Ramesses II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ramesses II
Pharaông Ai Cập (chi tiết...)
Ramesses II in the Turin Museum24.jpg
Tượng Ramesses II ở Bảo tàng Turin
Tại vị 1279 TCN - 1213 TCN
Tiền nhiệm Seti I
Kế nhiệm Merneptah
Thông tin chung
Phối ngẫu
Hậu duệ
Tên đầy đủ
<
i mn
n
N36
ra
Z1
ms s sw
>

Ramesses (meryamun)
Sự ra đời của Re, (Người yêu quý của Amun)
Tên ngai
<
ra wsr mAat ra stp
n
>

Usermaatre-setepenre
Luật của Re đầy sức mạnh,
Sự lựa chọn của Re
Tên Horus
E1
D44
C10 mr

Kanakht Merymaa
The strong bull, beloved of right, truth.
Horus Vàng
wsr s M4 M4 M4 O29
D444
Z2

Userrenput-aanehktu
Rich in years, great in victories.[1]
Hoàng tộc Vương triều thứ 19
Thân phụ Seti I
Thân mẫu Hoàng hậu Tuya
Sinh 1313 TCN
Mất 1213 TCN
An táng KV7, Thung lũng các vị vua

Ramesses II (cũng được biết đến với tên Ramesses đại đế) hoặc Ramses II, Rameses II, cũng được biết như Ozymandias theo nguồn tiếng Hy Lạp, từ sự chuyển kí tự từ tiếng Hy Lạp sang 1 phần tên ngai của Ramesses, User-maat-re Setep-en-re) là pharaong thứ 3 của Vương triều thứ 19 của Ai Cập. Ông được ghi nhận là một trong những pharaong vĩ đại, quyền lực và được ca tụng nhiều nhất trong lịch sử Ai Cập cổ[2]. Những nhà văn người Hy Lạp cổ đại như Herodotus cho rằng những thành công của ông dẫn tới huyền thoại về Sesostris. Ông còn được nhiều người tin là Pharaong trong cuốn Exodus. Những người thừa kế ông, cũng như những người Ai Cập sau này gọi ông là "Ông tổ vĩ đại" và xem ông như người cha của quốc gia.

Ông ra đời gần năm 1303 TCN và ở tuổi 14, ông được vua cha Seti I chọn làm thái tử kế vị.[3] Ông được tin là đã lên ngôi vua khi mới ngoài 20 tuổi và cai trị nước Ai Cập từ 1279 TCN đến 1213 TCN[4] cho tổng cộng là khoảng 66 năm 2 tháng theo Manetho. Ông là người thời xưa duy nhất được tin là sống được đến 99 tuổi, nhưng ông qua đời khi ông 90 hay 91 tuổi thì hợp lí hơn. Nếu ông lên ngôi vua năm 1279 TCN như theo các nhà Ai Cập học thời nay tin rằng, ông lên ngôi vào ngày 31 tháng 5, 1279 TCN, căn cứ vào ngày tháng đăng quang được biết của III Shemu cho là ngày 27.[5] Ramesses II đã tổ chức đến 14 lễ hội Sed trong triều đại ông-nhiều hơn các pharaong khác.[6] Sau khi qua đời, ông được chôn ở ngôi mộ tại Thung lũng các vị vua;[7] thi hài ông về sau đã được đưa tới nhà xác hoàng gia nơi nó được tìm thấy năm 1881, và hiện nay ở bảo tàng Ai Cập.[8]

Cuộc đời và gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng vua Ramesses II tại đền Luxor

