Hán Tuyên Đế
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Hán Tuyên Đế (chữ Hán: 漢宣帝; 91 TCN – 49 TCN), tên thật là Lưu Tuân [1] (劉詢), là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 74 đến năm 49 TCN. Dưới thời ông, triều Hán duy trì được sự thịnh trị.
Mục lục |
[sửa] Lên ngôi
Lưu Tuân là cháu 4 đời của Hán Vũ Đế, ông nội là Lệ thái tử Lưu Cứ của Hán Vũ Đế. Hán Vũ Đế tin dùng hoạn quan Giang Sung, vu hãm mẹ con Vệ hoàng hậu và thái tử Lưu Cứ khiến Lưu Cứ sợ hãi nổi dậy làm loạn không thành và bị giết.
Con Lưu Cứ là Lưu Tiến chính là cha của Lưu Tuân. Mẹ ông là Vương phu nhân.
Năm 74 TCN, Hán Chiêu Đế mất, Xương Ấp vương Lưu Hạ lên ngôi. Do Lưu Hạ chơi bời sa đọa, làm nhiều việc vô đạo nên chỉ làm vua 27 ngày thì bị đại thần phụ chính Hoắc Quang phế truất. Hoắc Quang lập Lưu Tuân là cháu nội của thái tử Lưu Cứ lên ngôi, tức là vua Hán Tuyên Đế.
[sửa] Thế phả nhà Hán
|
|
|
|
1 Hán Cao Tổ ?-195TCN 256-195TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
5 Hán Văn Đế 180-157TCN 202–157TCN |
|
Lưu Cứ |
|
Lưu Bác |
|
2 Hán Huệ Đế 194-188TCN 210–188TCN |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
6 Hán Cảnh Đế 157-141TCN 188–141TCN |
|
Lưu Tiến |
|
9 Xương Ấp Vương 74-74TCN ?-59TCN |
|
3 Hán Tiền Thiếu Đế 188-184TCN ?–184TCN |
|
4 Hán Hậu Thiếu Đế 184-180TCN ?–180TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
7 Hán Vũ Đế 140-87TCN 156-87TCN |
|
10 Hán Tuyên Đế 74-49TCN 91-49TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
8 Hán Chiêu Đế 95–74TCN 87-74TCN |
|
11 Hán Nguyên Đế 76–33TCN 49-33TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Lưu Khang |
|
Lưu Hưng |
|
Lưu Hiển |
|
12 Hán Thành Đế 33–7TCN 51-7TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
13 Hán Ai Đế 7–1TCN 26-1TCN |
|
14 Hán Bình Đế 9TCN–5SCN 1TCN-5SCN |
|
15 Nhũ Tử Anh 5–8 25–25 5–25 |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
[sửa] Cai trị
[sửa] Đối nội
Lưu Tuân được sử sách mô tả là người tinh thông Đạo Lão và ít chuộng Nho giáo[2].
Khi làm vua, Tuyên Đế chú trọng việc dùng người tài, áp dụng những chính sách khoan thứ sức dân, giảm nhẹ các khoản thuế khóa và mở mang giáo dục. Nhờ đó, nhà Hán tiếp tục thời kỳ thịnh trị sau Vũ Đế và Chiêu Đế.
Để củng cố bộ máy hành chính, Tuyên Đế thực hiện tuyển lựa quan lại một cách chặt chẽ, nhất là quận thú các quận và quan lại bậc cao. Mặt khác, ông tăng bổng lộc của các quan bậc thấp lên gấp rưỡi[3].
Tuy làm được nhiều việc có lợi cho quốc gia nhưng Tuyên Đế cũng phạm phải sai lầm. Ông nghe lời gièm pha và giết hại các hiền thần như Hán Diên Thọ, Triệu Nghiễm Thần, Dương Uẩn, Cái Quảng Tiễn[4].
[sửa] Đối ngoại
Để yên ổn biên giới phía bắc, Tuyên Đế giữ chính sách thân thiện với Hung Nô. Lúc đó Hung Nô xảy ra nội loạn: Thiền vu Hô Hàn Tà bị anh là Chất Chi đánh bại, muốn giao hảo với nhà Hán, bèn viết thư xin gặp Tuyên Đế.
Tuyên Đế nhận lời. Khi Hô Hàn Tà đến, ông thân hành ra đón tiếp ngoài thành Tràng An và mở yến tiệc chiêu đãi. Sau đó Hô Hàn Tà ở lại Tràng An hơn 1 tháng.
Khi Hô Hàn Tà trở về, Hán Tuyên Đế sai 1 vạn quân đi hộ tống về đến tận Mạc Nam và biếu hơn 30 vạn đấu lương.
