mã Ban Dũng và Ban Hùng phụng mệnh Nhà vua đón tiếp đô hộ và binh sĩ trú đóng ở Tây Vực trở về. Việc nhà Đông Hán triệt thoái Tây Vực Đô hộ phủ tạo cơ hội cho lực lượng tàn dư của Bắc Hung Nô tại núi Antai nổi dậy chiếm lĩnh Y Ngô, cướp bóc vùng Hà Tây. Một số nước Tây Vực lại đề nghị nhà Đông Hán bảo hộ. Đặng Thái hậu đang chấp chính liền triệu kiến Ban Dũng và chấp nhận kiến nghị khôi phục Tây Vực của ông. Năm 123, Ban Dũng được cử làm Tây Vực Trưởng Lại, đóng ở Liễu Trung (tây nam huyện Thiện Thiện). Chức năng của phủ Trưởng sử cũng giống như của Đô hộ phủ. Ban Dũng đẩy lui tàn dư của Bắc Hung Nô, khôi phục sự thống trị của nhà Đông Hán tại Tây Vực. Ban Dũng thiết lập các đồn điền quân sự phía tây và đưa người Hán đến định cư. Tuy nhiên so với thời Tây Hán thì không mạnh bằng. Cuối đời Đông Hán, nhà Hán không còn đủ sức mạnh để khống chế Tây Vực nữa, phủ Trưởng sử không còn tồn tại.

Cuốn "Tây Vực trường sử" (Sử vùng Tây Vực) do Ban Dũng thực hiện một thời gian ngắn sau năm 127, dựa trên một phần những ghi chép của cha ông là Ban Siêu, là nguồn tư liệu chính về văn hóa và kinh tế xã hội của Tây Vực trong tập 88 cuốn sách này.

Nhà Đông Hán còn giữ được uy quyền ở Tây Vực trong một thời gian nữa, rồi khi suy nhược vì nạn ngoại thích và hoạn quan thì không kiểm soát được miền đó nữa. Nhưng công của những nhà thám hiểm như Ban Siêu, Ban Dũng không phải là vô ích. Nhờ những người đó mà Trung Hoa đã làm chủ và khai hóa được một miền rộng ở châu Á.

Sự cường thịnh của nhà Đông Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Đến giữa thế kỷ thứ nhất, trải qua sự thống trị của 3 đời vua Quang Vũ Đế, Minh Đế và Chương Đế, Vương triều Đông Hán đã từng bước lấy lại sự thịnh vượng của nhà Hán trước đây, thời kỳ này được người đời sau gọi là “Quang Vũ trung hưng” và “Minh Chương chi trị”. Các tướng lĩnh như Cảnh Yểm, Đậu Cố, Ban Siêu mở mang bờ cõi đến tận biển Caspian và nước Ukraina hiện nay, quan hệ trực tiếp với Đế quốc Parthia và gửi các đoàn sứ thần đến Đế quốc La Mã cũng đang thời kỳ hoàng kim tại châu Âu.

Năm 69, Vua Ai Lao xin nội thuộc vào Đông Hán, nhà Đông Hán lập tại đó 2 huyện đồng thời tách từ Ích Châu 6 huyện lập thành quận Vĩnh Xương. Cương vực nhà Đông Hán mở rộng đến Cao nguyên Vân Quý và phía đông Miến Điện.

Đời Minh Đế, các bộ Bạch Lang, Bàn Mộc phía tây quận Văn Sơn gồm 130 vạn hộ, sáu triệu nhân khẩu, tình nguyện quy thuộc nhà Hán.

Năm 87, vùng Bắc Miến Điện sai sứ đến Đông Hán tiến cống đá quý, chim Trả, bông cây gạo, trâu rừng, ngà voi, minh châu, ngọc sang và mang về tơ lụa. Vào thế kỷ thứ 3, khi kỹ thuật canh tác nông nghiệp Trung Nguyên được Gia Cát Lượng truyền bá cho dân chúng vùng Vân Nam, Quý Châu thì sau đó không lâu những kỹ thuật này cũng được truyền vào Miến Điện. Từ Vân Nam, việc chế tạo rượu, nuôi tằm cũng được truyền sang nước Lào.

Năm 87, nước An Tức triều cống sư tử cho Trung Quốc. Về sau vào niên hiệu Dực Niên, Quốc vương nước An Tức phái sứ giả mang lễ vật triều cống sang Trung Quốc, mở đầu cho sự giao thương giữa hai nước. Năm 101, nước An Tức lại thường mang lễ vật sang triều cống cho triều Đông Hán.

Năm 57, Vua nước Na (Nụy Vương) Nhật Bản tiến cống Quang Vũ Đế ở Lạc Dương và nhận ấn thụ Hán Nụy Nô Quốc Vương (Vua nước Na đất Wa thuộc Hán). Cũng theo Hậu Hán thư, năm 180, các tiểu quốc Wa (Oa/Nụy/Uy) thống nhất dưới quyền Nữ hoàng Himiko (Ti Do Hô) của nước Yamataikoku (Tà Mã Đài Quốc) và năm 237, Nữ hoàng gửi sứ tiết sang Trung Quốc.

Người Khương nổi dậy[sửa | sửa mã nguồn]

Người KhươngLương Châu (vùng Cam Túc, Thanh Hải) sinh sống bằng nghề chăn nuôi là một dân tộc thiện chiến, họ xem việc chết trận là một vinh dự. Thời Tây Hán đã có nhiều người Hán đến định cư cùng với người Khương, ở Thanh Hải, Cam Túc, Thiểm Tây, người Khương ở cùng với người Hán.

Năm 106, người Khương sống ở phía tây Ngọc Môn Quan (phía tây bắc Đôn Hoàng, Cam Túc) nổi loạn, xuất quân xâm phạm quận Vũ Đô. Năm 107 nhà Đông Hán bắt người Khương đi đánh Tây Vực, người Khương không muốn xa lìa quê hương nên khi mới ra đi họ đã rủ nhau trốn về. Quan lại Triều đình liền bắt bớ và đốt phá nhà cửa của họ. Năm 110, người Khương phẫn nộ và vùng lên nổi dậy, lấy gậy gộc làm vũ khí, lấy ván làm khiên chống lại Quân đội Đông Hán, giết chết nhiều quan lại và địa chủ Hán. Triều đình và quan lại các châu huyện đều sợ người Khương và bắt buộc dân Hán phải dời vào nội địa nhưng người Hán cũng không chịu đi, sợ khi vào nội địa đời sống không được đảm bảo. Quân đội Đông Hán liền dỡ nhà cửa và đốt lương thực của dân Hán. Bất đắc dĩ, người Hán phải liên hiệp với người Khương chống lại hành động áp bức của Triều đình. Năm 121, người Khương và người Tiên Ti lại nổi dậy, cuộc nổi dậy tiếp diễn trong suốt những năm cuối triều An Đế.

