Tây Vực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Tây Vực (chữ Hán: 西域 | Xi-yu hoặc Hsi-yu) là cách người Trung Quốc ngày xưa gọi các nước nằm ở phía Tây của Trung Quốc. Tây Vực ứng với tỉnh Tân Cương ngày nay.

Không rõ người Trung Quốc bắt đầu dùng từ Tây Vực với nghĩa trên từ thời nào. Sách Sử ký của Tư Mã Thiên có đề cập đến các nước ở phía Tây, nhưng không gọi họ là Tây Vực. Sách Hán Thư, phần Tây Vực Truyền có lẽ là tài liệu đầu tiên dùng từ Tây Vực. Mặc dù phần Tây Vực Truyền của Hán Thư khi đề cập đến khu vực còn nhắc tới cả những nước mà nay chính là Kyrgyzstan, Ấn Độ, Iran, v.v... Song theo miêu tả về địa lý của Tây Vực trong sách này, thì Tây Vực được bao bọc bởi những dãy núi lớn, giữa có sông, khoảng cách Đông-Tây chừng hơn sáu nghìn dặm, khoảng cách Bắc-Nam khoảng hơn một nghìn dặm. Như vậy, Tây Vực theo Hán Thư có thể chính là bồn địa Tarim ở Tân Cương. Sau này, các chính sử Trung Quốc đều đề cập đến Tây Vực mà phạm vi địa lý không khác gì Hán Thư đã miêu tả.

Vào thế kỷ 18, nhà Thanh đã chinh phục hoàn toàn Tây Vực và đặt nó dưới sự quản lý hành chính của chính quyền trung ương Trung Quốc. Năm 1884, khu vực này được đặt thành một tỉnh của Trung Quốc, chính là Tân Cương.

Công cụ cá nhân