Hà Bắc (Trung Quốc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
河北省
Hà Bắc tỉnh
Tên tắt: 冀 Ký (bính âm: Jì)
Xuất xứ tên gọi 河 hà - Hoàng Hà
北 - bắc
"phía bắc Hoàng Hà"
Kiểu hành chính tỉnh
Bangladesh Bhutan Nepal Myanma Lào Việt Nam Thái Lan Philippines Nhật Bản Triều Tiên Hàn Quốc Kyrgyzstan Kazakhstan Mông Cổ Afghanistan Uzbekistan Tajikistan Pakistan Ấn Độ Nga Pakistan Ấn Độ Ấn Độ Đài Loan Tân Cương Tây Tạng Ma Cao Hồng Kông Hải Nam Quảng Đông Quảng Tây Hồ Nam Vân Nam Phúc Kiến Thượng Hải Giang Tây Chiết Giang Giang Tô Hồ Bắc An Huy Quý Châu Trùng Khánh Thiểm Tây Hà Nam Sơn Tây Sơn Đông Hà Bắc Bắc Kinh Thiên Tân Ninh Hạ Liêu Ninh Cát Lâm Tứ Xuyên Tây Tạng Hắc Long Giang Cam Túc Thanh Hải Tân Cương Nội MôngVị trí tại Trung Quốc
Thông tin về hình này
Thủ phủ
thành phố lớn nhất
Thạch Gia Trang
Bí thư tỉnh ủy Hà Bắc Chu Bản Thuận 周本顺
Tỉnh trưởng Trương Khánh Vĩ 张庆伟
Diện tích 187.693 km² (thứ 12)
Dân số (2010)
 - Mật độ
71.854.202 (thứ 6)
383/km² (thứ 12)
GDP (2011)
 - trên đầu người
2,4516 nghìn tỉ NDT (thứ 6)
33.969 NDT (thứ 14)
HDI (2005) 0,810 (thứ 10) — cao
Các dân tộc chính (2000) Hán - 96%
Mãn - 3%
Hồi - 0,8%
Mông Cổ - 0,3%
Ngôn ngữ và phương ngôn Quan thoại Kí-Lỗ, phương ngữ Bắc Kinh, tiếng Tấn
Cấp địa khu 11
Cấp huyện 172
Cấp hương
(31 tháng 12, 2004)
2207
ISO 3166-2 CN-13
Website chính thức:
http://www.hebei.gov.cn
(chữ Hán giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382

Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255

Hà Bắc (tiếng Trung: 河北; bính âm: ; bính âm bưu chính: Hopeh) là một tỉnh nằm ở phía bắc của Trung Quốc. Giản xưng của Hồ Bắc là "", theo tên Kí châu thời nhà Hán, châu này bao gồm khu vực nay là nam bộ Hà Bắc. Tên gọi Hà Bắc ám chỉ đến việc tỉnh nằm ở phía bắc của Hoàng Hà.[1]

Năm 1928, chính phủ Trung Quốc đã đổi tên tỉnh Trực Lệ thành Hà Bắc. Bắc KinhThiên Tân sau được tách khỏi Hà Bắc. Hà Bắc giáp với Liêu Ninh ở phía đông bắc, Nội Mông ở phía bắc, Sơn Tây ở phía tây, Hà Nam ở phía nam, và Sơn Đông ở phía đông nam. Bột Hải nằm ở phía đông của tỉnh. Một phần nhỏ của Hà Bắc bị tách rời với phần còn lại của tỉnh, xen giữa là địa phận của Bắc Kinh và Thiên Tân.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng bình nguyên Hà Bắc là quê hương của người vượn Bắc Kinh, một nhóm người đứng thẳng sinh sống tại khu vực từ khoảng 200.000 đến 700.000 năm trước. Các phát hiện khảo cổ về thời đại đồ đá mới đã được tìm thất trong di chỉ Bắc Phúc Địa (北福地遗址) ở huyện Dịch có niên đại từ 7000 TCN đến 8000 TCN.[2]

Trong thời Xuân Thu, Hà Bắc chủ yếu nằm dưới quyền cai trị của hai nước lớn là nước Yên ở phía bắc và nước Tấn ở phía nam. Đến năm 414 TCN, một nhóm người Bắc Địch đã tiến vào vùng bình nguyên Hoa Bắc và thành lập nước Trung Sơn ở trung bộ Hà Bắc. Sang thời Chiến Quốc, nước Tấn bị phân chia, và phần lớn lãnh thổ của nó tại Hà Bắc thuộc về nước Triệu.