Chiến tranh giữa người Khương với nhà Đông Hán kéo dài hơn 60 năm, cuối cùng nhà Đông Hán cũng dập tắt được cuộc nổi dậy nhưng hao tổn nhiều nhân lực, quân phí lên đến ba bốn chục tỷ lạng, ngân sách bị thâm hụt, nhân dân thống khổ, mâu thuẫn giai cấp càng sâu sắc.

Quan hệ với các dân tộc ở miền nam.[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Đông Hán có nhiều dân tộc thiểu số ở vùng Hồ Nam, Tứ xuyên, Vân Nam, Quý Châu. Người Diêu ở Quý Châu và tây Hồ Nam dùng các thứ vải gai màu để may quần áo rất đẹp. Người Diêu cũng là một tộc người rất dũng cảm và thiện chiến. Nhà Đông Hán đã bắt họ nộp tô thuế rất nặng, ngoài ra họ còn bị bọn quan lại đánh đập nữa, vì thế họ thường nổi lên chống cự, trong vòng ba năm đã hai lần đánh bại quân triều đình.

Người Điền: Vào thời kỳ đồ đá mới, ở đây đã có sự định cư của con người trong khu vực hồ Điền Trì. Những người nguyên thủy này sử dụng các công cụ bằng đá và đã xây dựng được các công trình đơn giản bằng gỗ.

Vào khoảng thế kỷ 3 TCN, khu vực trung tâm của Vân Nam, xung quanh Côn Minh ngày nay đã được biết đến như là Điền. Một viên tướng nước SởTrang Giao hay Trang Kiệu đã từ thượng nguồn Trường Giang tiến vào khu vực này, lập ra nước Điền và tự xưng là "vua nước Điền". Ông và những người kế nghiệp ông đã mang tới Vân Nam ảnh hưởng của người Hán, sự khởi đầu của một lịch sử lâu đời các cuộc di cư và sự mở rộng ảnh hưởng văn hóa. Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc và mở rộng quyền lực của mình xuống phía nam. Các châu và huyện đã được thiết lập tại đông bắc Vân Nam. Đường giao thông đang có tại Tứ Xuyên đã được mở rộng về phía nam tới gần Khúc Tĩnh ngày nay, ở miền đông Vân Nam - được gọi là "Ngũ xích đạo" (đường 5 thước). Năm 109 TCN, Hán Vũ Đế giao quyền cho tướng Quách Xương đến Vân Nam để thiết lập quận Ích Châu với 24 huyện trực thuộc. Nơi đặt trụ sở của quận này là huyện Điền Trì (ngày nay là Tấn Ninh). Một huyện khác được gọi là "Vân Nam", có lẽ là lần sử dụng đầu tiên của tên gọi này. Để mở rộng quan hệ thương mại mới hình thành với Miến ĐiệnẤn Độ, Hán Vũ Đế còn giao cho Đường Mông nhiệm vụ bảo trì và mở rộng Ngũ xích đạo, đổi tên nó thành "Tây nam Di đạo". Vào thời gian đó, kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp ở Vân Nam đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương sử dụng các công cụ và cày bừa bằng đồng thau cũng như chăn thả nhiều loại gia súc, như trâu, , ngựa, cừu, , lợnchó.

Người Điền ở xung quanh hồ Điền đã khai thông ao hồ để tưới tiêu. Người Ai lao ở giữa vùng sông Nộ và sông Lan thương biết dệt một thứ vải bằng gai mịn như gấm. Ở đó họ đá sản xuất đồng, sắt, chì, thiếc và thủy tinh. Nhà Đông Hán đã đặt quận huyện tại khu vực này. Người Hán cũng thường quan hệ giao lưu với người Điền và người Ai Lao. Giữa thế kỷ thứ hai, Doãn Trân người vùng Tang Ca (Quý Châu) có đến Lạc dương học kinh sách rồi trở về quê dạy học có ảnh hưởng lớn đối với văn hóa trong vùng.

Nổi dậy ở Tượng Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế kỷ 2 tình hình chính trị ở phía nam huyện Tượng Lâm, luôn dao động.

Mùa hè năm 100, hơn 2.000 dân Tượng Lâm nổi lên phá đồn, đốt thành, giết một số quan quân cai trị. Chính quyền đô hộ Hán phải huy động quân của các quận huyện khác đến dẹp, giết được chủ tướng, cuộc nổi loạn mới tạm yên. Từ đó chính quyền nhà Hán không dám ức hiếp một cách thô bạo dân cư tại đây nhưng đặt vùng đất này dưới quyền cai trị trực tiếp, do một binh trưởng sứ cầm đầu, đề phòng những cuộc nổi loạn sau này. Để lấy lòng dân cư địa phương, quan quân nhà Hán tổ chức phát chẩn cho dân nghèo, miễn thuế hai năm v.v.

Mục đích của chính sách cai trị trực tiếp này là thu thuế và nhận phẩm vật triều cống (vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, móng chim ưng, hương liệu, vải lụa) càng nhiều càng tốt. Thuế và phẩm vật triều cống do những lãnh chúa địa phương thay mặt nhà Hán thu của dân. Như vậy nhà Hán vừa có thu nhập vừa không hao tốn ngân quỹ, lại duy trì được ảnh hưởng trên vùng đất đó, bù lại lãnh chúa địa phương được sắc phong và được bảo vệ khi bị tấn công.

Theo sử liệu cổ của Trung Hoa (Hậu Hán thư, Lưu Long truyện, Mã Viện truyện) ghi lại thì người huyện Tượng Lâm luôn chống đối lại chính sách cai trị của nhà Hán và thường tranh chấp lẫn nhau về quyền cai trị tại vùng đất này. Tượng Lâm ở quá xa chính quốc nên sự cai trị trực tiếp của những quan đô hộ và binh lực nhà Hán làm hao tốn công quỹ mà lợi ích chính trị và kinh tế không cao, do đó đã rất lơ là.

Năm 136, khoảng 1.000 dân Tượng Lâm nổi lên chống lại sự cai trị của nhà Hán và đánh chiếm huyện Tượng Lâm, họ đốt thành và giết trưởng lại (huyện trưởng). Năm sau thứ sử Giao ChỉPhàn Diễn phải điều hơn 10.000 binh sĩ từ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân xuống đàn áp nhưng thất bại. Thay vì đi dẹp loạn, đoàn quân này lại phối hợp với dân quân Tượng Lâm chống lại và chiếm đóng một số thành quách khác trong quận, quan quân Đông Hán phải rút lui khỏi huyện Tượng Lâm.

Năm 138, Giả Xương, quan thị ngự sử nhà Hán đi sứ phía nam, đã cùng với các quan thái thú trong quận Nhật Nam gom quân dẹp những cuộc nổi loạn ở huyện Tượng Lâm. Sau gần một năm, tất cả đều thất bại, và họ còn bị quân địa phương bao vây hơn cả năm trời. Từ đó nhà Hán mất tin tưởng ở đám quan quân địa phương và chỉ tin dùng quan quân từ Trung Hoa đưa xuống. Năm sau Hán Thuận Đế sai tướng Cổ Xương huy động 40.000 quân ở các châu Kinh, châu Dương, châu Duyên, châu Dự xuống đàn áp cuộc nổi dậy. Cổ Xương bị quân nổi loạn đánh bại, nhà Hán sai một tướng khác là Lý Cố mang viện binh tiếp trợ nhưng Lý Cố viện các lý do để hoãn binh. Cuộc tiến quân bị dừng lại.

