Thái Bình Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Năm đại dương của Trái Đất
Thái Bình Dương

Thái Bình Dương (theo tiếng Latinh: Mare Pacificum, được đặt tên bởi nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan), là đại dương lớn nhất thế giới, bao phủ một phần ba bề mặt Trái Đất, với diện tích 178,684 triệu km² (69,4 triệu mi2). Nó trải dài khoảng 15,500 km (9,600 dặm) từ biển Bering trong vùng Bắc cực đến gần biển Ross của Nam cực (mặc dù đôi khi khu vực ven châu Nam Cực được gọi là Nam Đại Dương). Thái Bình Dương có chiều rộng đông - tây lớn nhất tại vĩ tuyến 5°B, nơi nó trải dài 19,800 km (12,300 mi) từ Indonesia đến bờ biển Colombia. Ranh giới phía tây của biển này thường được đặt tại eo biển Malacca. Điểm thấp nhất Trái Đất tại vực Mariana nằm ở độ sâu 11034 m dưới mặt nước.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hôn trên Thái Bình Dương nhìn từ ISS.

Thái Bình Dương bao phủ gần 1/3 bề mặt của Trái với diện tích 179,6 triệu km2 lớn hơn nhiều so với toàn bộ lục địa của Trái Đất. Kéo dài khoảng 15,500 km (9,600 mi) từ biển BeringBắc Cực đến Nam Băng Dương tại 60°N (các định nghĩa cũ cho rằng nó kéo dài đến biển Ross của Nam Cực), nơi rộng nhất theo hướng đông tây là vĩ độ 5°B, khoảng 19,800 km (12,300 mi) từ Indonesia đến bờ biển của ColombiaPeru, và lớn hơn đường kính của Mặt Trăng 5 lần. Điểm thấp nhất trên Trái Đất nằm trong rãnh Mariana ở độ sâu 10,911 m (35,797 ft). Độ sâu trung bình của Thái Bình Dương là 4,028 ~ 4,188 m (14,000 ft).[1]

Thái Bình Dương bao gồm khoảng 25.000 đảo, đa số các đảo tập trung ở phía nam xích đạo. Nếu tính cả các đảo ngầm thì con số sẽ lớn hơn rất nhiều.

Thái Bình Dương hiện đang thu hẹp do hoạt động kiến tạo (trong khi Đại Tây Dương thì đang mở rộng kích thước), với tốc độ 2–3 cm/năm ở cả 3 phía, tương đương 0,5 km2) một năm.

Cùng với rìa phía tây của Thái Bình Dương có rất nhiều biển, các biển lớn như biển Celebes, biển Coral, Đông Hải, biển Philippine, biển Nhật Bản, biển Đông, biển Sulu, biển Tasman, và Hoàng Hải. Eo biển Malacca nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, và tuyến Drakeeo biển Magellan nối Thái Bình Dương và Đại Tây Dương ở phía đông. Về phía bắc, eo biển Bering nối Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương.

Kinh tuyến thứ 180 nằm giữa Thái Bình Dương, nên nhiều khi người ta phân biệt Tây Thái Bình Dương (gần châu Á) nằm ở Đông Bán cầuĐông Thái Bình Dương (gần châu Mỹ) nằm ở Tây Bán cầu.

Trong suốt chuyến hành trình của Magellan từ eo biển Magellan đến Philippines, nhà thám hiểm thực sự tìm thấy đại dương yên tĩnh. Tuy nhiên, nó không phải lúc nào cũng thế, có rất nhiều cơn bão nhiệt đới đổ bộ trên các đảo của nó. Khu vực xung quanh vành đai Thái Bình Dương có rất nhiều núi lửa và đôi khi bị ảnh hưởng bởi động đấtsóng thần.