Nhà Tấn thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN. Thời nhà Hán cai trị, khu vực Ha Bắc thuộc hai châu: U châu (幽州) ở bắc bộ và Kí châu (冀州) ở nam bộ. Vào cuối thời Hán, hầu hết khu vực Hà Bắc nắm dưới quyền kiểm soát của quân phiệt Công Tôn Toản ở phía bắc và Viên Thiệu xa về phía nam; Viên Thiệu đã giành chiến thắng trong cuộc chiến giữa hai bên, song ngay sau đó ông ta lại thất bại trước kình địch Tào Tháo trong trận Quan Độ năm 200. Sang thời Tam Quốc, Hà Bắc nằm trong cương vực của Tào Ngụy do hậu duệ của Tào Tháo lập nên.

Tượng sư tử 1500 năm tuổi tại Thương Châu

Sau khi các dân tộc du mục phương Bắc xâm nhập Trung Hoa, tiêu diệt Tây Tấn, nối tiếp là các thời đại hỗn loạn Ngũ Hồ thập lục quốcNam-Bắc triều. Hà Bắc nằm sâu trong miền Bắc Trung Quốc và ở ngay biên giới phía bắc, đã qua tay nhiều chế độ: Hậu Triệu, Tiền Yên, Tiền Tần, và Hậu Yên. Bắc Ngụy đã tái thống nhất Trung Quốc vào năm 440, song nó đã bị chia đôi vào năm 534, Hà Bắc thuộc Đông NgụyBắc Tề sau này, hai triều đại này định đô ở Nghiệp thành, gần Lâm Chương của Hà Bắc ngày nay.

Nhà Tùy đã thống nhất Trung Quốc vào năm 589. Kế tiếp nhà Tuỳ là nhà Đường, và dưới triều đại này, tên gọi "Hà Bắc đạo" với ý chỉ vùng đất phía bắc Hoàng Hà đã được đặt chính thức lần đầu tiên. An Lộc Sơn từng nhậm chức Phạm Dương tiết độ sứ (cai quản khu vực Bảo Định của Hà Bắc và Bắc Kinh hiện nay), những năm cuối Thiên Bảo, An Lộc Sơn đã khởi binh phản Đường từ nơi này. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, Hà Bắc bị phân chia giữa một vài chế độ như Yên hay Triệu, song cuối cùng đã thống nhất dưới quyền cai quản của Lý Tồn Úc- người sáng lập nên triều Hậu Đường. Triều đại kế tiếp Hậu Đường là Hậu Tấn, năm 937, Hậu Tấn Cao Tổ đã nhượng phần lớn bắc bộ Hà Bắc ngày nay cho triều Liêu của người Khiết Đan, vùng đất này được gọi là Yên Vân thập lục châu, việc cắt nhượng này trở thành một nguyên nhân chính khiến khả năng phòng thủ của Trung Nguyên suy yếu trước người Khiết Đan trong thế kỷ sau đó, vì nó nằm trong Vạn Lý Trường Thành.

Trong thời Bắc Tống (960–1127), 16 châu nhượng cho Liêu trước đây tiếp tục là một khu vực tranh chấp nóng bỏng giữa Tống và Liêu. Triều Kim của người Nữ Chân đã lật đổ triều Liêu vào năm 1125. Năm 1127, triều Tống đã phải nhượng toàn bộ miền Bắc Trung Quốc, bao gồm nam bộ Hà Bắc, cho triều Kim. Thời Kim, Hà Bắc phân thuộc Hà Bắc Đông lộ, Hà Bắc Tây lộ, Trung Đô phủ lộ.

miếu Tông Thừa Phổ ĐàThừa Đức, được xây dựng vào năm 1771 dưới thời trị vì của Càn Long Đế.