Những kế sách của Lý Cố là: •Ly gián nội bộ những người nổi loạn bằng cách mua chuộc những lãnh chúa địa phương nhằm làm suy yếu tiềm lực của dân quân Tượng Lâm •Tránh can thiệp bằng quân sự vào những tranh chấp cục bộ của người địa phương •Chỉ để lại một quan lại người địa phương thay mặt thiên triều cai trị •Vấn đề lãnh đạo địa phương để cho người địa phương chọn lấy, người thắng cuộc được thiên triều tấn phong •Quan cai trị địa phương phải là một lãnh chúa thần phục thiên triều •Tước Vương hầu (dành cho người Hán) và Liệt Thổ (dành cho người địa phương).

Để thực hiện mưu kế này, nhà Hán phong Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ và Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân; cả hai có nhiệm vụ thu thuế và nhận phẩm vật từ những quan lại được nhà Hán tấn phong. Trương Kiều đã thu phục được hàng chục ngàn dân thường của Nhật Nam và Tượng Lâm qui thuận Hán triều.

Năm 144, dân quận Nhật Nam và huyện Tượng Lâm lại nổi lên chống lại ách cai trị của nhà Hán, nhưng bị thứ sử Hạ Phương đánh bại. Năm 157, Chu Đạt cùng với dân chúng Cửu Chân nổi lên giết huyện lệnh Cự Phong và thái thú Nghê Thức chiếm quyền lãnh đạo. Sự kết hợp tự nhiên giữa dân chúng hai quận Cửu Chân và Nhật Nam gây nhiều bối rối cho các quan quân cai trị. Dưới sự chỉ huy của đô úy quận Cửu Chân là Ngụy Lãng, quân Hán phản công quyết liệt, giết hơn 2.000 dân Cửu Chân, phe nổi loạn phải chạy xuống phía nam chiếm quận Nhật Nam và chống trả lại. Trong ba năm, từ 157 đến 160, quân Tượng Lâm (khoảng 20.000 người) tiến lên đánh quân Hán và chiếm nhiều huyện khác của Nhật Nam. Vài năm sau, năm 178, Lương Long cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại quân Hán, chiếm được nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam; năm 181 Hán vương cử Lã Đại mang quân sang đánh dẹp.

Đến đời Hán Sơ Bình (190-193), nhân nội tình Trung Hoa rối loạn, dân Tượng Lâm, phối hợp với dân 2 quận Cửu Chân và Nhật Nam, nổi lên đánh đuổi quân Hán và giành thắng lợi. Năm 192, tiểu vương quốc Chăm pa đầu tiên phía bắc ra đời, dưới tên gọi Lâm Ấp dưới sự lãnh đạo của Khu Liên. Tiểu vương quốc này mở đầu cuộc đấu tranh giành độc lập của người Kinh ở phía bắc và phong trào thống nhất vương quốc Chiêm Thành ở phía nam.

Trì trệ và tham nhũng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 125, An Đế chết, Bắc Hương Hầu Lưu Ý lên ngôi được 7 tháng tức là Thiếu Đế thì bị phe cánh họ Diêm lật đổ, Lưu Bảo mới 11 tuổi được đưa lên ngôi vua, tức là Thuận Đế, quyền lực trong triều do họ Diêm nắm, về sau họ Diêm bị Tôn Trình tiêu diệt. Cho dù Thuận Đế là người năng lực kém cỏi trong việc cai trị và nạn tham nhũng không bị ngăn chặn, hòa bình vẫn được đảm bảo. Năm 132, Thuận Đế lấy vợ, từ đó họ Lương bắt đầu tham gia triều chính. Họ Lương có nguồn gốc từ Lương Nhiễu làm Thái thú quận Tửu Tuyền thời Vương Mãng, cùng Đậu Dung cát cứ đất Hà Tây, sau về hàng Quang Vũ Đế được phong hầu, kết thông gia với Quang Vũ Đế. Năm 135, Thành Thạch hầu Lương Thượng, cha Hoàng hậu được phong làm Đại tư mã chỉ huy quân đội, kiểm soát triều chính. Tuy nhiên Lương Thượng lại là người trong sạch và trung thực, nhiều khi nhân nhượng không muốn trừng phạt những người vi phạm pháp luật. Trong các năm 136 -138 tại miền Nam, nhiều cuộc nổi dậy của dân chúng nổ ra tại miền nam. Vào năm 139, người Khương lại nổi dậy, cuộc nổi dậy kéo dài mãi trong suốt đời Thuận Đế, Triều đình hao tổn rất nhiều quân phí và binh lực đánh dẹp. Năm 141, người Khương đánh bại quân Hán do Mã Hiển chỉ huy và tiến đến gần Trường An, đốt cháy lăng mộ các vua triều Tây Hán. Tại địa hạt Kinh Châu (Hồ Nam, Hồ Bắc, Nam Hà Nam) và Dương Châu (Giang Tây, Chiết Giang, Trung và Nam Giang Tô, An Huy), tình hình cũng không yên ổn bởi các cuộc nổi dậy của các bộ tộc ít người.

Lương Ký nắm quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 141, Lương Thượng chết, Thuận Đế đưa con ông ta là Lương Ký lên thay, em Lương Ký là Lương Bất Nghi làm Hà Nam doãn. Nhà họ Lương có tất cả 7 người được phong tước hầu, 3 người tấn phong Hoàng hậu, 6 người được nạp làm Quý nhân, 2 người làm Đại tướng quân, 57 người tham gia bộ máy chính quyền. Năm 144, Thuận Đế chết, Lương Thái hậu và em bà là Lương Ký khuynh đảo triều chính. Lương Ký lần lượt đưa lên ngai vàng các ông vua bé con là Xung Đế, Chất Đế và Hoàn Đế. Chất Đế Lưu Toản tuổi tuy còn nhỏ nhưng lại vô cùng thông minh. Biết Lương Ký lấy thân thế là ngoại thích mà lên chức Đại tướng quân, chuyên quyền nơi triều chính, lấn át đại thần, đến cả Hoàng đế cũng không bỏ vào trong mắt, vì thế Lưu Toản rất khó chịu với Lương Ký. Một lần đương triều, Lương Ký múa may loạn xạ, Lưu Toản bèn nói một câu “Thực là ngang ngược tướng quân”. Không ngờ câu nói này khiến cho vị hoàng đế trẻ tuổi thành đoản mệnh. Lương Ký sai người hạ độc vào trong thực phẩm của Hoàng đế. Lương Ký tha hồ vơ vét của cải của dân chúng, tài sản có đến 4 tỷ đồng, chiếm một nửa ngân khố của nhà nước, những người bình dân cũng bị Lương Ký bắt làm nô tỳ. Năm 159, Lương Thái hậu chết, phe cánh họ Lương bị Hoàn Đế diệt trừ, tài sản bị sung công, dân chúng nghe tin đều vui mừng.

