Quảng Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 23°24′B 113°30′Đ / 23,4°B 113,5°Đ / 23.4; 113.5

Quảng Đông
广东省
Quảng Đông tỉnh
Tên tắt: 粤 (Việt) (bính âm: Yuè)
Xuất xứ tên gọi 广 quảng - tên vùng
东 - đông
"Quảng phía đông"
Kiểu hành chính Tỉnh
Bangladesh Bhutan Nepal Myanma Lào Việt Nam Thái Lan Philippines Nhật Bản Triều Tiên Hàn Quốc Kyrgyzstan Kazakhstan Mông Cổ Afghanistan Uzbekistan Tajikistan Pakistan Ấn Độ Nga Pakistan Ấn Độ Ấn Độ Đài Loan Tân Cương Tây Tạng Ma Cao Hồng Kông Hải Nam Quảng Đông Quảng Tây Hồ Nam Vân Nam Phúc Kiến Thượng Hải Giang Tây Chiết Giang Giang Tô Hồ Bắc An Huy Quý Châu Trùng Khánh Thiểm Tây Hà Nam Sơn Tây Sơn Đông Hà Bắc Bắc Kinh Thiên Tân Ninh Hạ Liêu Ninh Cát Lâm Tứ Xuyên Tây Tạng Hắc Long Giang Cam Túc Thanh Hải Tân Cương Nội MôngVị trí tại Trung Quốc
Thông tin về hình này
Thủ phủ
thành phố lớn nhất
Quảng Châu
Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (胡春华)
Tỉnh trưởng Chu Tiểu Đan (朱小丹)
Diện tích 179.800 km² (thứ 15)
Dân số (2010)
 - Mật độ
105.050.000 (thứ 1)
584/km² (thứ 7)
GDP (2011)
 - trên đầu người
5,32 nghìn tỉ NDT (838,60 tỉ USD)[1] NDT (thứ nhất)
50.295 NDT (7.787 USD) NDT (thứ 7)
HDI (2008) 0,844 (thứ 4) — cao
Các dân tộc chính (2000) Hán - 99%
Choang - 0,7%
Dao - 0,2%
Ngôn ngữ và phương ngôn tiếng Quảng Đông, tiếng Mân (tiếng Triều Châutiếng Lôi Châu), tiếng Khách Gia, tiếng Thiều Châu
Cấp địa khu 21
Cấp huyện 121
Cấp hương
(31 tháng 12, 2004)
1642
ISO 3166-2 CN-44
Website chính thức:
http://www.gd.gov.cn
(chữ Hán giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382

Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255
Quảng Đông
Giản thể: 广东
Phồn thể: 廣東

Quảng Đông là một tỉnh nằm ven bờ biển Đông của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quảng Đông đã vượt qua Hà NamTứ Xuyên để trở thành tỉnh đông dân nhất Trung Quốc vào năm 2005, với 79 triệu cư dân thường trú có hộ khẩu và 31 triệu người nhập cư đã sống ít nhất 6 tháng tại tỉnh.[2][3] Tỉnh lị của Quảng Đông là Quảng Châu, đại đô thị này cùng với trung tâm kinh tế Thâm Quyến nằm trong số các thành phố đông dân và quan trọng nhất tại Trung Quốc. Vùng châu thổ Châu Giang là khu vực siêu đô thị lớn nhất thế giới.[4]

Từ năm 1989, Quảng Đông đã đứng đầu về Tổng sản phẩm nội địa (GDP) so với các đơn vị cấp tỉnh khác, xếp sau đó lần lượt là Giang TôSơn Đông. Theo thống kê sơ bộ hàng năm cấp tỉnh,[5] GDP của Quảng Đông vào năm 2010 đạt 4.550 tỉ NDT, hay 689,02 tỉ USD, tương đương với quy mô của các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ hay Indonesia.[6] Theo số liệu năm 2011, Quảng Đông xếp thứ bảy trên tiêu chí GDP bình quân đầu người so với các tỉnh thành khác tại đại lục Trung Quốc.[7][8]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