Nhờ chính sách hòa hoãn của Tuyên Đế, không chỉ Hung Nô mà nhiều quốc gia khác ở Tây Vực cũng thân thiện với nhà Hán[5].
[sửa] Trừ họ Hoắc
Đại thần Hoắc Quang được Hán Vũ Đế ủy nhiệm làm phụ chính qua 3 đời vua, có nhiều công lao và tỏ ra lộng quyền. Ngoài việc đưa cháu gái vào làm vợ Hán Chiêu Đế (Thương Quan hoàng hậu) trước đây, đối với Tuyên Đế, gia đình họ Hoắc cũng tìm cách gây ảnh hưởng để khống chế. Vợ Hoắc Quang mua chuộc ngự y đầu độc giết chết vợ Tuyên Đế là hoàng hậu Hứa Bình Quân và đưa con gái là Hoắc Thành Quân vào cung thay chỗ. Từ đó uy thế họ Hoắc trong triều càng lớn.
Sau khi Hoắc Quang chết, con là Hoắc Ngẫu thay chức, các cháu cũng được vào triều làm quan, phong tước hầu. Nhưng họ Hoắc còn muốn giết thái tử Lưu Thích là con Hứa hậu đã bị hại để hy vọng con Hứa hậu sẽ thay ngôi. Âm mưu bại lộ, họ Hoắc lại định dựa vào Thương Quan hoàng hậu (vợ Chiêu Đế, cũng là con Hoắc Quang) để mưu làm phản, đưa cháu Hoắc Quang là Hoắc Sơn lên ngôi vua.
Tuyên Đế biết âm mưu đó, bèn bắt chém ngay Hoắc Ngẫu và bắt Hoắc Sơn, Hoắc Vân tự sát. Sau đó gia đình họ Hoắc và thủ hạ đều bị xử tội. Hoắc hậu bị phế truất. Thế lực họ Hoắc bị đánh đổ hoàn toàn.
[sửa] Qua đời
Năm 49 TCN, Hán Tuyên Đế qua đời, hưởng dương 42 tuổi. Ông ở ngôi 25 năm, dùng các niên hiệu:
- Nguyên Bình (74 TCN) [6]
- Bản Thủy (73-70 TCN)
- Địa Tiết (69-66 TCN)
- Nguyên Khang (65-61 TCN)
- Thần Tước (61-58 TCN) [7]
- Ngũ Phượng (57-54 TCN)
- Cam Lộ (53-50 TCN)
- Hoàng Long (49 TCN)
Ông được tôn miếu hiệu là Trung Tông, thụy hiệu là Hiếu Tuyên hoàng đế, thường gọi là Tuyên Đế.
Tuyên Đế mất, Thái tử Lưu Thích năm đó 29 tuổi lên ngôi, tức là Hán Nguyên Đế.
[sửa] Gia quyến
- Cha: Lưu Tiến (劉進), con Lệ thái tử Lưu Cứ thời Hán Vũ Đế
- Mẹ: Vương quý nhân
- Vợ
- Hoàng hậu Hứa Bình Quân, bị ám hại năm 71 TCN
- Hoàng hậu Hoắc Thành Quân - con gái Hoắc Quang, bị phế năm 66 TCN, bị buộc tự sát năm 54 TCN
- Vương hoàng hậu (mất năm 16 TCN)
- Các con trai:
- Thái tử Lưu Thích (劉詢), sau là Hán Nguyên Đế
- Lưu Khâm (劉欽) - Hoài Dương vương (lập năm 63 TCN, mất năm 27 TCN)
- Lưu Hiêu (劉囂) - Định Đào vương (lập năm 52 TCN, mất năm 47 TCN)
- Lưu Vũ (劉宇) - Đông Bình vương (lập năm 52 TCN, mất năm 19 TCN)
- Lưu Cánh (劉竟) - Thanh Hà vương (lập năm 47 TCN, mất năm 35 TCN)
[sửa] Xem thêm
[sửa] Tham khảo
- Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, NXB Đà Nẵng
- Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
- Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Hoa, NXB Giáo dục
[sửa] Chú thích
- ^ Có người phiên âm là Lưu Tuấn
- ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 69
- ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 70
- ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 72
- ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 71
- ^ Niên hiệu Nguyên Bình thời Hán Chiêu Đế vẫn tiếp tục dùng thêm 6 tháng (từ tháng 7 đến tháng 12 năm 74 TCN) sau khi Hán Chiêu Đế qua đời
- ^ Niên hiệu này bắt đầu được sử dụng từ tháng 3 năm 61 TCN. Hai tháng đầu năm 61 niên hiệu Nguyên Khang vẫn được dùng
|
||||||||||||||