Cuộc sống của người nông dân.[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống của người dân thường Trung Quốc - những nông dân - vẫn rất khó khăn. Họ vẫn bị đánh thuế nặng. Họ vẫn phải đi lao động công ích mỗi tháng một lần cho nhà vua. Những sự trừng phạt vẫn rất khốc liệt. Một nông dân nghèo có thể bị hành quyết chỉ vì dám đi ở giữa đường lớn, nó chỉ dành cho nhà vua. Và họ không có đủ lương thực dự trữ cho những khi cần thiết. Triều đình bắt các châu quận phải nộp tiền của, thường là nhiều gấp 10 lần số quy định. Các quan lại địa phương thường bắt nhân dân nộp nhiều, nếu không nộp nổi thì bị đánh đập và tra khảo, nhiều người bị tra khảo đến chết.

Điền trang của đại địa chủ.[sửa | sửa mã nguồn]

Bọn đại địa chủ bóc lột nông dân nghèo, chúng cho vay nặng lãi, nông dân trả không nổi thì phải bán ruộng đất đi làm tá điền cho chúng, sau khi gặt hái phải nộp1/2 thu hoạch cho chúng. Điền trang của đại địa chủ có đến hàng vạn nông dân tùy thuộc, các bộ hạ của Tào Tháo như Lý Điển có tới 3000 hộ với khoảng 13000 người, Lý Thông cũng có 2000 hộ. Họ không được bỏ ruộng đi nơi khác. Trong điền trang có đủ các loại lúa, rau cải, hoa quả, cây sơn, cây trẩu, cây tre. Ngoài ra còn nấu rượu, làm dấm tương và đường. Việc nuôi tằm dệt lụa thường do nô tỳ thực hiện. Sản phẩm làm ra một phần địa chủ dùng, một phần bán ra bên ngoài. Đại địa chủ còn tổ chức các đội vũ trang. Khi mùa màng nhàn rỗi, chúng bắt người trong điền trang phải tập bắn tên, đến mùa đông và mùa xuân chúng cho đội vũ trang canh gác xung quanh đề phòng dân đói đến cướp lương thực. Chúng khai man ruộng đất và hộ khẩu để trốn thuế, có khi còn dùng vũ lực để kháng cự sự kiểm tra của quan lại.

Trong khi đó các hoạn quan và ngoại thích thường cướp bóc tài sản của nhân dân. Ngoại thích Lương Ký chiếm một vùng rộng lớn 1000 dặm ở phía tây Hà nam để nuôi súc vật cầm thú làm nơi săn bắn ăn chơi. Hoạn quan Hầu Lãm chiếm của dân 118 khoảnh ruộng và 381 ngôi nhà trong một quận. Anh ruột của Hầu Lãm làm quan ở Tứ xuyên vơ vét vàng bạc tơ lụa của dân chở đầy 300 xe. Sau khi Lương Ký bị một nhóm các đại tộc lật đổ, những gia đình này đã được phong đất làm điền trang với số nông dân lên đến 76 ngàn hộ.

Suy vong[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa thế kỷ thứ 2, nhà Đông Hán đã suy vong. Ở một quốc gia coi Khổng giáo là quốc giáo, là bộ quy tắc ứng xử quan trọng nhất mà quyền lực thật sự lại không nằm trong tay các đồ đệ chân chính của Khổng Tử.

Guồng máy nhà nước đã không được vận hành theo một cơ cấu hợp lý bởi thiếu những bộ óc lãnh đạo xứng đáng, và hệ quả tất yếu của nó là sự suy đồi của nền kinh tế.

Thương nghiệp thoái hóa. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hoàn toàn bị phá vỡ bởi sự lộng hành của quý tộc địa chủ. Số lượng tiền tệ giảm bớt. Vàng gần như biến mất.

Chưa hết, chinh phạt liên miên (đánh người Khương ở miền bắc, dẹp khởi loạn trong nước…) khiến quân phí tăng vọt (mấy mươi năm triều An đế, quân phí lên tới 70 triệu quan), do đó bắt buộc triều đình càng phải gia tăng thuế vụ, nhân dân bị bần cùng hóa.

Có áp bức tất có đấu tranh, và để đàn áp các cuộc khởi loạn, triều đình Đông Hán tiến thêm một bước nữa gần đến sự diệt vong, khi phải đánh đổi sự an toàn của đế chế bằng cách để tuột quyền lực khỏi tay.

Trong thời cai trị của Thuận Đế (125-144), những lời đồn đại nổi lên ở trong đám nông dân Trung Quốc rằng các vị vua Hán một lần nữa lại mất Thiên Mệnh. Khắp nơi, những cuộc nổi loạn nông dân lại diễn ra. Trong thời Hán Hoàn Đế (146-168) sự suy sụp chính trị tiếp tục diễn ra. Năm 159 vị hoàng hậu nhiếp chính qua đời, các hoạn quan quanh Hoàn Đế, cảm thấy thời cơ đã đến, liền hạn chế ảnh hưởng của đối thủ bằng cách xếp đặt sự huỷ diệt các thành viên thuộc phe cánh hoàng hậu. Hoàn Đế trở nên phụ thuộc vào hoạn quan. Ông uỷ quyền cho bọn họ, và các hoạn quan chiếm hết các vị trí triều đình cho họ hàng mình, đòi các vị quan hay tướng được phong chức phải hối lộ vàng cho họ.

Hoạn quan nắm quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Việc điều hành quốc gia bắt đầu rơi vào tay tầng lớp hoạn quan sau khi Hoàn Đế phải dựa vào nhóm này để trừ khử quyền thần Lương Ký. Các hoạn quan gồm Đơn Siêu, Từ Hoàng, Huyện Viên, Tả Quán, Đường Hành do có công tiêu diệt Lương Ký được Hoàn đế phong hầu trong một ngày được gọi là ngũ hầu.

Đơn Siêu được phong Tân phong hầu, ban thực ấp 2 vạn hộ. Từ Hoàng được phong Vũ nguyên hầu, ban thực ấp 1,5 vạn hộ. Huyện Viên được phong Đông Vũ dương hầu, ban thực ấp 1,5 vạn hộ. Tả Quán được phong Thượng thái hầu, ban thực ấp 1,3 vạn hộ. Đường Hành được phong Như dương hầu, ban thực ấp 1,3 vạn hộ.

Trong thời gian nắm quyền, hoạn quan đã phát động hai đợt thanh trừng lớn, qua đó bức hại và loại trừ hầu hết các bậc trung thần hoặc những người không cùng phe cánh. Lịch sử gọi sự kiện này là “họa đảng cố”. Triều đình Đông Hán thời kỳ này trở nên vô cùng hủ bại, việc mua quan bán tước được định giá công khai. Dù sau này, thập thường thị có bị Viên Thiệu tiêu diệt nhưng triều Đông Hán không thể phục hồi được nữa.