"Quảng" có nghĩa là rộng rãi và có liên quan tới khu vực thời Nhà Tấn. "Quảng Đông" có nghĩa là phía đông rộng rãi, Quảng Đông và Quảng Tây được gọi chung là "Lưỡng Quảng" (兩廣 liăng guăng). Tên viết tắt hiện nay của Quảng Đông là "Việt" 粵/粤 (Yue), liên quan đến "Bách Việt" (百粤), một tên chung chỉ các dân tộc sống ở Quảng Đông và các khu vực xung quanh vào thời xưa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Đông có vị trí xa trung tâm nền văn minh Trung Hoa cổ đại ở đồng bằng phía bắc Trung Hoa. Thời đấy, đây là nơi sinh sống của các tộc người được gọi chung là "Bách Việt" (百粤), các tộc người có lẽ là Tai-Kadai có liên quan đến dân tộc Choang ở tỉnh Quảng Tây.

Vùng đất này thuộc sự quản lý của chính quyền trung ương Trung Quốc bắt đầu từ thời nhà Tần - triều đại thống nhất đế chế Trung Hoa, đã mở rộng về phía nam và lập nên Quận Nam Hải (南海郡) tại Phiên Ngung (番禺), ngày nay gần Quảng Châu. Quận này đã từng là một nước Nam Việt độc lập giữa thời kỳ nhà Tần sụp đổ và Hán Vũ Đế lên cai trị Trung Hoa. Nhà Hán cai trị Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt Nam (hay Đại Việt với tên gọi là Giao Châu (交州). Dưới thời Đông Ngô thuộc thời kỳ Tam Quốc, Quảng Đông được Đông Ngô lập thành một tỉnh - đó là tỉnh Quảng Châu (廣州) vào năm 226.

Trải qua thời gian dài, cơ cấu dân cư của khu vực này thay đổi dần dần, dẫn đến người Hán chiếm đa số, đặc biệt là sau nhiều đợt di cư lớn từ phương bắc trong các thời kỳ bất ổn chính trị do các bộ lạc du mục phía bắc Trung Hoa quấy nhiễu kể từ khi nhà Hán sụp đổ trở về sau. Ví dụ như cuộc binh biến do An Lộc Sơn lãnh đạo dẫn đến việc tăng 75% dân số của tỉnh Quảng Châu giữa những năm 740-750 và giai đoạn 800-810.[9]. Khi người Hán đến đây đông hơn, dân địa phương đã dần bị đồng hóa theo văn hóa Trung Hoa.[10], hoặc bị mai một hẳn văn hóa bản địa.

Cùng với Quảng Tây, Quảng Đông được tạo lập thành một bộ phận của Lĩnh Nam đạo (嶺南道), năm 627 vào thời nhà Đường. Phần Quảng Đông trong Lĩnh Nam Đạo được đổi tên thành Quảng Nam Đông Đạo năm 971 trong thời nhà Tống - đây là sự bắt nguồn của cái tên Quảng Đông.

Khi quân Mông Cổ ở phương bắc xâm lược Trung Hoa vào thế kỷ thứ 13, triều đại Nam Tống rút lui về phía nam, cuối cùng dừng lại ở địa điểm của tỉnh Quảng Đông ngày nay. Hải chiến Nhai Sơn năm 1279 ở Quảng Đông đã kết thúc triều đại Nam Tống. Trong thời nhà Nguyên thuộc Mông Cổ, Quảng Đông là một phần của Giang Tây. Tên gọi Tỉnh Quảng Đông ngày nay được quy định vào giai đoạn đầu của nhà Minh.

Từ thế kỷ 16, Quảng Đông có những mối quan hệ thương mại với thế giới bên ngoài. Các nhà buôn châu Âu đã đến phía bắc thông qua eo biển MalaccaBiển Đông, đặc biệt là các nhà buôn Anh thông qua Quảng Đông. Macao nằm ở bờ nam của Quảng Đông là nơi định cư đầu tiên của người châu Âu ở Trung Quốc từ 1557. Việc buôn bán thuốc phiện thông qua Quảng Châu đã dẫn đến Chiến tranh nha phiến, mở ra một kỷ nguyên ngoại quốc xâm lược và can thiệp vào Trung Hoa. Ngoài Macao là nhượng địa cho Bồ Đào Nha, Hồng Kông thành nhượng địa cho Anh và Quảng Châu Loan cho người Pháp. Vào thế kỷ 19, Quảng Đông cũng là cảng chính cho làn sóng người lao động ra đi đến Đông Nam Á, miền Tây Hoa Kỳ và Canada.