Triều Nguyên của người Mông Cổ sau khi tiêu diệt Kim và Nam Tống đã chia toàn quốc thành các đẳng xứ hành trung thư tỉnh, riêng khu vực Hà Bắc thuộc Trung thư tỉnh do triều đình Trung ương Nguyên ở Đại Đô trực tiếp quản lý. Triều Minh sau khi thay thế triều Nguyên và dời đô từ Nam Kinh đến Bắc Kinh đã định khu vực Hà Bắc là "Bắc Trực Lệ", nằm dưới quyền cai quản trực tiếp của triều đình Trung ương Minh. Đến khi triều Thanh của người Mãn đoạt lấy quyền lực vào năm 1644, họ bãi bỏ Nam Trực Lệ (ở khu vực quanh Nam Kinh), và Hà Bắc được gọi là "Trực Lệ". Dưới thời Thanh, ranh giới phía bắc của Trực Lệ trải dài sâu vào khu vực nay thuộc Nội Mông.

Triều Thanh sụp đổ vào năm 1912 và được Trung Hoa Dân Quốc thay thế. Trong vòng một vài năm, Trung Quốc đã rơi vào nội chiến, với các quân phiệt khu vực tranh giành quyền lực. Do Trực Lệ rất gần thủ đô Bắc Kinh, nó là nơi diễn ra nhiều trận chiến thường xuyên, bao gồm chiến tranh Trực-Hoàn năm 1920, chiến tranh Trực-Phụng lần thứ nhất năm 1922 và chiến tranh Trực-Phụng lần thứ hai vào năm 1924. Đến khi chính phủ Quốc dân tiến hành Bắc phạt thành công, chấm dứt nạn quân phiệt, thủ đô được chuyển từ Bắc Kinh đến Nam Kinh. Do vậy, tên gọi của tỉnh đã được đổi thành Hà Bắc để phản ánh thực tế.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Hà Bắc đã có một số thay đổi về ranh giới: khu vực quanh Thừa Đức- nguyên là một phần của tỉnh Nhiệt Hà, và khu vực quanh Trương Gia Khẩu- nguyên là một phần của tỉnh Sát Cáp Nhĩ, đã được hợp nhất vào Hà Bắc, ranh giới phía bắc của tỉnh vì thế cũng vượt sang phía bắc Trường Thành. Tỉnh lị cũng được chuyển từ Bảo Định đến Thạch Gia Trang, và cũng từng chuyển đến Thiên Tân trong một thời gian ngắn.

Ngày 28 tháng 7 năm 1976, đã xảy ra động đất Đường Sơn 1976 khiến ít nhất 242.769 người chết[3] và khoảng 164.000 người bị thương rất nặng.[4]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Lang Nha Sơn (狼牙山) tại huyện Dịch.

Hầu hết trung bộ và nam bộ Hà Bắc thuộc bình nguyên Hoa Bắc. Tây bộ Hà Bắc dốc lên Thái Hành Sơn, trong khi Yên Sơn chạy qua bắc bộ Hà Bắc, bên ngoài dãy núi này là vùng thảo nguyên Nội Mông. Vạn Lý Trường Thành cắt qua bắc bộ Hà Bắc từ đông sang tây, vào trong ranh giới của Bắc Kinh một đoạn ngắn, và kết thúc ở Sơn Hải quan thuộc đông bắc Hà Bắc. Đỉnh cao nhất Hà Bắc là Tiểu Ngũ Đài Sơn (小五台山) tại tây bắc Hà Bắc, với cao độ 2882 m.

Hà Bắc giáp với Bột Hải ở phía đông. Lưu vực Hải Hà bao trùm phần lớn trung bộ và nam bộ Hà Bắc, và lưu vực Loan Hà bao trùm phần đông bắc. Nếu không tính rất nhiều hồ chứa trên các vùng đồi núi của Hà Bắc, hồ lớn nhất tại Hà Bắc là Bạch Dương điến (白洋淀), nằm hầu hết ở huyện An Tân.