Lịch sử thám hiểm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan đã đặt tên cho biển này vào năm 1520. Trong suốt cuộc hành trình của ông từ eo biển Magellan đến Philippines, Magellan đã không gặp trở ngại. Tuy nhiên, Thái Bình Dương không phải lúc nào cũng "thái bình". Nhiều cơn bão đã tàn phá nhiều đảo trên Thái Bình Dương và các khu vực đất liền ven biển có nhiều núi lửa và thường có động đất. Sóng thần, do động đất dưới đáy biển gây ra, đã tàn phá nhiều đảo và phá hủy nhiều làng mạc.

Đặc điểm về nước[sửa | sửa mã nguồn]

Thể tích nước trong Thái Bình Dương ước tính 622 triệu km³. Nhiệt độ nước biến đổi từ nhiệt độ đóng băng ở vùng cực đến khoảng 30 °C (86 °F) ở vùng gần xích đạo. Độ mặn cũng biến đổi theo vĩ độ. Nước ở vùng gần xích đạo ít mặn hơn nước ở vùng có vĩ độ trung bình, do lượng giáng thủy cao quanh năm ở vùng gần xích đạo. Về phía cực ở các vĩ độ ôn hòa, độ mặn cũng thấp, đó là do lượng bốc hơi ít.

Sự chuyển động của nước trong Thái Bình Dương nhìn chung thì cheo chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu và ngược chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu. Dòng hải lưu ở bắc bán cầu chảy về phía tây dọc theo kinh tuyến 15°B do gió mậu dịch, rồi chuyển sang hướng bắc gần Philippines để đến Nhật Bản hay hải lưu Kuroshio.

Đáy biển[sửa | sửa mã nguồn]

Đáy biển ở lòng chảo trung tâm Thái Bình Dương tương đối đồng đều, các khu vực sâu thẳm với độ sâu trung bình khoảng 4270 m. Sự khác biệt ở khu vực lòng chảo là các ngọn núi dưới mặt nước độ dốc lớn và đỉnh bằng. Phần phía tây của nền gồm các rặng núi mọc lên trên mặt biển tạo thành các hòn đảo, như đảo Solomon và New Zealand, và các vực sâu, như vực Mariana, vực Philippine, và vực Tonga. Hầu hết các vực nằm sát với rìa ngoài của thềm lục địa phía tây rộng lớn.

Theo rìa phía đông của lòng chảo Thái Bình Dương là một phần của dãy núi miền trung của đại dương. Khoảng 3000 km trải dài, khoảng 3 km trên mặt nền đại dương bên cạnh.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Bình Dương được hình thành từ đại dương Panthalassa sau khi Pangaea tan vỡ. Không có thời điểm chính xác về sự biến đổi này xảy ra vì sự thay thế đáy biển là một quá trình diễn ra liên tục, tuy nhiên các bản đồ tái tạo lại đáy biển thường đổi tên từ Panthalassa thành Pacific vào khoảng thời gian Đại Tây Dương bắt đầu mở ra.[2][3][4] Đại dương Panthalassic lần đầu tiên mở ra cách đây 750 triệu năm từ sự tách ra của Rodinia,[4] nhưng đáy Thái Bình Dương cổ nhất chỉ khoảng 180 triệu năm tuổi.[5]

Biển[sửa | sửa mã nguồn]

Dọc theo lề Thái Bình Dương có nhiều biển nhỏ, biển lớn nhất là biển Celebes, biển Coral, biển Đông Trung Hoa (East China Sea), biển Nhật Bản, biển Đông, biển Sulu, biển TasmanHoàng Hải. Eo biển Malacca nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương về hướng tây, và eo biển Magellan nối Thái Bình Dương với Đại Tây Dương về hướng đông.

Hải lưu[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Bình Dương có khoảng 25,000 đảo (hơn số đảo của các biển khác hợp lại), phần lớn nằm phía nam của đường xích đạo.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Pacific Ocean". Britannica Concise. 2006. Chicago: Encyclopædia Britannica, Inc.
  2. ^ “Triassic”. Scotese.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ “Late Jurassic”. Scotese.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ a ă “GEOL 102 The Proterozoic Eon II: Rodinia and Pannotia”. Geol.umd.edu. 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  5. ^ “Age of the Ocean Floor”. Geology.about.com. 5 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]