Về mặt lịch sử, nhiều cộng đồng Hoa Kiều xuất thân từ Quảng Đông và đặc biệt là Đài Sơn và cùng với những người di cư từ Hồng Kông, tiếng Quảng Đôngtiếng Đài Sơn (phương ngữ ở Đài Sơn) được gần 10% dân số Trung Quốc sử dụng, có nhiều người Hoa Kiều chiếm tỷ lệ cao hơn tỷ lệ người nói ngôn ngữ này ở Trung Quốc.

Trong thời kỳ những năm 1850, phong trào Thái Bình Thiên Quốc nổ ra ở Quảng Đông. Do là địa phương có tiếp xúc nhiều với phương Tây, Quảng Đông là trung tâm của các phong trào chống Mãn Châu và chống đế quốc. Tôn Trung Sơn cũng xuất phát từ Quảng Đông.

Vào đầu những năm 1920 thời Trung Hoa Dân Quốc, Quảng Đông là bàn đạp để Quốc Dân Đảng chuẩn bị Bắc phạt trong một nỗ lực thống nhất tất cả các địa chủ về dưới quyền kiểm soát của chính quyền trung ương. Học viện Sĩ quan Lục quân Quốc Dân Đảng Trung Quốc đã được xây gần Quảng Châu để huấn luyện các sĩ quan chỉ huy.

Trong những năm gần đây, tỉnh này đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục do có các mối quan hệ kinh tế gần gũi với Hồng Kông giáp giới. Tỉnh này có GDP cao nhất trong các đơn vị cấp tỉnh Trung Quốc. Đảo Hải Nam trước đây là một bộ phận của tỉnh Quảng Đông nhưng được tách ra thành một tỉnh từ năm 1988.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Đông giáp Biển Đông về phía nam và có 4300 km bờ biển. Bán đảo Lôi Châu là vùng cực nam đất liền của tỉnh này. Ở trên Bán đảo Lôi Châu vẫn còn một số núi lửa đang ngừng hoạt động. Đồng bằng châu thổ Châu Giang là nơi tụ hợp của 3 sông thượng lưu là Đông Giang, Tây GiangBắc Giang. Vùng đồng bằng châu thổ này bao gồm hàng trăm hòn đảo nhỏ. Tỉnh Quảng Đông bị chia cắt về mặt địa lý khỏi phía bắc bởi một ít dãy núi có tên gọi chung là Nam Lĩnh (南岭). Đỉnh cao nhất của tỉnh này có độ cao 1600 m so với mực nước biển. Quảng Đông giáp Phúc Kiến về phía đông bắc, Giang TâyHồ Nam về phía bắc, Quảng Tây về phía tây và Hồng Kông, Ma Cao về phía nam. Đảo Hải Nam nằm ngoài khơi tỉnh này gần Bán đảo Lôi Châu. Theo truyền thống, quần đảo Đông Sa thuộc quyền quản lý của tỉnh của tỉnh Quảng Đông, tuy nhiên, hiện nay quần đảo này nằm trong dưới sự kiểm soát của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan.[11]

Các thành phố xung quanh Đồng bằng châu thổ Châu Giang có: Đông Hoàn, Phật Sơn, Quảng Châu, Huệ Châu, Giang Môn, Thâm Quyến, Thuận Đức, Đài Sơn, Trung SơnChâu Hải. Các thành phố khác có: Triều Châu, Trừng Hải, Khai Bình, Nam Hải, Sán Đầu, Thiều Quan, Tân Hội, Đam GiangTriệu Khánh.