Hoàn Đế chết năm 168, và ngày hôm sau vợ ông, Đậu hoàng hậu, tuyên bố lên làm hoàng hậu nhiếp chính. Bà thoả thuận lựa chọn một đứa trẻ 12 tuổi ở nông thôn tên là Lưu Hoằng con của Giải độc đình hầu Lưu Trường, chút của Chương Đế. Sau đó, bà cùng với Đậu Vũ đón Lưu Hoằng vào cung lập làm hoàng đế, tức Linh Đế. Trong thời Linh Đế một cuộc xung đột xảy ra giữa hoạn quan và các quan chức theo Khổng giáo. Phái Khổng giáo từ lâu vốn không thích các hoạn quan, coi họ là thiếu giáo dục và gây trở ngại cho một triều đình tốt.

Sự bành trướng thế lực của các bè phái cũng dẫn đến việc lôi kéo nhân tài về phía mình để củng cố lực lượng, tầng lớp trí thức bị chia rẽ rõ rệt. Một số a dua với ngoại thích hoặc hoạn quan theo đuổi quyền lợi phe phái được gọi là tầng lớp “trọc lưu”. Đối lại với lớp trọc lưu là những phần tử nho học chân chính ủng hộ vương quyền thực sự của hoàng đế, được gọi là phái "Thanh lưu". Những lãnh tụ của phái Thanh lưu có thể kể ra đây như Lý Ưng, Trần Phiên, Vương Sướng, Phạm Bàng, Quách Thái...

Chiến tranh xảy ra giữa các hoạn quan và phái Khổng giáo về sự ảnh hưởng của một vị phù thuỷ Đạo giáo. Vị phù thuỷ Đạo giáo tiên đoán rằng một lòng khoan dung khắp nơi sắp đến và sai con mình đi giết một người nào đó để bày tỏ sự tin tưởng vào sự tiên tri đó. Con trai của ông là người hầu cận của các hoạn quan, và các hoạn quan đã ngăn chặn sự hành hình của vị phù thuỷ. Tuy nhiên vị quan cai trị vẫn hành hình con vị phù thuỷ. Các hoạn quan buộc tội vị quan cai trị vi phạm vào điều luật của đế chế và âm mưu với sinh viên và những bậc trí thức để thành lập một liên minh bất hợp pháp nhằm chống lại chính quyền. Các hoạn quan có được lệnh từ Linh Đế, ra lệnh bắt giữ các sinh viên dám biểu tình và dám tìm cách khấn nguyện lên hoàng đế. Và nhanh chóng, họ giết nhiều sinh viên trong ngục.

Bi kịch của giới học thuật thời Hán mạt.[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đấu tranh triền miên giữa phe phái hoạn quan và bè phái ngoại thích đã khiến số đông các phần tử trí thức bị cuốn vào vòng xoáy đó khiến cho chính trường cực kỳ rối ren và phức tạp. Tầng lớp sỹ phu vốn lấy "nhân cách kẻ sỹ" làm nền tảng ý thức, cũng có số đông kẻ sỹ chán chường với thời cuộc, muốn tận trung báo quốc song chẳng biết hướng về đâu, ngẫu nhiên nảy sinh ý thức chống đối với hoạn quan và ngoại thích.

Giai đoạn đó, tại triều đình có một số quan lại nắm giữ những vị trí quan trọng như Lý Ưng là quan cấm vệ kinh thành nổi tiếng là người công chính, nghiêm minh, Trần Phiên là quan Thái uý (nắm quyền về quân sự), Vương Sướng làm tư không (quan giám sát) đặc biệt được lòng tin của số đông tri thức phái Thanh Lưu.

Đời vua Hoàn Đế, Trương Nhượng - vị quan đứng đầu Thập Thường thị (10 hoạn quan có uy quyền bậc nhất) có người em là Trương Sóc làm quan cai quản một huyện thuộc kinh thành là người cực kỳ bá đạo, ỷ thế làm càn. Có lần vì muốn coi đứa trẻ trong bụng người đàn bà chửa nên hắn đã cho mổ bụng người phụ nữ xấu số để xem cho thoả ý. Lý Ưng biết chuyện liền thi hành chức trách, cho bắt Trương Sóc và xử tội chết. Trương Nhượng vì cứu em nên cầu xin với Hoàn Đế xin đặc xá, nhưng Lý Ưng không chịu và Trương Sóc phải đền mạng.

Phái Thanh Lưu coi đây là một thắng lợi to lớn và tán thưởng rất rầm rộ, điều này làm cho quan hệ giữa phái Thanh Lưu và bè lũ hoạn quan căng thẳng tột độ. Năm 166, phe hoạn quan dâng thư lên Hoàn đế vu cho Lý Ưng tội kết bè đảng phỉ báng triều đình. Hoàn Đế lập tức sai trị tội Lý Ưng bất kể Trần Phiên phản đối kịch liệt, hơn 200 danh sỹ phái Thanh Lưu cũng bị bắt bớ, bãi miễn chức tước, cầm cố, tù đầy. Sử sách gọi đó là "tai họa bè đảng" lần thứ nhất. Tuy nhiên, lúc này thực lực của phái Thanh Lưu còn rất mạnh nên sau đó, phần lớn những người bị bắt được phóng thích.

Quách Thái, một lãnh tụ rất uy tín của Phái Thanh Lưu đã từng nói rằng: "Tôi xem thiên tượng, xét nhân sự thấy mọi sự đã băng hoại cả, chẳng nên chèo chống làm gì". Câu nói này đã trở thành ý thức hệ của phái Thanh lưu thời ấy.

Một năm sau tai họa bè đảng lần thứ nhất lại phát sinh biến cố khác, đó là việc Hoàn đế từ trần, Linh đế (Lưu Hoành) mới có 12 tuổi lên ngôi, phái hoạn quan nhân đó lại hoành hành càng dữ. Đậu Vũ (anh của Đậu thái hậu) cùng với Trần Phiêu muốn phát động chính biến, trừ hoạn quan, song do mưu việc không kín, bị hoạn quan phát giác nên đều bị giết cả. Phái hoạn quan nhân đó bắt bớ sát hại phái Thanh Lưu. Hơn 100 danh sỹ bị giết, 600 người khác bị vu cáo, hãm hại, sự kiện này làm chấn động cả nước. Sử sách ghi nhận đây là "tai họa bè đảng lần thứ hai”.

Lần này phái Thanh Lưu bị tiêu diệt gần hết, Lý Ưng, Trần Phiên, Trương Kiệm, Phạm Bàng, Đỗ Mật... đều bị giết. Tiếng ác của hoạn quan lan toả khắp nơi, tất cả các danh sỹ khắp nơi khi nhắc đến hoạn quan đều nghiến răng căm giận.

