Hán Tuyên Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Tuyên Đế
漢宣帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Tây Hán
Trị vì  74 TCN49 TCN
Tiền nhiệm Xương Ấp Vương
Kế nhiệm Hán Nguyên Đế
Thê thiếp Hiếu Tuyên Hứa hoàng hậu
Hiếu Tuyên Hoắc hoàng hậu
Hiếu Tuyên Vương hoàng hậu
Tên thật
Lưu Tuân (劉詢)
Thụy hiệu Hiếu Tuyên hoàng đế
Miếu hiệu Trung Tông
Triều đại Nhà Hán
Thân phụ Lưu Tiến
Thân mẫu Vương phu nhân
Sinh 91 TCN
Mất 49 TCN
Trung Quốc
An táng Đỗ Lăng

Hán Tuyên Đế (chữ Hán: 漢宣帝; 91 TCN – 49 TCN), tên thật là Lưu Tuân [1] (劉詢), là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 74 đến năm 49 TCN. Dưới thời ông, triều Hán duy trì được sự thịnh trị.

Mục lục

[sửa] Lên ngôi

Lưu Tuân là cháu 4 đời của Hán Vũ Đế, ông nội là Lệ thái tử Lưu Cứ của Hán Vũ Đế. Hán Vũ Đế tin dùng hoạn quan Giang Sung, vu hãm mẹ con Vệ hoàng hậu và thái tử Lưu Cứ khiến Lưu Cứ sợ hãi nổi dậy làm loạn không thành và bị giết.

Con Lưu Cứ là Lưu Tiến chính là cha của Lưu Tuân. Mẹ ông là Vương phu nhân.

Năm 74 TCN, Hán Chiêu Đế mất, Xương Ấp vương Lưu Hạ lên ngôi. Do Lưu Hạ chơi bời sa đọa, làm nhiều việc vô đạo nên chỉ làm vua 27 ngày thì bị đại thần phụ chính Hoắc Quang phế truất. Hoắc Quang lập Lưu Tuân là cháu nội của thái tử Lưu Cứ lên ngôi, tức là vua Hán Tuyên Đế.

[sửa] Thế phả nhà Hán


 
 
 
1
Hán Cao Tổ
?-195TCN
256-195TCN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
5
Hán Văn Đế
180-157TCN
202–157TCN
 

Lưu Cứ
 

Lưu Bác
 
2
Hán Huệ Đế
194-188TCN
210–188TCN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
6
Hán Cảnh Đế
157-141TCN
188–141TCN
 

Lưu Tiến
 
9
Xương Ấp Vương
74-74TCN
?-59TCN
 
3
Hán Tiền Thiếu Đế
188-184TCN
?–184TCN
 
4
Hán Hậu Thiếu Đế
184-180TCN
?–180TCN
 
 
 
 
 
 
 
 
7
Hán Vũ Đế
140-87TCN
156-87TCN
 
10
Hán Tuyên Đế
74-49TCN
91-49TCN
 
 
 
 
 
 
 
 
8
Hán Chiêu Đế
95–74TCN
87-74TCN
 
11
Hán Nguyên Đế
76–33TCN
49-33TCN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lưu Khang
 
Lưu Hưng
 
Lưu Hiển
 
12
Hán Thành Đế
33–7TCN
51-7TCN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
13
Hán Ai Đế
7–1TCN
26-1TCN
 
14
Hán Bình Đế
9TCN–5SCN
1TCN-5SCN
 
15
Nhũ Tử Anh
5–8
25–25
5–25

[sửa] Cai trị

[sửa] Đối nội

Lưu Tuân được sử sách mô tả là người tinh thông Đạo Lão và ít chuộng Nho giáo[2].

Khi làm vua, Tuyên Đế chú trọng việc dùng người tài, áp dụng những chính sách khoan thứ sức dân, giảm nhẹ các khoản thuế khóa và mở mang giáo dục. Nhờ đó, nhà Hán tiếp tục thời kỳ thịnh trị sau Vũ Đế và Chiêu Đế.

Để củng cố bộ máy hành chính, Tuyên Đế thực hiện tuyển lựa quan lại một cách chặt chẽ, nhất là quận thú các quận và quan lại bậc cao. Mặt khác, ông tăng bổng lộc của các quan bậc thấp lên gấp rưỡi[3].

Tuy làm được nhiều việc có lợi cho quốc gia nhưng Tuyên Đế cũng phạm phải sai lầm. Ông nghe lời gièm pha và giết hại các hiền thần như Hán Diên Thọ, Triệu Nghiễm Thần, Dương Uẩn, Cái Quảng Tiễn[4].

[sửa] Đối ngoại

Để yên ổn biên giới phía bắc, Tuyên Đế giữ chính sách thân thiện với Hung Nô. Lúc đó Hung Nô xảy ra nội loạn: Thiền vu Hô Hàn Tà bị anh là Chất Chi đánh bại, muốn giao hảo với nhà Hán, bèn viết thư xin gặp Tuyên Đế.