Quảng Đông có khí hậu cận nhiệt đới ẩm (phía nam nhiệt đới) với mùa đông ngắn, ôn hòa, khô ráo và mùa hè dài, ẩm và nóng. Nhiệt độ cao nhất trong ngày vào tháng Giêng và tháng 7 là 18 độ C và 33 độ C. Sương mù thì hiếm khi có ở vùng ven biển nhưng có xảy ra một vài ngày ở các vùng sâu trong đất liền.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây cho thấy GDP của tỉnh Quảng Đông qua các năm [12] với đơn vị tính là tỷ nhân dân tệ.

Năm GDP
1980 24.571
1985 55.305
1990 147.184
1995 538.172
2000 966.223
2005 2.170.128

Sau khi phe cộng sản nắm quyền ở Trung Quốc cho đến bắt đầu thời kỳ của Đặng Tiểu Bình năm 1978, Quảng Đông vẫn là một tỉnh nghèo túng dù có vẫn có nền kinh tế ngầm dịch vụ tồn tại. Các chính sách phát triển kinh tế đã khuyến khích sự phát triển công nghiệp ở các tỉnh sâu trong đất liền của Trung Quốc nhưng ít có mối quan hệ giao thông vận tải với Quảng Đông. Chính sách bế quan tỏa cảng kinh tế khiến cho Quảng Đông không thể hiện vai trò là cửa ngõ ra biển.

Chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình đã thay đổi toàn diện nền kinh tế tỉnh này do có lợi thế là cửa ngõ ra biển, vị trí giáp Hồng Kông và có các mối quan hệ lịch sử với Hoa Kiều. Ngoài ra, cho đến những năm 1990, khi chế độ thuế khóa Trung Quốc được cải cách, tỉnh này đã thu lợi từ chính sách áp dụng mức thuế khá thấp ở Quảng Đông do vị thế lịch sử của tỉnh này là một tỉnh lạc hậu về kinh tế trước đó vào thời Mao Trạch Đông.

Mặc dù Thượng Hải được xem như bằng chứng về thành công kinh tế của Trung Quốc, sự bùng nổ kinh tế của Quảng Đông lại là một ví dụ cho việc Trung Quốc đã trở thành một nước hàng đầu về ngành chế tạo dựa trên nền tảng sử dụng nhiều lao động và là nơi thử nghiệm cụ thể để Trung Quốc thấy rõ được ưu và khuyết điểm của mô hình sử dụng nhiều nhân công này. Quảng Đông đã trải qua thời kỳ bùng nổ kinh tế từ những năm 1990 của thế kỷ 20 vào sự bùng nổ này đã lan qua các tỉnh lân cận và đã giúp kéo dân của những tỉnh này quay về. Nền kinh tế của Quảng Đông dựa trên nền tảng ngành chế tạo và xuất khẩu.

Quảng Đông ngày nay là một trong những tỉnh giàu nhất Trung Quốc, GDP cao nhất trong các đơn vị hành chính (trừ Hồng Kông]] và Macao) dù lương người lao động chỉ bắt đầu tăng trong thời gian gần đây do trước kia có những làn sóng lao động di cư từ các tỉnh láng giềng khác đến đây. GDP danh nghĩa là 267,6 tỷ USD, tăng 12,5% mỗi năm. Các ngành công nghiệp sơ cấp, thứ cấp và thứ 3 đạt giá trị 137,46 tỷ NDT, 1,08 ngàn tỷ NDT, và 957,94 tỷ NDT cho mỗi nhóm ngành.[13]. GDP đầu người đã đạt đến con số 23.616 tệ (US$2,912), tăng 84.7% so với năm 2000 [14]. Quảng Đông đóng góp 12% GDP của Trung Quốc [13]. Quảng Đông chiếm 4/6 đặc khu kinh tế của Trung Quốc: Quảng Châu, Thâm Quyến, Sán ĐầuChu Hải. Sự thịnh vượng của Quảng Đông tuy nhiên vẫn tập trung ở Đồng bằng châu thổ Châu Giang.