Sau tai họa lớn này, những người còn sót thuộc phái Thanh Lưu tránh xuất đầu lộ diện, họ di tản về nơi thôn dã, núi rừng, sống ẩn cư và trở thành những ẩn sỹ. Có nhiều người rất nổi tiếng như Viêm Hoành, Bàng Đức Công (chú Bàng Thống), Tư Mã Huy... và họ đều ẩn cư ở Kinh Tương (nơi yên ổn nhất lúc ấy). Vì thế nên đọc Tam Quốc thấy hầu hết danh sỹ đều tụ ở địa phận Dĩnh Châu là vì thế. Bàng Đức Công được Lưu Biểu vời ra làm quan, nhưng ông mấy lần cự tuyệt.

Tại các tỉnh, sự tôn trọng quyền lực của vua ngày càng suy tàn. Các quan lại hành chính địa phương và quan cai trị mất quyền lực vào tay những người giàu, vì họ thường đút lót cho bọn hoạn quan ở triều đình. Những người địa phương đó thường có thói quen che giấu những tên côn đồ để bảo vệ quyền lợi của họ. Và với sự bùng nổ xung đột giữa hoạn quan và tiểu quý tộc trong triều, những vị quan võ đang nắm quân đội tại các tỉnh Trung Quốc ngày càng trở nên độc lập. Trong triều đám hoạn quan Trương Nhượng, Triệu Trung, Phong Tư, Tào Tiết, Hầu Lãm, Kiển Thạc, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng, tất cả mười người họp nhau xưng là "Thập Thường Thị" chuyên làm điều gian ác. Linh Đế lại nhu nhược, tin dùng Trương Nhượng như một kẻ tôi trung, việc triều chính đều giao cho Trương Nhượng quyết đoán, gọi Trương Nhượng bằng "á phụ".

Không lâu sau đó nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân Hoàng cân làm cho nhà Hán suy yếu,

Khởi nghĩa Hoàng Cân.[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Khởi nghĩa Hoàng Cân

Một người theo Đạo giáo tên là Trương Giác, quê ở quận Cự Lộc (Ký Châu, Hà Bắc) tự cho mình là "đại hiền lương sư", đã đi quanh vùng làng quê giống như Trương Lăng.

Năm Kiến Ninh (168-172) đời Hán Linh Đế, Trương Giác bắt đầu truyền đạo. Giáo pháp chủ yếu sử dụng tư tưởng Hoàng Lão, thuyết âm dương ngũ hành, các loại bùa chú phù lục, và kính thờ thần Trung Hoàng Thái Nhất. Trương Giác lấy nước bùa (phù thủy) trị bệnh, bệnh nhân phải cúi đầu sám hối thì bệnh mau khỏi. Nhiều người lành bệnh, còn ai không khỏi bệnh thì Trương Giác giải thích là vì thiếu đức tin. Số người tin và theo đạo dần dần gia tăng, nên Trương Giác thu nhận đệ tử, rồi cắt cử 8 đại đệ tử đến các địa phương khác để truyền đạo. Sau 10 năm, tín đồ của Trương Giác tăng lên đến 10 vạn, trải khắp 8 châu như: Thanh, Từ, U, Ký, Kinh, Dương, Duyện, Dự.

Trong vòng mười năm, phong trào của ông có hàng trăm nghìn người. Khoảng năm Quang Hòa (179-181), Trương Giác tổ chức tín đồ theo biên chế quân đội: Tín đồ phân làm 36 đơn vị gọi là phương; đại phương thì có trên một vạn người, tiểu phương thì có 6 hay 7 ngàn người. Người thống lĩnh mỗi phương gọi là cừ soái. Ba anh em Trương Giác noi theo quan niệm tam tài (thiên-địa-nhân) mà xưng hiệu: Trương Giác là Thiên Công tướng quân, Trương Bảo là Địa Công tướng quân, và Trương Lương là Nhân Công tướng quân. Đồng thời, Trương Giác lợi dụng sấm ngữ để tuyên truyền khắp nơi: «Trời Xanh [tức nhà Hán] đã chết, Trời Vàng phải lập, vào năm Giáp Tý, thiên hạ thái bình.». Sau đó ông sai đệ tử dùng đất sét trắng viết chữ Giáp Tý trên các cổng thành, trên tường vách khắp các phủ, huyện, quận, châu. Trương Giác chọn ngày 5 tháng 3 năm Giáp Tý (năm 184) để khởi nghĩa tổng thể ở Lạc Dương và các vùng lân cận.

Trước đó Trương Giác mua chuộc một hoạn quan tên Phong Tư làm nội ứng, và ra lệnh đại phương của Mã Nguyên Nghĩa hợp với vài vạn dân ở Kinh ChâuDương Châu kéo binh đánh Nghiệp Thành (Ký châu) vào ngày giờ đã định. Nhưng chưa đến ngày khởi nghĩa thì một đệ tử của Trương Giác tên là Đường Chu ở Tế Nam đi tố giác với triều đình. Triều đình sai tướng Hà Tiến đánh dẹp Mã Nguyên Nghĩa, đồng thời bắt giam bọn hoạn quan Phong Tư. Sự việc bại lộ, Trương Giác bèn khởi binh trước thời hạn một tháng (tức vào tháng 2) kêu gọi những người theo ông đốt những trụ sở chính phủ và cướp bóc thành phố.

Đây được gọi là cuộc khởi nghĩa Khăn vàng, được đặt theo kiểu đội đầu của phong trào – màu vàng biểu thị sự liên kết của họ với yếu tố đất như đối kháng với yếu tố lửa, mà họ coi là của nhà Hán. Cuộc nổi loạn lan rộng, và người dân khắp mọi nơi trong nước bắt đầu cướp phá, giết chóc và kéo nhau đến thủ đô Lạc Dương. Khi khởi nghĩa Hoàng Cân bùng nổ, ngoại trừ Thanh ChâuTừ Châu, tín đồ Thái Bình đạo khắp 6 châu hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, sự kiện này gây chấn động kinh đô, một nửa đất nước Trung Quốc rơi vào vòng binh lửa. Trong nỗ lực nhằm tự bảo vệ mình, triều đình Hán bắt đi lính rất nhiều người, lập lên những đội quân đông đảo với chi phí rất lớn, và mặc dù quân Hán yếu kém và không có hiệu quả vì nạn tham nhũng, quân Khăn Vàng cũng không phải là đối thủ của họ. Về mặt quân sự, quân Khăn Vàng không được tổ chức, và họ bị tuyên truyền rằng chúa của họ biến họ thành một đội quân vì cái tốt đẹp, rằng họ không thể bị tấn công, và thậm chí họ cũng chẳng cần đến vũ khí - một quan điểm không thích hợp cho một chiến dịch quân sự. Đạo thần bí là một phần của sự thành lập phong trào và cũng là một phần của sự huỷ diệt của nó.