Tuyên Đế nhận lời. Khi Hô Hàn Tà đến, ông thân hành ra đón tiếp ngoài thành Tràng An và mở yến tiệc chiêu đãi. Sau đó Hô Hàn Tà ở lại Tràng An hơn 1 tháng.

Khi Hô Hàn Tà trở về, Hán Tuyên Đế sai 1 vạn quân đi hộ tống về đến tận Mạc Nam và biếu hơn 30 vạn đấu lương.

Nhờ chính sách hòa hoãn của Tuyên Đế, không chỉ Hung Nô mà nhiều quốc gia khác ở Tây Vực cũng thân thiện với nhà Hán[5].

[sửa] Trừ họ Hoắc

Đại thần Hoắc Quang được Hán Vũ Đế ủy nhiệm làm phụ chính qua 3 đời vua, có nhiều công lao và tỏ ra lộng quyền. Ngoài việc đưa cháu gái vào làm vợ Hán Chiêu Đế (Thương Quan hoàng hậu) trước đây, đối với Tuyên Đế, gia đình họ Hoắc cũng tìm cách gây ảnh hưởng để khống chế. Vợ Hoắc Quang mua chuộc ngự y đầu độc giết chết vợ Tuyên Đế là hoàng hậu Hứa Bình Quân và đưa con gái là Hoắc Thành Quân vào cung thay chỗ. Từ đó uy thế họ Hoắc trong triều càng lớn.

Sau khi Hoắc Quang chết, con là Hoắc Ngẫu thay chức, các cháu cũng được vào triều làm quan, phong tước hầu. Nhưng họ Hoắc còn muốn giết thái tử Lưu Thích là con Hứa hậu đã bị hại để hy vọng con Hứa hậu sẽ thay ngôi. Âm mưu bại lộ, họ Hoắc lại định dựa vào Thương Quan hoàng hậu (vợ Chiêu Đế, cũng là con Hoắc Quang) để mưu làm phản, đưa cháu Hoắc Quang là Hoắc Sơn lên ngôi vua.

Tuyên Đế biết âm mưu đó, bèn bắt chém ngay Hoắc Ngẫu và bắt Hoắc Sơn, Hoắc Vân tự sát. Sau đó gia đình họ Hoắc và thủ hạ đều bị xử tội. Hoắc hậu bị phế truất. Thế lực họ Hoắc bị đánh đổ hoàn toàn.

[sửa] Qua đời

Năm 49 TCN, Hán Tuyên Đế qua đời, hưởng dương 42 tuổi. Ông ở ngôi 25 năm, dùng các niên hiệu:

  • Nguyên Bình (74 TCN) [6]
  • Bản Thủy (73-70 TCN)
  • Địa Tiết (69-66 TCN)
  • Nguyên Khang (65-61 TCN)
  • Thần Tước (61-58 TCN) [7]
  • Ngũ Phượng (57-54 TCN)
  • Cam Lộ (53-50 TCN)
  • Hoàng Long (49 TCN)

Ông được tôn miếu hiệuTrung Tông, thụy hiệuHiếu Tuyên hoàng đế, thường gọi là Tuyên Đế.

Tuyên Đế mất, Thái tử Lưu Thích năm đó 29 tuổi lên ngôi, tức là Hán Nguyên Đế.

[sửa] Gia quyến

  • Cha: Lưu Tiến (劉進), con Lệ thái tử Lưu Cứ thời Hán Vũ Đế
  • Mẹ: Vương quý nhân
  • Vợ
  • Các con trai:
    • Thái tử Lưu Thích (劉詢), sau là Hán Nguyên Đế
    • Lưu Khâm (劉欽) - Hoài Dương vương (lập năm 63 TCN, mất năm 27 TCN)
    • Lưu Hiêu (劉囂) - Định Đào vương (lập năm 52 TCN, mất năm 47 TCN)
    • Lưu Vũ (劉宇) - Đông Bình vương (lập năm 52 TCN, mất năm 19 TCN)
    • Lưu Cánh (劉竟) - Thanh Hà vương (lập năm 47 TCN, mất năm 35 TCN)

[sửa] Xem thêm

[sửa] Tham khảo

  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, NXB Đà Nẵng
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Hoa, NXB Giáo dục

[sửa] Chú thích

  1. ^ Có người phiên âm là Lưu Tuấn
  2. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 69
  3. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 70
  4. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 72
  5. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 71
  6. ^ Niên hiệu Nguyên Bình thời Hán Chiêu Đế vẫn tiếp tục dùng thêm 6 tháng (từ tháng 7 đến tháng 12 năm 74 TCN) sau khi Hán Chiêu Đế qua đời
  7. ^ Niên hiệu này bắt đầu được sử dụng từ tháng 3 năm 61 TCN. Hai tháng đầu năm 61 niên hiệu Nguyên Khang vẫn được dùng