Hà Bắc có khí hậu lục địa gió mùa, với mùa đông lạnh và khô cùng mùa hè nóng và ẩm. Nhiệt độ bình quân của Hà Bắc là −16 đến −3 °C (3 đến 27 °F) vào tháng 1 và 20 đến 27 °C (68 đến 81 °F) vào tháng 7; lượng giáng thủy bình quân hàng năm dao động từ 400 đến 800 milimét (16 đến 31 in)[Chuyển đổi: Tùy chọn không hợp lệ], tập trung rất nhiều vào mùa hè.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Bắc được chia thành 11 đơn vị hành chính cấp địa khu, và tất cả đều là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị):

Bản đồ # Tên Thủ phủ Hán tự
Bính âm
Dân số (2010) Diện tích
(km²)
Thạch Gia Trang Hàm Đan Hành Thủy Hình Đài Trương Gia Khẩu Thừa Đức Lang Phường Lang Phường Đường Sơn Tần Hoàng ĐảoNhấp vào để xem các địa cấp thị của Hà Bắc
Thông tin về hình này


Địa cấp thị
1 Thạch Gia Trang Trường An 石家庄市
Shíjiāzhuāng Shì
10.163.788 15.848
2 Bảo Định Tân Thị 保定市
Bǎodìng Shì
11.194.379 22.185
3 Thương Châu Vận Hà 沧州市
Cāngzhōu Shì
7.134.053 13.419
4 Thừa Đức Song Kiều 承德市
Chéngdé Shì
3.473.197 39.702
5 Hàm Đan Tùng Đài 邯鄲市
Hándān Shì
9.174.679 12.062
6 Hành Thủy Đào Thành 衡水市
Héngshǔi Shì
4.340.773 8.815
7 Lang Phường An Thứ 廊坊市
Lángfāng Shì
4.358.839 6.429
8 Tần Hoàng Đảo Hải Cảng 秦皇島市
Qínhuángdǎo Shì
2.987.605 7.812
9 Đường Sơn Lộ Nam 唐山市
Tángshān Shì
7.577.284 13.472
10 Hình Đài Kiều Đông 邢台市
Xíngtái Shì
7.104.114 12.439
11 Trương Gia Khẩu Kiều Tây 张家口市
Zhāngjiākǒu Shì
4.345.491 36.829

Các đơn vị hành chính cấp địa khu trên đây được chia thành 172 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 22 thị xã (huyện cấp thị), 108 huyện, 6 huyện tự trị và 36 quận (thị hạt khu). Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 2207 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 1 khu công sở, 937 thị trấn (trấn), 979 hương, 55 hương dân tộc, và 235 phường (nhai đạo).

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cánh đồng trên thảo nguyên ở huyện Vi Trường.

Năm 2011, GDP của Hà Bắc là 2,40 nghìn tỉ NDT (379 triệu USD),[5] tăng 11% so với năm trước và xếp thứ 6 tại Trung Quốc. GDP đầu người đạt 24.428 NDT. Thu nhập khả dụng bình quân đầu người của các khu vực đô thị là 13.441 NDT, trong khu thu nhập thuần bình quân của khu vực nông thôn là 4.795 NDT. khu vực một, khu vực hai, và khu vực ba của nền kinh tế đóng góp tương ứng 203,46 tỉ, 877,74 tỉ, và 537,66 tỉ NDT.

40% lực lượng lao động của Hà Bắc làm việc trong các lĩnh vực nông-lâm-mục nghiệp, với lớn sản phẩm của các ngành này được đưa đến Bắc Kinh và Thiên Tân[6] Các loại nông sản chính của Hà Bắc là các cây lương thực gồm lúa mì, ngô, , và lúa miến. Các loại cây công nghiệp như sợi bông, lạc, đậu tươngvừng cũng được trồng.

Khai Loan (Kailuan, 开滦), với lịch sử trên 100 năm, là một trong các mỏ than đá hiện đại đầu tiên của Trung Quốc, và vẫn còn là một mỏ than đá lớn với sản lượng hàng năm là trên 20 triệu tấn. Phần lớn vùng dầu Hoa Bắc nằm tại Hà Bắc, và tỉnh cũng có các mỏ sắt lớn tại Hàm Đan và Thiên An. Gang, cũng như thép, ngành chế tạo là các ngành công nghiệp lớn nhất tại Hà Bắc, và có vẻ như các ngành này vẫn được củng cố vững chắc và Hà Bắc tiếp tục phát triển như là một trung tâm chế tạo và giao thông của khu vực.[6]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Tiêu tháp (凌霄塔) thuộc huyện Chính Định, được xây dựng vào năm 1045 dười thời nhà Tống.