Các hoạn quan và quan lại ở Lạc Dương bỏ qua sự khác biệt giữa hai bên vì sợ cuộc nổi dậy Khăn Vàng. Các lực lượng chính phủ củng cố quanh Lạc Dương, và chính phủ cho phép quan cai trị địa phương được tổ chức quân đội riêng để chiến đấu chống nổi loạn. Nhà Hán chiêu binh tại các châu quận để dẹp loạn. Các chúa đất giàu có cũng tổ chức quân đội để tự bảo vệ mình. Nhưng hết thành phố này tới thành phố khác rơi vào tay quân Khăn Vàng, quan đầu tỉnh và cấp dưới bỏ trốn không đối đầu với họ để tránh bị đem ra hiến tế cho thần thánh của quân nổi loạn.

Hoảng sợ trước sự đấu tranh của nông dân, chính phủ Ðông Hán và các tập đoàn quân phiệt ở các địa phương đã huy động toàn bộ lực lượng để đàn áp. Quân Khăn Vàng chiến đấu rất ngoan cường suốt 10 tháng, nhưng đến cuối năm 184 bị các tướng Hoàng Phủ Tung, Lư Thực, Chu Tuấn đánh bại. Trương Giác bị bệnh chết. Quân Hoàng Cân bị đại bại, 5 vạn nghĩa quân không chịu khất phục nên nhảy xuống sông tự tử, 13 vạn người khác bị quân Hoàng Phủ Tung giết chết. Mộ của Trương Giác bị quật lên, cắt đầu đưa về kinh đô. Trong năm năm thỉnh thoảng có những cuộc nổi loạn rời rạc vẫn tiếp diễn. Đến năm 188, tàn binh của quân Hoàng Cân lại tái khởi nghĩa tại Thanh Châu và Từ Châu, nhưng cũng bại trận. Chín tỉnh của Trung Quốc bị tàn phá. Các lực lượng đối lập với Khăn Vàng tiêu diệt hết nhóm Khăn Vàng nọ đến nhóm kia. Thành phần cốt cán của Thái Bình Đạo tử trận rất nhiều. Giáo phái này tan rã, và các tín đồ còn lại đành gia nhập Ngũ Đấu Mễ Đạo.

Dư đảng quân Hoàng Cân còn ở khắp nơi hoành hành quấy nhiễu, quân triều đình qua cuộc chiến cũng bị thiệt hại nặng nề nên không đủ khả năng giúp các địa phương trấn áp triệt để. Tình thế ấy khiến cho Hoàng đế nhà Hán có một quyết sách rất mạo hiểm là tiếp thu đề nghị của Lưu Yên - lúc đó đang là Thái thú Giang Lăng – là mau chóng khuyếch đại quyền hạn cho các thứ sử, cho phép họ thành lập quân đội riêng để tự dẹp loạn, đổi chức thứ sử một số châu thành chức Mục. Lưu Yên làm Ích châu mục, Hoàng Uyển làm Dự châu mục, Lưu Ngu làm U châu mục... Chức mục bắt đầu ra đời từ đó, bấy giờ là năm 188. Các châu mục mau chóng có quyền hạn lớn, lực lượng độc lập, triều đình cũng nhanh chóng mất đi quyền chỉ huy khống chế các địa phương, tình trạng quần hùng cát cứ đã manh nha xuất hiện. Vương triều Hán rơi trượt một bước rất dài sang cảnh hữu danh vô thực. Tình trạng phân liệt cát cứ của các sứ quân. Trong các cuộc chiến giữa các sứ quân Tào Tháo nổi lên nắm quyền trong triều và sau khi ông mất, con của ông đã phế bỏ triều đại Đông Hán, thành lập nhà Ngụy ở miền bắc Trung Quốc, bắt đầu thời kỳ Tam Quốc (Bắc Ngụy, Tây Thục, Đông Ngô) kéo dài 60 năm (220 - 280) nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Nỗ lực trung hưng của Thục Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Bị
Bài chi tiết: Thục Hán

Khi triều đại nhà Hán suy yếu, Lưu Bị, một người thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Hán, đã tập hợp được lực lượng và nhiều tướng tài, đặc biệt là Gia Cát Lượng. Sau trận Xích Bích năm 208, ông đã chiếm được Kinh Châu rồi sau đó là Ích Châu, Ba Thục và Hán Trung. Với những vùng đất này, Lưu Bị đã có vị thế khá vững chắc ở Trung Quốc lúc bấy giờ. Năm 220, sau khi Tào Phi truất ngôi Hán Hiến Đế, Lưu Bị chính thức xưng đế và lập nên nước Thục-Hán với danh nghĩa kế tục nhà Hán, do Lưu Bị cũng có dòng máu Hoàng gia. Lưu Bị mất năm 223, và con là Lưu Thiện nối ngôi tức Thục Hán hậu chủ.

Sau các cuộc chiến tranh với Tào Ngụy, tài nguyên và nhân lực của Thục Hán bị suy yếu, cùng với sự yếu kém của chính quyền trung ương khiến cho sức mạnh của Thục ngày càng đi xuống.

Vào năm 263, Tư Mã Chiêu cho 3 đạo quân tấn công vào nước Thục. Với chiến thuật phối hợp của Đặng Ngải và Chung Hội, quân đội nước Nguỵ nhanh chóng chiếm được Hán Trung và thẳng tiến đến Thành Đô. Hậu chủ Lưu Thiện lập tức đầu hàng, đánh dấu kết thúc cho sự kháng cự cuối cùng của hoàng tộc nhà Hán.

Hậu chủ Lưu Thiện được đưa đến thủ đô của nước Nguỵ là Lạc Dương và được phong làm An Lạc công, sống cuộc đời còn lại một cách thanh bình.

