Hạ Ai Cập

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hạ Ai Cập (tiếng Ả Rập: الدلتا‎ al-Diltā) là phần cực bắc nhất của Ai Cập. Nó dùng để chỉ các khu vực màu mỡ của đồng bằng sông Nin, trải dài từ khu vực giữa Thượng Ai CậpĐịa Trung Hải - từ El-Aiyat phía nam của Cairo ngày nay, và Zawyet Dahshur.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay có hai con kênh chính là sông Nile có thông qua đồng bằng sông: một ở phía tây tại Rashid và một ở phía đông tại Damietta.

Trong thời cổ đại Pliny Anh (N.H. 5.11) cho rằng, khi chảy đến đồng bằng sông Nile chia thành bảy nhánh (từ đông sang tây): Pelusiac, Tanitic, Mendesian, Phatnitic, Sebennytic, Bolbitine, và Canopic. Ngày nay, khu vực đồng bằng được tưới nước tốt, với hệ thống kênh chằng chịt. Khí hậu ở Hạ Ai Cập dễ chịu hơn do Thượng Ai Cập chủ yếu để gần với Địa Trung Hải. Nhiệt độ ít cực đoan hơn và lượng mưa phong phú hơn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Ai Cập được gọi là Ta-Mehu có nghĩa là "đất giấy cói." Nó được chia thành 20 quận, huyện được gọi là nomes, với quận đầu tiên là tại el-Lisht. Bởi vì Hạ Ai Cập chủ yếu là vùng cây bụi chưa phát triển, kém phát triển cho cuộc sống của con người và đầy rẫy các loại thực vật như cỏ và các loại thảo mộc, các tổ chức của nomes trải qua một số thay đổi. Thủ phủ của Hạ Ai Cập là Memphis. Nữ thần bảo trợ của nó là nữ thần rắn hổ mang Wadjet. Hạ Ai Cập đã được đại diện bởi Deshret, và biểu tượng của nó là giấy cói và ong.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]