Ramesses II sinh ra tại bờ Đông lưu vực sông Nil vào khoảng năm 1303 TCN, trong thời kỳ Tân vương quốc, một thời kì vàng son trong lịch sử cổ Ai Cập. Ông là con thứ của SetiTuya.[9] Ai Cập đã được thống nhất làm một khối từ hơn 2000 năm trước (khoảng 3100 TCN bởi vua Hor-Aha), khi Ramesses II lên làm vua thì biên giới cực nam Ai Cập trải dài đến Nubia (tức Sudan ngày nay) và vùng ảnh hưởng lan rộng đến phía Bắc Syria, phía Tây đến tận Libya. Triều đại dòng Ramesses (tức nhà tiền Ramessid) phát sinh từ việc pharaong Horemheb của Vương triều thứ 18 qua đời mà không có con nối vị và người tể tướng đầy quyền lực là Pramesse được chọn lên làm vua, lấy danh hiệu là Ramesses I, vị pharaong đầu tiên của Vương triều thứ 19. Sau khi Ramesses I qua đời, con là Seti I lên thay thế và sau đó lại truyền lại ngai vàng cho con là Ramesses II.

Trước Ramesses II khoảng 200 năm, pharaong Thutmosis III đã xây dựng một đế chế Ai Cập về phía Đông đến tận PalestineSyria, về phía Nam đến tận Sudan. Nhưng đến thời đại pharaong Akhenaten thì sự điêu tàn của Ai Cập bắt đầu, Akhenaten chỉ lo chăm chút cho bản thân và bà vợ xinh đẹp, Nefertiti, mà quên đi việc triều chính. Khi thấy triều đại này bắt đầu suy yếu thì người Hittites, vốn là kẻ thù của truyền kiếp Ai Cập lập tức quấy nhiễu. Các pharaong kế vị Akhenaten cố gắng lập lại uy tín và trật tự nhưng đều thất bại, cho đến khi Pramesse, ông nội của Ramesses II được bầu từ Tể tướng lên ngôi vua. Làm vua được 16 tháng thì Ramesses I nhường ngôi cho Seti I. Lúc cha mình lên ngai vàng, Ramesses II mới 8 tuổi. Có lẽ quãng đời thơ ấu của Ramesses II chỉ toàn là hương khói chiến tranh và chuyện đao binh. Seti I đã ấn vào đầu đứa con trai đạo lý "da ngựa bọc thây" với mơ ước lấy lại các vùng đất đã mất do người Hittites xâm chiếm, xây dựng lại một đế chế Ai Cập hùng mạnh, thiết lập các kỳ quan về kiến trúc, ca tụng Thần chiến tranh Ai Cập. Seti I tuyên chiến với Syria nhưng chưa cho Ramesses II ra trận. Năm lên 10, Ramesses II được vua cha phong làm Tổng tư lệnh danh dự quân đội và năm lên 14, Ramesses II tham gia trận đánh Lybia.

Một mệnh lệnh từ người cha là sau khi lấy vợ Ramesses II phải có thật nhiều con. Cứ mỗi lần ông được vua cha cho nghỉ phép về thăm vợ Nefertari hay Isetnofret là Hoàng gia Ai Cập lại vang lên tiếng khóc của trẻ thơ. Ông cũng có cưới em gái ông, Henutmire,[10]. Nhà Ai Cập học Kenneth Kitchen thuộc Đại học Liverpool, người đã bỏ ra 22 năm trời để dịch 2000 trang chữ Ai Cập cổ đại có liên quan đến Ramesses II, nhận xét: "Trong vòng 10 năm, mỗi bà vợ nói trên đã sinh cho Ramesses 5 người con trai và 1 cô con gái. Các bà thứ phi cũng tặng ông từ 5 đến 10 hoàng tử. Kết quả là ông có hơn 100 người con, nhiều con nhất trong các pharaong. Ramesses không hề bận tâm đến chuyện thê nhi như Akhenaten ngày xưa. Ông luôn ngước mắt ngưỡng mộ các trận đánh bụi mù cát sa mạc của cha và những công trình kiến trúc nghẹt thở về mức độ to lớn, hùng vĩ. Các pharaong tin rằng kiến trúc càng to thì quyền hành cũng vươn lên trời cao. Seti I và Ramesses II là hai vị vua có các công trình xây dựng đồ sộ nhất, phần lớn để khắc in mạnh mẽ niềm tin đó vào tâm khảm người dân Ai Cập và do vậy tạo dựng một quyền uy bất khả xâm phạm".[11]

Chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Kadesh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Kadesh

Khi lên ngôi mới được 5 năm (1275 TCN), Ramesses II nảy ra ý định đánh chiếm thành Kadesh của người Hittites với 20 nghìn quân tại Syria. Ông đã suýt thua vua Muwatalli II (Muwatallis) có đến 40 nghìn quân đang mai phục chờ đợi. Toán quân trinh thám của Ramesses đã không hoàn thành nhiệm vụ và đoàn chiến xa của ông bị đánh úp. Thình lình thần Amun lại mỉm cười đem lại may mắn cho ông, viện quân Ai Cập tràn đến. Vua Muwatalli II bất lực nhìn đoàn quân hùng hậu của mình tháo chạy trước vị pharaong trẻ tuổi, quân Hitties sợ hãi nhảy xuống sông chạy trốn. Sau khi điểm lại quân số thì hai bên mới biết không ai đẩy lùi được ai, nhưng Ramesses II đã tuyên bố thắng trận và trở về quê hương. Về đến nhà Ramesses II tuyên bố chiến thắng tuy nhiên không phải nhờ đến quân tiếp viện mà là do ông - Ramesses đại đế. Để thể hiện dược sức mạnh của mình ông điều động tất cả các công nhân điêu khắc tại mọi đền đài của các pharaon trước trên khắp đất nước Ai Cập các lời ca tụng về mình . Trên tường của tất cả mọi khu đền đều có viết

Sau khiRamesses II vung gươm gào lên giữa ba quân:

Ta sẽ bay vút đến chúng như một con chim ưng vồ mồi, tàn sát và chém giết tất cả, ta sẽ nhấn chìm chúng vào lòng đất!

[12]

Đây là kiểu tuyên truyền để cổ động ba quân tướng sĩ đang bỏ chạy tháo thân hay không nhưng Ramesses II đã một mình tấn công quân địch đến 6 lần.

Hòa ước với Hittites[sửa | sửa mã nguồn]

Phiến đá của hòa ước giữa Hattusili III của Hatti và Ramesses của Ai Cập, tại bảo tàng khảo cổ học Istanbul

Năm 1259 TCN, Ramesses kí hòa ước với người Hittites. Đây là bản hòa ước sớm nhất trong lịch sử còn được bảo lưu tới ngày nay. Đôi bên quy định không xâm phạm lẫn nhau, cùng chống kẻ thù chung và trao trả các tù binh nô lệ cho nhau. Thực tế thì khi ký kết hòa ước, thì phía Bắc Syria vẫn nằm dưới quyền cai trị của Hittites

Xây dựng các đền đài[sửa | sửa mã nguồn]

Ramesses II được xem là vị pharaong có chiếm đoạt và xây dựng nhiều công trình lớn và bức tượng khổng lồ hơn bất cứ một người trị vì nào khác.[13][14][15]

