Địa Trung Hải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Địa Trung Hải, ảnh chụp từ vệ tinh

Địa Trung Hải là một phần của Đại Tây Dương được vây quanh bởi đất liền – phía bắc bởi châu Âu, phía nam bởi châu Phi và phía đông bởi châu Á.

Địa Trung Hải có diện tích 2.509.000 km² (969.000 dặm vuông Anh)[1] tới 2.510.000 km² (970.000 dặm vuông Anh)[2]. Chiều dài đông-tây là 4.000 km[2] và chiều rộng trung bình là 800 km[2], nhưng tại chỗ thông với Đại Tây Dương (eo biển Gibraltar) chỉ rộng 13 km (8 dặm Anh) và bề rộng tối đa đạt 1.600 km[1]. Nhìn chung biển này nông, với độ sâu trung bình khoảng 1.500 m[1], độ sâu tối đa khoảng 4.900 m[2] tới 5.150 m[1], tại khu vực phía nam bờ biển Hy Lạp.

Địa Trung Hải là phần sót lại của một đại dương lớn thời cổ đại, gọi là đại dương Tethys[1], đã bị ép gần như đóng chặt trong thế Oligocen, khoảng 30 triệu năm trước, khi các mảng kiến tạo lục địa làm cho châu Phi và đại lục Á-Âu va chạm vào nhau. Các mảng này vẫn đang tiếp tục đè nén nhau, gây ra các đợt phun trào của các núi lửa, như đỉnh Etna, đỉnh Vesuvius và Stromboli, tất cả đều tại Ý, cũng như kích thích các trận động đát thường xuyên, tàn phá các phần của Ý, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ.

Một sống ngầm đại dương từ Tunisia tới Sicilia chia Địa Trung Hải ra thành hai bồn địa đông và tây. Một sống ngầm đáy biển khác, từ Tây Ban Nha tới Maroc, nằm tại lối thoát ra của Đại Tây Dương. Chỉ sâu 300 m (1.000 ft), nó hạn chế sự luân chuyển nước thông qua vịnh Gibraltar khá hẹp, vì thế nó làm giảm đáng kể khoảng lên-xuống của thủy triều tại biển này và cùng với tốc độ bốc hơi cao, làm cho Địa Trung Hải có độ mặn cao hơn của Đại Tây Dương[1].

Các hải cảng quan trọng nằm bên Địa Trung Hải gồm: Barcelona, Marseille, Genova, Trieste, Haifa. Các sông chính đổ vào Địa Trung Hải có Ebro, Rhone, PoNin.

Các quốc gia ven biển[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Địa Trung Hải

Có 21 quốc gia/vùng lãnh thổ nằm trên bờ Địa Trung Hải:

Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập là các quốc gia liên lục địa. Các đảo tận cùng phía nam của Ý, Quần Đảo Pelagie là một phần của lục địa châu Phi.

Các vùng lãnh thổ khác cũng có ranh giới với Địa Trung Hải (tây sang đông):

Các thành phố thủ đô của các quốc gia có chủ quyền và các thành phố chính có hơn 200.000 dân có ranh giới với Địa Trung Hải gồm (các thủ đô ít hơn 200.000 dân được ánh dấu hoa thị):

Quốc gia Thành phố
Tây Ban Nha Alicante, Badalona, Barcelona, Cartagena, Málaga, Palma, Valencia
Pháp Marseille, Montpellier, Nice
Monaco Monaco*
Ý Bari, Catania, Genova, Messina, Napoli, Palermo, Roma, Trieste, Venezia
Malta Valletta*
Albania Durrës
Hy Lạp Athens, Patras, Thessaloniki
Síp Limassol
Thổ Nhĩ Kỳ Antalya, Iskenderun, Izmir, Mersin
Syria Latakia
Liban Beirut, Tripoli
Israel Ashdod, Haifa, Rishon LeZion, Tel Aviv
Palestine Gaza
Ai Cập Alexandria, Damietta, Port Said
Libya Benghazi, Khoms, Misrata, Tripoli
Tunisia Sfax, Tunis
Algérie Algiers, Annaba, Oran
Maroc Tétouan, Tangier

Cổ khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Do vĩ độ của nó và vị trí nằm giữa các vùng đất liền, Địa Trung Hải cực kỳ nhạy cảm với những dao động khí hậu gây ra từ yếu tố thiên văn, cũng được ghi nhận rõ ràng trong trầm tích. Vì Địa Trung Hải liên quan đến các tích tụ trầm tích gió từ sa mạc Sahara trong các giai đoạn khí hậu khô, ngược lại các trầm tích sông thì đổ vào trong các mùa ẩm ướt, các tập trầm tích chứa sapropel (các trầm tích sẫn màu giàu chất hữu cơ) nguồn gốc biển của Địa Trung Hải cung cấp các thông tin về khí hậu với độ phân giải cao. Dữ liệu này đã được sử dụng để tái lập lại thời gian biểu được hiệu chỉnh theo thiên văn cho 9 triệu năm gần đây nhất trong lịch sử Trái Đất, giúp làm rõ thời gian đảo cực địa từ gần đây nhất.[3] Hơn thế nữa, độ chính xác đặc biệt của các dữ liệu cổ khí hậu này cũng giúp nâng cao kiến thức của con người về những dao động quỹ đạo của Trái Đất trong quá khứ.