Dân cư Hà Bắc hầu hết là người Hán, các dân tộc thiểu số gồm có người Mông Cổ, người Mãnngười Hồi. Hà Bắc cũng là tỉnh có số tín đồ Công giáo lớn nhất tại Trung Quốc với gần 1 triệu người. Năm 2004, tỷ suất sinh của Hà Bắc là 11,98/1.000 dân, trong khi tỷ suất tử là 6,19/1.000 dân. Tỷ số giới tính là 104,52 nam trên 100 nữ.

Quan thoại là ngôn ngữ bản địa tại hầu hết Hà Bắc, hầu hết các phương ngữ Quan thoại tại Hà Bắc được phân thuộc nhóm Quan thoại Kí-Lỗ. Tuy nhiên, các khu vực dọc theo ranh giới phía tây với tỉnh Sơn Tây, lại nói các phương ngữ mà các nhà ngôn ngữ học xem là đủ để phân chúng thuộc tiếng Tấn- một nhánh của tiếng Trung Quốc độc lập với Quan thoại. Nhìn chung, các phương ngữ tại Hà Bắc khá tương đồng và dễ hiểu với phương ngữ Bắc, các địa phương ở phía bắc Bắc Kinh còn được xem là thuộc phương ngữ Bắc Kinh. Tuy nhiên, cũng có một số khác biệt nhất định, như khác biệt trong cách phát âm ở một số từ nhất định có nguồn gốc từ âm tiết nhập thanh (âm tiết kết thúc với một âm bật) trong tiếng Hán trung cổ.

Dân tộc tại Hà Bắc, điều tra năm 2000
Dân tộc Số người Tỷ lệ
Người Hán 63.781.603 95,65%
Người Mãn 2.118.711 3,18%
Người Hồi 542.639 0,78%
Người Mông Cổ 169.887 0,26%
Người Choang 20.832 0,031%

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Các thể loại hí khúc truyền thống tại Hà Bắc bao gồm Bình kịch (评剧), Hà Bắc Bang tử (河北梆子), và Thương Châu Khoái bản Đại cổ (沧州快板大鼓). Bình kịch đặc biệt phổ biến vì nó có xu hướng thông tục trong ngôn ngữ và do đó làm cho khán giả dễ hiểu. Bắt nguồn từ đông bắc Hà Bắc, Bình kịch chịu ảnh hưởng từ các loại hình hí khúc khác như Kinh kịch. Bình kịch truyền thống chỉ có một tiểu sinh, một tiểu đán, và một tiểu hoa liệm, song nó cũng đa dạng hóa với việc dùng các vai nhân vật khác. Khúc Dương ở trung bộ Hà Bắc nổi tiếng với "đồ sứ Định Châu", với các loại đồ như bát, đĩa, bình, và chén, cũng như các tượng nhỏ. Đồ sứ Định Châu thường có màu trắng kem, song cũng có các màu khác. Ẩm thực Hà Bắc có điểm đặc trưng là dựa trên các nguyên liệu: lúa mì, thịt cừu và đậu.

Các trường đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học Y khoa Hà Bắc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “趣味文字:中国各省及自治区名称历史由来和变化”. 人民日报. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  2. ^ “New Archaeological Discoveries and Researches in 2004 -- The Fourth Archaeology Forum of CASS”. Institute of Archaeology, Chinese Academy of Social Sciences. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2007. 
  3. ^ “Earthquakes with 50,000 or More Deaths”. USGS. 14 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2012. 
  4. ^ Stoltman, Joseph P. Lidstone, John. Dechano, M. Lisa. [2004] (2004). International Perspectives On Natural Disasters. Springer publishing. ISBN 1-4020-2850-4
  5. ^ http://www.china-briefing.com/news/2012/01/27/chinas-provincial-gdp-figures-in-2011.html
  6. ^ a ă http://thechinaperspective.com/topics/province/hebei-province/