Vương Chính Quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vương Chính Quân
王政君
Hoàng hậu nhà Hán
Tại vị 48 TCN - 33 TCN
Tiền nhiệm Hiếu Tuyên Vương hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Thành Hứa hoàng hậu
Hoàng thái hậu nhà Hán
Tại vị 33 TCN - 7 TCN
Tiền nhiệm Hiếu Tuyên Vương thái hậu
Kế nhiệm Hiếu Thành Triệu thái hậu
Thái hoàng thái hậu nhà Hán
Tại vị 7 TCN - 8
Tiền nhiệm Hiếu Tuyên Vương Thái hoàng thái hậu
Kế nhiệm Phó Thái hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Hán Nguyên Đế
Hậu duệ Hán Thành Đế
Tên đầy đủ Vương Chính Quân (王政君)
Thụy hiệu Hiếu Nguyên hoàng hậu
孝元皇后
Thân phụ Dương Bình hầu Vương Cấm
Thân mẫu Lý Thân
Sinh 71 TCN
Hàm Đan
Mất 13 (84 tuổi)

Vương Chính Quân (chữ Hán: 王政君; 71 TCN-13), thụy hiệu: Hiếu Nguyên hoàng hậu (孝元皇后), là Hoàng hậu duy nhất của Hán Nguyên Đế nhà Tây Hán, thân mẫu của Hán Thành Đế trong lịch sử Trung Quốc.

Hoàng hậu Vương Chính Quân có vai trò quan trọng trong suốt các triều đại của Hán Nguyên Đế, Hán Thành Đế, Hán Ai Đế, Hán Bình ĐếNhũ Tử Anh. Bà được các sử gia đánh giá là nhân đức, khiêm nhường, ra sức bảo vệ nhà Tây Hán, không theo phe cháu trai mình là gian thần Vương Mãng (王莽).

Tuy nhiên, lỗi lầm của bà đối với triều đại này chính là việc quá trọng dụng ngoại thích họ Vương như Vương Phượng (王凤), dẫn tới lũng đoạn triều chính của nhà Hán.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Hán thư, Vương Chính Quân là dòng dõi Tế Bắc vương Điền An thời Hán Sở. Điền An là cháu Tề vương Kiến thời Chiến Quốc, tham gia chống Tần và được Hạng Vũ phong làm Tế Bắc vương. Sau đó Tế Bắc vương bị Tề vương Điền Vinh tiêu diệt nhưng dòng dõi vẫn ở lại nước Tề. Vì Điền An đã làm "vương" nên người nước Tề vẫn gọi là "vương gia", con cháu lấy Vương làm họ[1].

Cụ nội Vương Chính Quân là Vương Toại là cháu nội của Điền An, thời Hán Văn Đế cư trú tại huyện Bình Lăng, Sơn Đông. Vương Toại sinh ra Vương Hạ, làm Tú y nội sử thời Hán Vũ Đế. Cha Vương Chính Quân là Vương Cấm giữ chức Đình uý sử nhà Tây Hán.

Vương Cấm lấy Lý Thân sinh ra Vương Chính Quân năm 71 TCN.

Nhập cung Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Vương Chính Quân đến tuổi lấy chồng, Vương Cấm dạm mối mấy nhà, nhưng khi chưa kịp làm hôn lễ thì người chồng sắp cưới đều chết bất đắc kỳ tử. Sau đó Vương Cấm nhận lời hứa hôn với Đông Bình vương cho bà về làm thiếp. Đông Bình vương chuẩn bị sính lễ xong nhưng chưa kịp chọn ngày lành để làm lễ cưới thì cũng qua đời[2].

Vương Cấm rất lo buồn bèn mời thày tướng về xem. Ông thày tướng nói với Vương Cấm rằng Vương Chính Quân tướng mạo khác thường, sẽ có phú quý tột bậc. Vì vậy Vương Cấm cho con gái học hành cầm, kỳ, thi, họa để đợi dịp gặp người quyền quý.

Năm 54 TCN, có lệnh tuyển cung nữ từ 13 đến 20 tuổi. Vương Chính Quân trong số các cô gái ở huyện Nguyên Thành được chọn vào cung.

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thái tử Lưu Thích đã có vợ chính là Tư Mã Lương Đệ. Năm 52 TCN, Tư Mã Lương Đệ ốm qua đời, Lưu Thích rất đau buồn thành bệnh. Hán Tuyên Đế lo lắng, bèn sai Vương hoàng hậu[3] chọn ra một số cung nữ để an ủi thái tử.

Vương hoàng hậu chọn ra 5 người mang đến trước mặt Tuyên Đế và thái tử, trong đó có Vương Chính Quân. Thái tử Thích vì còn tưởng nhớ đến Tư Mã Lương Đệ nên không để ý đến những người đứng trước mặt, chỉ đáp lấy lệ:

Trong ấy có một người là được

Lúc đó Vương Chính Quân đứng gần thái tử nhất, lại là người duy nhất mặc áo màu đỏ khác với 4 người kia, nên Vương hoàng hậu nghĩ rằng thái tử chọn Vương Chính Quân, bèn sai bà vào hầu thái tử[4]. Chỉ qua một lần ân ái, Vương Chính Quân có thai. Năm 51 TCN, bà sinh được con trai là Lưu Ngao[4].