Các hoàng đế nhà Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Tây Hán (202 TCN - 8)[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu hiệu/Thụy hiệu Họ tên Niên hiệu Trị vì
Hán Cao Tổ Cao Hoàng Đế Lưu Bang Không có 202 TCN - 195 TCN
Hán Hiếu Huệ Hoàng Đế Lưu Doanh Không có 195 TCN - 188 TCN
Hán Tiền Thiếu Hoàng Đế Lưu Cung Không có 188 TCN - 184 TCN
Hán Hậu Thiếu Hoàng Đế Lưu Hồng Không có 184 TCN - 180 TCN
Hán Thái Tông Hiếu Văn Hoàng Đế Lưu Hằng Kiến Nguyên (179 TCN - 164 TCN)
Hậu Nguyên (163 TCN - 157 TCN)
180 TCN - 157 TCN
Hán Hiếu Cảnh Hoàng Đế Lưu Khải Tiền Nguyên (156 TCN - 150 TCN)
Trung Nguyên (149 TCN - 144 TCN)
Hậu Nguyên (143 TCN - 141 TCN)
157 TCN - 141 TCN
Hán Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế Lưu Triệt Kiến Nguyên (140 TCN - 135 TCN)
Nguyên Quang (134 TCN - 129 TCN)
Nguyên Sóc (128 TCN - 123 TCN)
Nguyên Thú (122 TCN - 117 TCN)
Nguyên Đỉnh (116 TCN - 111 TCN)
Nguyên Phong (110 TCN - 105 TCN)
Thái Sơ (104 TCN - 101 TCN)
Thiên Hán (100 TCN - 97 TCN)
Thái Thủy (96 TCN - 93 TCN)
Diên Hòa/Chính Hòa (92 TCN - 89 TCN)
Hậu Nguyên (88 TCN - 87 TCN)
141 TCN - 87 TCN
Hán Trung Tông Hiếu Chiêu Hoàng Đế Lưu Phất Lăng Thủy Nguyên (87 TCN - 80 TCN)
Nguyên Phượng (80 TCN - 75 TCN)
Nguyên Bình (74 TCN)
87 TCN - 74 TCN
Hán Xương Ấp Vương Lưu Hạ Tiền Phế Đế 27 ngày năm 74 TCN
Hán Trung Tông Hiếu Tuyên Hoàng Đế Lưu Tuân Nguyên Bình (74 TCN)
Bàn Thủy (73 TCN - 70 TCN)
Địa Tiết (69 TCN - 66 TCN)
Nguyên Khang (65 TCN - 61 TCN)
Thần Tước (61 TCN - 58 TCN)
Ngũ Phượng (57 TCN - 54 TCN)
Cam Lộ (53 TCN - 50 TCN)
Hoàng Long (49 TCN)
74 TCN - 49 TCN
Hán Cao Tông Hiếu Nguyên Hoàng Đế Lưu Thích Sơ Nguyên (48 TCN - 44 TCN)
Vĩnh Quang (43 TCN - 39 TCN)
Kiến Chiêu (38 TCN - 34 TCN)
Cánh Ninh (33 TCN)
48 TCN - 33 TCN
Hán Thống Tông Hiếu Thành Hoàng Đế Lưu Ngao Kiến Thủy (32 TCN - 28 TCN)
Hà Bình (28 TCN - 25 TCN)
Dương Sóc (24 TCN - 21 TCN)
Hồng Gia (20 TCN - 17 TCN)
Vĩnh Thủy (16 TCN - 13 TCN)
Nguyên Đình (12 TCN - 9 TCN)
Tuy Hòa (9 TCN - 7 TCN)
32 TCN - 7 TCN)
Hán Hiếu Ai Hoàng Đế Lưu Hân Kiến Bình (6 TCN - 3 TCN)
Nguyên Thọ (2 TCN - 1 TCN)
6 TCN - 1 TCN
Hán Hiếu Bình Hoàng Đế Lưu Khản Nguyên Thủy (1 - 5) 1 TCN - 5
Hán Nhũ Tử Anh Lưu Anh Hậu Phế Đế 5 - 8 và 25

Thời kì đứt quãng (8 - 25)[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu hiệu/Thụy hiệu Họ tên Niên hiệu Trị vì
Hán Canh Thủy Hoàng Đế Lưu Huyền Canh Thủy (23 - 25) 23 - 25
Hán Kiến Thế Hoàng Đế Lưu Bồn Tử Kiến Thủy (25 - 27) 25 - 27

Nhà Đông Hán (25 - 220)[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu hiệu/Thụy hiệu Họ tên Niên hiệu Trị vì
Hán Thế Tổ Quang Vũ Hoàng Đế Lưu Tú Kiến Vũ (25 - 56)
Kiến Vũ Trung Nguyên (56 - 57)
25 - 57
Hán Hiển Tông Minh Hoàng Đế Lưu Dương/Lưu Trang Vĩnh Bình (58 - 75) 57 - 75
Hán Túc Tông Hiếu Chương Hoàng Đế Lưu Đát Kiến Sơ (76 - 84)
Nguyên Hòa (84 - 87)
Chương Hòa (87 - 88)
76 - 88
Hán Mục Tông Hiếu Hòa Hoàng Đế Lưu Triệu Vĩnh Nguyên (89 - 3/105)
Nguyên Hưng (4/105 - 12/105)
88 - 105
Hán Hiếu Thương Hoàng Đế Lưu Long Duyên Bình (106) 106
Hán Cung Tông Hiếu An Hoàng Đế Lưu Hỗ Vĩnh Sơ (107 - 113)
Nguyên Sơ (114 - 120)
Vĩnh Ninh (120 - 121)
Kiến Quang (121 - 122)
Diên Quang (122 - 125)
106 - 125
Hán Tiền Thiếu Hoàng Đế / Bắc Hương Hầu Lưu Ý Không có 125
Hán Kính Tông Hiếu Thuận Hoàng Đế Lưu Bảo Vĩnh Kiến (126 - 132)
Dương Gia (132 - 135)
Vĩnh Hòa (136 - 141)
Hán An (142 - 144)
Kiến Khang (144)
125 - 144
Hán Hiếu Xung Hoàng Đế Lưu Bỉnh Vĩnh Gia (145) 145
Hán Hiếu Chất Hoàng Đế Lưu Toản Bản Sơ (146) 145 - 146
Hán Uy Tông Hiếu Hoàn Hoàng Đế Lưu Chí Kiến Hòa (147 - 149)
Hòa Bình (150)
Nguyên Gia (151 - 153)
Vĩnh Hưng (153 - 154)
Vĩnh Thọ (155 - 158)
Diên Hy (158 - 167)
Vĩnh Khang (167)
146 - 167
Hán Hiếu Linh Hoàng Đế Lưu Hoằng Kiến Ninh (168 - 172)
Hy Bình (172 - 178)
Quang Hòa (178 - 184)
Trung Hòa (184 - 189)
167 - 189
Hán Hậu Thiếu Hoàng Đế / Hoằng Nông Vương Lưu Biện Quang Hy (189)
Chiêu Ninh (189)
189
Hán Hiếu Hiến Hoàng Đế Lưu Hiệp Vĩnh Hán (9/189 - 12/189)
Trung Bình (12/189)
Sơ Bình (190 - 193)
Hưng Bình (194 - 195)
Kiến An (196 - 2/220)
Diên Khang (3/220 - 10/220)
189 - 220

Nhà Thục Hán (220 - 263)[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu hiệu/Thụy hiệu Họ tên Niên hiệu Trị vì
Hán Chiêu Liệt Hoàng Đế Lưu Bị Chương Vũ (221 - 223) 221 - 223
Hán Hiếu Hoài Hoàng Đế Lưu Thiện Kiến Hưng (223 - 237)
Diên Hi (238 - 257)
Cảnh Diệu (258 - 263)
Viêm Hưng (263)
223 - 263

Thế phả nhà Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D (tháng 12 năm 2006). “East-West Orientation of Historical Empires”. Journal of world-systems research 12 (2): 219–229. ISSN 1076–156x. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Nishijima (1986), 595–596.
  3. ^ Chu (2003), 34.
  4. ^ Schaefer (2008), 279.
  5. ^ Antoninus Pius mất năm 161 nên ông không thể đến thăm Trung Quốc vào năm 166 được

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]