Cơ cấu dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Dù con số thống kê chính thức thường cho rằng Quảng Đông xếp thứ 4 Trung Quốc về dân số với 80 triệu dân, các thông tin được công bố gần đây [1] cho rằng, có khoảng 30 triệu người nhập cư sống ở Quảng Đông ít nhất là 6 tháng mỗi năm, do đó dân số tỉnh này phải là 110 triệu người, là tỉnh đông dân nhất Trung Quốc. Làn sóng di cư của dân từ tỉnh khác đến tỉnh này, thường được gọi là "dân trôi nổi" là do sự phát triển kinh tế nhanh của Quảng Đông do đó cần nhiều lao động. Quảng Đông chính thức trở thành tỉnh đông dân nhất Trung Quốc từ tháng 1/2005.[15][16]

Do vị trí địa lý giáp Thái Bình Dương, Quảng Đông cũng là quê cha đất tổ của một số lượng lớn Hoa Kiều. Phần lớn những người phu làm đường sắt ở Canada và miền tây Hoa Kỳ là người Quảng Đông. Việc di cư từ tỉnh này đến các nước khác trong những năm gần đây đã giảm xuống cùng với sự thịnh vượng của Quảng Đông nhưng tỉnh này vẫn là một nơi có số lượng lớn người di cư qua Bắc Mỹ. Đa số dân Quảng Đông là người Hán. Có một thiểu số người Dao ở phía bắc. Các dân tộc thiểu số khác có: H'mông, Choang.

Do mật độ dân số cao và tập quán nuôi chung súc vật nên Quảng Đông là nơi khởi phát bệnh SARScúm gà.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm 1980, chính quyền tỉnh Quảng Đông nổi tiếng vì dám chống lại các chỉ đạo của chính quyền trung ương, đặc biệt là các vấn đề kinh tế. Đồng thời, tình hình kinh tế của Quảng Đông đã khiến tỉnh này khác lặng lẽ trong các hoạt động chính trị và kinh tế. Dù phương Tây cho rằng, sự tăng trưởng kinh tế của Quảng Đông trong thời gian gần đây và sự bất đồng ngôn ngữ sẽ dẫn đến ly khai nhưng hầu như không có trường hợp ly khai nào cũng như sự ủng hộ ly khai đáng kể nào ở tỉnh này.

Quan hệ với Hồng Kông và Macao[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù cả Hồng Kông và Macau về mặt lịch sử là một phần của Quảng Đông trước khi trở thành thuộc địa của Anh và bồ Đào Nha, hai thành phố này lại trở thành đặc khu hành chính - ngang cấp tỉnh khi chủ quyền được trao trả cho Trung Quốc. Đạo luật Cơ bản của cả hai đặc khu hành chính nghiêm cấm chính quyền tỉnh can thiệp vào chính trị. Các vấn đề khác như chính sách biên giới và quyền mặt nước có quan hệ đến Hồng Kông và Macao và Trung Hoa đại lục được thương thảo thông qua Đặc khu và tỉnh Quảng Đông. Do các đặc khu là các đơn vị hành chính của Trung Quốc, không bao giờ có xảy ra chuyện chính phủ trung ương lại thương thảo với chính quyền đặc khu. Do đó, chính quyền trung ương cho phép Quảng Đông thực hiện các vấn đề này.

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Đông và vùng Quảng Đông mở rộng có nhiều đài phát thanh và truyền hình. Có một đài phát thanh quốc tế phát tin tức về khu vực này đi khắp thế giới thông qua Hệ thống radio thế giới.

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Đông là một tỉnh đa văn hoá. Vùng trung tâm của tỉnh có dân số nói tiếng Quảng Đông cùng với tiếng Quan Thoại. Khoảng 60 triệu người nói tiếng Quảng Đông và nhiều thứ ngôn ngữ địa phương khác. Quảng Đông cũng nổi tiếng với ẩm thực Quảng Đôngnhạc kịch Quảng Đông.Dân Triều Châu nói tiếng Triều Châungười Khách Gia lại sử dụng tiếng Khách Gia và có ẩm thực Khách Gia.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Các trường cao đẳng và đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Quảng Đông có các đội thể thao lớn như:

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Đông có nhiều thắng cảnh tự nhiên và nhân tạo như núi Đan Hà, di chỉ cung thự nước Nam Việt, mộ Văn Vương Nam Việt...