Các đe dọa về môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Mực nước biển dâng[sửa | sửa mã nguồn]

Mực nước biển của Địa Trung Hải có thể dâng từ 3–61 cm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.[4] Điều này có thể ảnh hưởng đến dân cư sống trong vùng Địa Trung Hải:

  • Mực nước biển dâng sẽ nhấn chìm các khu vực của Malta, và làm tăng mực nước mặn trong khu vực cấp nước ngầm ở Malta và làm giảm khả năng cung cấp nước uống.[5]
  • Mực nước biển dâng 30 cm có thể gây ngập trên diện tích 200 km2 của châu thổ sông Nile, ảnh hưởng đến hơn 500.000 người Ai Cập.[6]

Các hệ sinh thái ven biển cũng đứng trước nguy cơ bị đe dọa do nước biển dâng đặc biệt là các biển kính như biển Baltic, Địa Trung Hải và biển Đen.[7] Mực nước biển dâng trong giai thế kỷ 21 có thể từ 30 cm (12 in) đến 100 cm (39 in) và nhiệt độ thay đổi 0.05-0.1 °C ở biển sâu là đủ để tạo ra các thay đổi đáng kể sự phong phú của các loài và chức năng đa dạng.[8]

Ô nhiễm[sửa | sửa mã nguồn]

Ô nhiễm khu vực này tăng rất cao trong các năm gần đây. Chương trình môi trường Liên hiệp quốc ước tính rằng 650.000.000 t (720.000.000 short ton) chất thải từ cống, 129.000 t (142.000 short ton) dầu khoáng, 60.000 t (66.000 short ton) thủy ngân, 3.800 t (4.200 short ton) chì và 36.000 t (40.000 short ton) phốt phát thải vào Địa Trung Hải mỗi năm.[9] Công ước Barcelona được đưa ra nhằm giảm thiểu ô nhiễm trên Địa Trung Hải và vảo vệ và cải thiện môi trường biển trong khu vực này, ngoài ra còn góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực.'[10] Một số loài sinh vật biển hầu như biến mất do ô nhiễm biển. Một trong số chúng là Hải cẩu Địa Trung Hải, là loài thú biển bị đe dọa nghiêm trọng trên thế giới.[11]

Địa Trung Hải cũng tồn tại rác biển. Theo một nghiên cứu về đáy biển năm 1994 sử dụng lưới đánh cá xung quanh các bờ biển của Tây Ban Nha, Pháp và Ý cho thấy rằng rác tập trung với mật độ trung bình 1.935 loại/km². Rác nhựa chiếm 76%, trong đó túi nhựa chiếm 94%.[12]

Trong tương lai, khi lục địa Phi chạm với lục địa Âu, Địa Trung Hải sẽ bị cô lập

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Địa Trung Hải trên MSN Encarta
  2. ^ a ă â b Địa Trung Hải trên Britanica
  3. ^ FJ, Hilgen. Astronomical calibration of Gauss to Matuyama sapropels in the Mediterranean and implication for the Geomagnetic Polarity Time Scale, 104 (1991) 226-244 Earth and Planetary Science Letters, 1991.[1]
  4. ^ Bản mẫu:Cite article
  5. ^ “Briny future for vulnerable Malta”. BBC News. 4 tháng 4 năm 2007. 
  6. ^ “Egypt fertile Nile Delta falls prey to climate change”. 28 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ Nicholls, R.J.; Klein,R.J.T. (2005). Climate change and coastal management on Europe's coast, in: Vermaat, J.E. et al. (Ed.) (2005). Managing European coasts: past, present and future. pp. 199-226.
  8. ^ “Other threats in the Mediterranean | Greenpeace International”. Greenpeace.org. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010. 
  9. ^ “Pollution in the Mediterranean Sea. Environmental issues”. Explorecrete.com. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010. 
  10. ^ “EUROPA”. Europa.eu. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010. 
  11. ^ “Mediterranean Monk Seal Fact Files: Overview”. Monachus-guardian.org. 5 tháng 5 năm 1978. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010. 
  12. ^ publications/docs/anl_oview.pdf “Marine Litter: An analytical overview”. United Nations Environment Programme. 2005. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008.