Ramesses II cũng là một nhà kiến trúc vĩ đại. Ông cùng cha đã xây dựng thủ đô Thebes (Ai Cập) trở thành một thành phố tinh thần tối linh thiêng của người Ai Cập. Tại đây có đền Karnak, nơi được xem là linh địa mà thần Amun, vị thần vĩ đại và được tôn kính nhất ra đời. Đền này có các cột cao đến hơn 50 m, mỗi cột có đường kính 6 m, chạm trổ đẹp và sắc sảo, được xem là một trong những tiền sảnh lớn nhất thời cổ đại. Đền Karnak từ bao đời đã là nơi diễn ra lễ hội Opet cực kỳ quan trọng của các pharaong (thần Amun) sẽ được rước từ Karnak đến đền Luxor cách đó vài cây số, theo truyền thuyết thì Amun sẽ tặng lại khói hương cho pharaong và thế là pharaong được nâng ngang hàng với thần thánh, vĩnh viễn độc tôn). Seti I chết khi ông được khoảng 50 tuổi, và Ramesses II kế vị khi mới ngoài đôi mươi. Ngay lập tức ông bắt tay vào việc xây dựng đền đài mới quy mô lớn chưa từng thấy. Đền Abydos trước đó nay để thờ riêng Ramesses II. Đền cột ở Karnak được tu bổ mở mang, dựng lên Abu Simbel, được đục ngay vào sườn núi cách Cairo hơn 1000 km về hướng Nam. Hầu như đô thị Ai Cập nào cũng được Ramesses II xây dựng thêm thật nhiều đền đài. Ông còn cho xóa tên nhiều vị pharaong tại các đền thờ cổ và cho khắc tên mình vào thay thế. Một số nhà Ai Cập học nhận xét Ramesses II đã xây dựng nhiều công trình nghệ thuật đến nỗi chúng trở thành một loại sản phẩm sản xuất hàng loạt. Có lẽ ông chú trọng vào số lượng hơn là chất lượng, đến nỗi không có đủ số nhân công phục vụ. Trong khi các pharaong trước chọn khắc tên vào các bản phù điêu nổi thì Ramesses II lại ra lệnh khắc lên bằng ấn bản chìm, như vậy dễ làm hơn và quan trọng nhất là những pharaong sau không thể nào xóa được.[11]

Sau này, khi đã ngoài 40, Ramesses II bỏ việc chinh phạt Hitties nhưng vẫn say sưa trong việc xây cất. Ông bắt đầu cho dựng ngôi đền vĩ đại Abu Simbel trên đất Nubia thù địch. Có đến 4 bức tượng của ông cao đến 67 bộ được tạc trên vách núi, phía dưới là một ngôi đền khổng lồ được đào sâu vào chân núi đến 160 bộ. Đền này có tượng thờ thần Amun và Ramesses II, được kiến trúc một cách độc đáo đến nỗi mỗi năm 2 lần, vào cuối tháng 2tháng 10 thì ánh sáng Mặt Trời lúc rạng đông sẽ chiếu thẳng vào hai bức tượng uy nghiêm này, tạo nên một vầng sáng làm mọi người thán phục.

Ramesses II là pharaong cai trị lâu dài thứ hai của Ai Cập cổ đại sau vua Pepi II của Vương triều thứ 6.[16] Ông cũng là một trong những vị pharaong hùng mạnh cuối cùng của Ai Cập cổ. Sau triều đại con trai ông, Merneptah,[17] các vua Vương triều thứ 19 trở nên yếu kém. 150 sau triều đại ông, đế chế Ai Cập sụp đổ sau năm 1077 TCN.

Pi-Ramesses[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Pi-Ramesses

Tượng lớn của Ramesses[sửa | sửa mã nguồn]

bức tượng khổng lồ của vua Ramesses II hiện ở Memphis (Ai Cập)

Tượng lớn của Ramesses được chuyển tới Quảng trường Ramesses năm 1955. Vào tháng 8 năm 2006, người ta chuyển bức tượng 3200 tuổi của ông từ Quảng trường Ramesses để cứu nguy nó từ thành phố đông đúc dân cư làm hư hại bức tượng 83 tấn này[18]. Bức tượng này bắt đầu được tìm thấy từ đền ở Memphis. Vị trí mới có thể định vị ở Bảo tàng người Ai Cập lớn.

Ramesseum[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ramesseum

Abu Simbel[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Abu Simbel

Ngay khi mới lên ngôi, Ramesses đã cho khởi công xây công trình này và công trình được xây trong khoảng 24 năm (tức năm 1256 TCN). Đây là đền lớn nhất của ông. Ngôi đền này được Ramesses cho xây dựng để thờ ba vị thần có công bảo hộ nhà nước Ai Cập, đó là Amun- Re, PtahRe- Horakhty cũng như bản thân đức vua ngay khi ông còn sống. Điều nổi bật nhất của đền là bốn bức tượng khổng lồ của ông bên ngoài, đằng sau còn có tượng nhỏ của chính cung hoàng hậu Nefertari. Xong, ngôi đền cũng là nơi tưởng niệm những trận đánh của Ramesses ở Libya, SyriaNubia.