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xem chi tiết tại Danh sách các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Đông.

Tỉnh Quảng Đông được chia thành 21 thành phố trực thuộc tỉnh (địa cấp thị), trong đó có 2 thành phố cấp phó tỉnh (副省级城市, phó tỉnh cấp thành thị).

Bản đồ # Tên Thủ phủ Hán tự
Bính âm
Dân số (2010)
Guangdong prfc map.png
Thành phố cấp phó tỉnh
9 Quảng Châu Việt Tú 广州市
Guǎngzhōu Shì
12.700.800
21 Thâm Quyến Phúc Điền 深圳市
Shēnzhèn Shì
10.357.938
Thành phố cấp địa khu
1 Thanh Viễn Thanh Thành 清远市
Qīngyuǎn Shì
3.698.394
2 Thiều Quan Trinh Giang 韶关市
Sháoguān Shì
2.826.612
3 Hà Nguyên Nguyên Thành 河源市
Héyuán Shì
2.953.019
4 Mai Châu Mai Giang 梅州市
Méizhōu Shì
4.240.139
5 Triều Châu Phong Khê 潮州市
Cháozhōu Shì
2.669.844
6 Triệu Khánh Đoan Châu 肇庆市
Zhàoqìng Shì
3.918.085
7 Vân Phù Vân Thành 云浮市
Yúnfú Shì
2.360.128
8 Phật Sơn Thiền Thành 佛山市
Fóshān Shì
7.194.311
10 Đông Hoản Nam Thành 东莞市
Dōngguǎn Shì
8.220.237
11 Huệ Châu Huệ Thành 惠州市
Hùizhōu Shì
4.597.002
12 Sán Vĩ Thành khu 汕尾市
Shànwěi Shì
2.935.717
13 Yết Dương Dong Thành 揭阳市
Jiēyáng Shì
5.877.025
14 Sán Đầu Kim Bình 汕头市
Shàntóu Shì
5.391.028
15 Trạm Giang Xích Khảm 湛江市
Zhànjiāng Shì
6.993.304
16 Mậu Danh Mậu Nam 茂名市
Màomíng Shì
5.817.753
17 Dương Giang Giang Thành 阳江市
Yángjiāng Shì
2.421.812
18 Giang Môn Bồng Giang 江门市
Jiāngmén Shì
4.448.871
19 Trung Sơn Đông khu 中山市
Zhōngshān Shì
3.120.884
20 Châu Hải Hương Châu 珠海市
Zhūhǎi Shì
1.560.229

Các địa cấp thị trên quản lý 49 quận, 30 thị xã (huyện cấp thị), 42 huyện và 3 huyện tự trị.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “China’s Provincial GDP Figures in 2011 | China Briefing News”. China-briefing.com. 27 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  2. ^ English people.com.cn
  3. ^ “Chinadaily.com”. Chinadaily.com. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  4. ^ Vidal, John. “UN report: World's biggest cities merging into 'mega-regions'”. The Guardian. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ “preliminary statistics of Guangdong'GDP in 2009”. 210.76.64.38. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  6. ^ “GDP of 31 provinces in China released”. English.peopledaily.com.cn. 26 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  7. ^ 根据IMF2012年10月发布的数据(未更新最新初步核实数据),2011年中国内地GDP总量本币471,563.7亿元,购买力平价折合114,650.8亿国际元(亿国际元),约4.1130人民币折合1国际元。
  8. ^ 以本币人民币核算的人均GDP数据出自《中国统计年鉴2012》(ISBN 978-7-5037-6693-0/C•2752)。汇率年均价:2011年1美元合6.4588元(人民币)。
  9. ^ 中国历史时期人口的分布和迁徙
  10. ^ Phylogeographic Differentiation of Mitochondrial DNA in Han Chinese
  11. ^ “Sovereignty over the Spratly Islands - The China Post 22 June 2009”. Chinapost.com.tw. 22 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  12. ^ official estimates
  13. ^ a ă Xinhua - English
  14. ^ Xinhua - English
  15. ^ People's Daily Online - Guangdong becomes most populous province
  16. ^ Guangdong becomes most populous province