Năm Lưu Ngao lên 2 tuổi, Hán Tuyên Đế qua đời (49 TCN), thái tử Thích lên nối ngôi, tức là Hán Nguyên Đế. Năm 48 TCN, bà được phong làm Hoàng hậu, Lưu Ngao được phong làm Hoàng thái tử.

Tuy nhiên sau đó bà không còn được Hán Nguyên Đế sủng ái. Thái tử Lưu Ngao lớn lên củng chỉ mải chơi bời. Nguyên Đế không bằng lòng, muốn phế bà và thái tử Ngao để lập người con thứ là Định Đào vương Lưu Khang (劉康) làm thái tử. Đại thần Sử Đan (史丹) cương quyết phản đối việc thay thái tử, hết sức can gián, thêm vào đó Vương hoàng hậu tính tình ôn hòa cẩn thận chưa từng mắc lỗi gì, do đó Nguyên Đế thôi ý định thay thái tử.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Mở đường cho ngoại thích[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 33 TCN, Hán Nguyên Đế mất, thái tử Ngao lên nối ngôi, tức là Hán Thành Đế. Vương thái hậu phong cho hàng loạt anh em trong nhà mình làm đại thần, nắm quyền điều hành triều đình nhà Hán: Dương Bình hầu Vương Phượng làm Đại tư mã, Vương Thương (王商) làm Thành An hầu, Vương Căn (王根) làm Quan nội hầu.

Năm 27 TCN, Vương thái hậu lại phong cho 5 người em tước hầu chỉ trong 1 ngày, vì vậy mọi người gọi là "ngũ hầu". Anh em họ Vương nắm hết quyền hành, Hán Thành Đế chỉ có ngôi vua trên danh nghĩa.

Thành Đế chơi bời mắc bệnh, không có con nối dõi, muốn lấy em là Định Đào vương Lưu Khang làm người kế vị, nhưng bị họ Vương gạt đi. Vương Phượng mượn chuyện xảy ra nhật thực ép Thành Đế đuổi Lưu Khang về nước Định Đào, Thành Đế đành chịu.

Đại thần Vương Chương tức giận vì sự chuyên quyền của ngoại thích, bèn kiến nghị Thành Đế bãi chức họ. Vương Phượng bèn tranh thủ sự ủng hộ của Vương thái hậu gây sức ép với Thành Đế khiến Thành Đế phải xin lỗi mẫu hậu, bắt giam Vương Chương. Chương bị chết trong ngục.

Năm 22 TCN, Vương Phượng qua đời, Vương Chính Quân cho Vương Âm (王音) kế chức Đại tư mã. Năm 15 TCN, Vương Âm mất, Vương thái hậu cho Vương Thương nối chức. Vương Thương sau đó bị bệnh xin nghỉ, thái hậu lại cho Vương Căn thay thế.

Giành lại quyền từ tay ngoại thích mới[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số các anh em của Vương thái hậu có một người là Vương Mạn mất sớm. Mạn có một người con là Vương Mãng. Năm 22 TCN, Vương Phượng trước khi mất đã tiến cử Vương Mãng với Vương thái hậu, thái hậu phong cho Mãng làm quan trong triều.

Năm 8 TCN, Vương Căn cáo lão xin nghỉ, Vương Mãng được thay chức Đại tư mã, cùng 3 người anh em khác của Vương thái hậu làm chủ triều chính. Năm 7 TCN, Hán Thành Đế vì hoang dâm nên mất sớm. Thành Đế không có con nên Vương thái hậu lập con của Định Đào vương Lưu Khang (em Thành đế) là Lưu Hân lên nối ngôi, tức là Hán Ai Đế. Vương Chính Quân được tôn là thái hoàng thái hậu.

Do sự cạnh tranh của ngoại thích mới họ Phó và họ Đinh (bên ngoại nhà Lưu Khang) nên Vương Mãng và họ Vương bị đẩy ra ngoài triều đình. Hai phu nhân họ đó được tôn lên làm Phó thái hoàng thái hậu và Đinh thái hậu, ngang hàng với Vương Chính Quân. Nhưng không lâu sau cả hai người đều qua đời, bản thân Hán Ai Đế vì hoang dâm quá độ, bị bệnh qua đời khi mới 25 tuổi, cũng không có con nối.