Mộ của Nefertari[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: QV66
Bức tranh tường khắc hình Nefertari

Mộ của hoàng hậu Nefertari (QV66) tại Thung lũng các nữ hoàng, người vợ quan trọng nhất của Ramesses II được khai phá năm 1904 bởi Ernesto Schiaparelli. Từ thời thượng cổ, ngôi mộ đã bị quấy phá nhiều nhưng người ta đã tìm thấy nhiều di sản nghệ thuật như một bức tranh tường vẽ Nefertari.

KV5, mộ của một vài người con của Ramesses II[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: KV5

Pharaong trong cuốn Exodus[sửa | sửa mã nguồn]

Moses

Phần lớn sử gia cho rằng Seti I, cha Ramesses là vị pharaong đã đối xử tàn bạo với người Do Thái và nhà tiên tri Moses. Ông đã ra lệnh giết các em bé Do Thái khi Moses được sinh ra. Nhưng ông này đã được giấu đi và được một người công chúa, con gái Seti và chị hoặc em của Ramses, nhận làm con nuôi. Moses đã muốn dẫn người Do Thái rời khỏi Ai Cập khi Ramesses đang cai trị Ai Cập, nhưng Ramesses bắt họ phải ở lại làm nô lệ và Ai Cập bị Chúa trời phạt mười năm bệnh dịch, Ramesses buộc phải nhượng bộ cho dân Do Thái rời khỏi Ai Cập.[14][14][19]

Nhiều sử gia khác cho rằng Thutmosis III mới là pharaong đã đối xử tàn bạo với Moses và nữ hoàng Hatshepsut, nhiếp chính của Thutmosis (ông này lên ngôi khi còn là một cậu bé) đã nhận Moses làm con nuôi. Sau khi Hatshepsut chết thì Thutmosis càng tàn bạo với dân Do Thái. Người Do Thái đã rời khỏi Ai Cập trong khi con Thutmosis, Amenhotep II cai trị.

Xác ướp[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn thân xác ướp của Ramesses II, hiện đang được trưng bày tại Viện bảo tàng Ai CậpCairo

Xác ướp của Ramesses II được phát hiện ở mộ ông, KV7 tại Thung lũng các vị vua,[20] phía Tây Thebes (Ai Cập) năm 1881 cùng với các pharaong Vương triều thứ 18 Ahmose I, Amenhotep I, Thutmosis I, Thutmosis II, Thutmosis III, Vương triều thứ 19 của Ramesses II thì còn có Ramesses I (ông nội ông), Seti I (cha ông), Ramesses IX của Vương triều thứ 20Vương triều thứ 21 gồm Pinedjem I, Pinedjem IISiamun. Cho đến năm 1980 người ta vẫn có thể tự do xem mặt mũi vị quân vương lừng danh này khi đến tham quan Viện bảo tàng Ai Cập ở thủ đô Cairo. Xác ướp cổ đến 3000 năm tuổi của ông vẫn được bảo quản tốt và hằng ngày vẫn có hàng nghìn người đến xem "Vua của các vị Vua" được bao bọc trong lụa đỏ, cùng xác ướp của 26 vị pharaong khác. Thế nhưng Tổng thống Ai Cập Anwar Al Sadat đã ra sắc lệnh đem cất di hài Ramesses II cùng 26 vị pharaong này vào một chỗ kín, không cho dân chúng xem nữa vì ông nghĩ đem trưng bày thi thể của các ông vua lừng lẫy như thế trước công chúng e không ổn. Một số chuyên gia bậc thầy trên thế giới về vấn đề chống ô nhiễm hiện đã hợp tác với chính phủ Ai Cập để phục hóa các xác ướp này, và cuối cùng lại đem trưng bày cho dân chúng xem vào thập niên 1990. Giáo sư James Harris thuộc Đại học Michigan, vốn đã dẫn một đoàn chuyên gia tia X đến khảo sát xác ướp Ramses II trước khi lệnh cấm có hiệu lực, mô tả vị quân vương đầy quyền uy này như sau: "Ông ta cao khoảng 1,73 mét, một trong các pharaong cao to nhất. Một cái hàm mạnh mẽ, cánh mũi dài, hơi cong đầy kiêu hãnh và gương mặt dài, gầy. Kiểu này không giống như các pharaong xa xưa mà có nét từa tựa như dân tộc ở vùng Đông Địa Trung Hải".[11] Ramesses xuất thân từ vùng đồng bằng châu thổ sông Nil, nơi vốn bị các bộ tộc phương Đông xâm chiếm từ thủa xa xưa.