Nhân lúc Ai Đế chết, Vương Chính Quân đến ngay cung Vị Ương giữ lấy ngọc tỷ truyền quốc, triệu gấp Vương Mãng vào cung bàn việc[5]. Theo lời kiến nghị của Vương Mãng, bà bãi chức hết những người thân thích của họ Phó và họ Đinh cùng Đại tư mã Đổng Hiền. Đổng Hiền là người phe họ Phó, biết chuyện bèn tự sát luôn ngày hôm đó. Vương Chính Quân phong Vương Mãng trở lại làm Đại tư mã.

Vương thái hoàng thái hậu cùng Vương Mãng lập cháu của Hán Nguyên Đế, con của Trung Sơn Hiếu vương Lưu Hưng là Lưu Diễn mới 9 tuổi lên nối ngôi, tức là Hán Bình Đế. Vương Chính Quân lại xưng là Thái hậu như cũ, cử Vương Mãng làm phụ chính.

Mất ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ thanh trừng những người ngoại thích họ khác, Vương Mãng còn đối phó cả với những người cùng họ cản đường thăng tiến của mình. Vương Mãng hạch tội em Vương Chính Quân là Vương Lập, xin bà bãi chức Lập. Vương Chính Quân thương em nên chần chừ không ra lệnh. Cuối cùng Vương Mãng gây sức ép buộc bà lệnh cho Vương Lập rời kinh đô. Sau đó Vương Mãng lại dùng cách tương tự, kiến nghị bà đuổi một người cùng họ khác là Bình A hầu Vương Nhân[6].

Biết Vương Chính Quân tuổi già thích hưởng lạc, Vương Mãng hàng năm đưa bà đi tuần du thiên hạ cùng các phu nhân vương hầu. Mùa hạ đi xa tránh nắng, mùa thu đi Hoàng Sơn, Côn Minh hồ, mùa đông lên Trường Bình xem cảnh tuyết rơi. Đến đâu Vương Mãng cũng ban tặng tiền bạc cho nhân dân sở tại để mọi người ca ngợi mình, khiến cho bà càng thêm tin tưởng Vương Mãng là người đức độ, giao hết quyền hành[7].

Vương Mãng tiến dần tới việc cướp ngôi nhà Hán. Năm 5 TCN, Vương Mãng đầu độc giết Hán Bình Đế, lập cháu 5 đời của Tuyên Đế là Lưu Anh mới 2 tuổi lên ngôi, tức là Nhũ Tử Anh. Năm 8, Vương Mãng phế Nhũ Tử Anh làm Định An công và lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Tân.

Vương Chính Quân nắm giữ ngọc tỷ truyền quốc, Vương Mãng sai người vào đòi. Lúc đó bà mới tỉnh ngộ rằng ngôi quyền quý bà có là nhờ họ Lưu chứ không phải họ Vương. Bà khóc mắng Vương Mãng là gian thần[8], rồi cầm ngọc tỷ ném xuống đất. Ngọc tỷ bị ném mạnh nên sứt một góc, Vương Mãng phải sai lấy vàng khảm vào chỗ đó.

Tính từ khi nhập cung năm 18 tuổi tới khi không còn ở ngôi thái hậu năm 80 tuổi, Vương Chính Quân là người phụ nữ lên đến ngôi vị hoàng hậu ở trong cung nhà Tây Hán lâu nhất, trải qua 62 năm (54 TCN-8) thuộc 6 đời vua (Tuyên Đế, Nguyên Đế, Thành Đế, Ai Đế, Bình Đế, Nhũ Tử Anh)[9]: vào cung 5 năm, làm tiệp dư 3 năm, làm hoàng hậu 13 năm, làm thái hậu và thái hoàng thái hậu 41 năm. Tính từ khi được phong làm hoàng hậu năm 46 TCN tới năm 8 khi mất ngôi, bà có 54 năm trên ngôi vị hoàng hậu, thái hậu và thái hoàng thái hậu, là người phụ nữ tại vị lâu nhất ở 3 cương vị này[9].

Sau khi xưng Tân Đế, Vương Mãng sợ danh hiệu thái hoàng thái hậu của bà khiến thiên hạ tưởng nhớ nhà Hán nên đổi gọi danh hiệu của bà là Văn mẫu (文母).

Năm 13 thời nhà Tân, Vương Chính Quân qua đời, thọ 84 tuổi. Mười năm sau (23), Vương Mãng bị lật đổ, nhà Hán được khôi phục.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1, NXB Văn hoá thông tin
  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, NXB Đà Nẵng
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Tôn Nhan (1997), Hậu phi truyện, NXB Phụ nữ

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 74
  2. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 75
  3. ^ Hoàng hậu không phải là mẹ đẻ của thái tử. Sau khi mẹ đẻ thái tử là Hứa Bình Quân bị nhà họ Hoắc sát hại, Hoắc Thành Quân con gái Hoắc Quang trở thành hoàng hậu, là mẹ kế của thái tử nhưng sau bị phế và Vương thị được làm hoàng hậu
  4. ^ a ă Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 77
  5. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 532
  6. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 538
  7. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 93
  8. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 274
  9. ^ a ă Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 76, 96