Ramesses II đã chết già, theo như các sử gia. Khảo nghiệm xác ướp của Ramesses người ta nhận thấy ông chỉ bị thấp khớp, đau răngmáu huyết lưu thông không tốt lúc về già. Ramesses II sống lâu đến nỗi 10 người con trai đã qua đời trước cả ông. Khi nhà vua băng hà, các nhà ướp xác đã bỏ ra 70 ngày để hoàn thiện các kỹ thuật để giữ cho thi thể của vị hoàng đế được tươi tốt đến 32 thế kỷ sau. Đầu tiên, họ rút các cơ quan nội tạng ra, đặt gan, phổi, dạ dàyruột trong các vò linh thiêng. Quả tim được giữ lại trong lồng ngực. Người Ai Cập quan niệm quả tim là nơi phát sinh sự thông minh và tình cảm, phải giữ nguyên chờ ngày phán xét cuối cùng dưới hạ giới. Những người ướp xác cũng rút não bộ của Ramesses II bằng đường mũi và ném đi. Sau đó họ dùng muối ăn ướp, lau rửa sạch sẽ và ngâm thi thể ông vào nhựa thông. Cuối cùng, họ quấn hằng trăm mét vải liệm quanh xác ông. Thi thể vị hoàng đế vĩ đại được đưa đi an táng trong Thung lũng các vị vua.

Quan hệ với vua Shishak trong Kinh Thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Shishak.

Trong phim ảnh và văn học hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên Nga Yul Brynner thủ vai Ramesses II trong Mười điều răn (phim 1956)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ramesses II Usermaatre-setepenre (about 1279-1213 BC)”. DigitalEgypt. 
  2. ^ James Putnan, An Introduction to egyptology,1990
  3. ^ James Putnan, An Introduction to Egyptology,1990
  4. ^ Rice (1999), trang 165
  5. ^ Jurgen von Beckerath, Chronologie dé Pharaonischen Agypten, Mainz, (1997), trang 108 và 190
  6. ^ David O' Connor & Eric Cline, Amenhotep III: Perspectives on his reign, University of Michigan Press, 1998, p.16
  7. ^ Christian LEBLANC. “http.ourword.compuserve.com/homepages/Gerard_Frament/ramstomb.htm”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  8. ^ Rice (1999), trang 166
  9. ^ Dolson và Hilton (2004), trang 164
  10. ^ kiểu hôn nhân trực hệ này rất hay có trong hoàng gia Ai Cập
  11. ^ a ă â Theo cuốn từ điển văn hóa Almanach
  12. ^ Theo từ điển văn hóa Almanach
  13. ^ Theo cuốn 1001 nhân vật và sự kiện lịch sử thế giới
  14. ^ a ă â Theo cuốn Lịch sử thế giới
  15. ^ Ramesses II-Fruit of the Nile
  16. ^ Pepi II trị vì 94 năm, vị vua cai trị lâu nhất thế giới
  17. ^ Vương triều thứ 19
  18. ^ Vua Ai Cập cổ đại có nhà mới
  19. ^ Việc Moses dẫn người Do Thái rời khỏi Ai Cập
  20. ^ Thung lũng các vị vua là nơi an táng chung của các vua pharaong Ai Cập cổ đại thời Tân vương quốc Ai Cập

Nguồn chính của bài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo cuốn từ điển văn hóa Almanach

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]