Biển

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

:Bài này nói về biển như là một khu vực rộng lớn chứa nước mặn. Các nghĩa khác xem bài Biển (định hướng).

Bờ biển miền trung Chile

Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên như biển Caspi, biển Chết. Thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có đường thông tự nhiên ra biển cả như biển GalileeIsrael là một hồ nước ngọt nhỏ không có đường thông tự nhiên ra đại dương hay biển HồCampuchia. Thuật ngữ này được sử dụng trong đời sống thông thường như một từ đồng nghĩa với đại dương, như trong các câu biển nhiệt đới hay đi ra bờ biển, hoặc cụm từ nước biển là chỉ một cách rõ nét tới các vùng nước của đại dương nói chung.

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Nước biển[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nước biển
Bản đồ độ mặn bề mặt dựa trên dữ liệu vệ tinh. Màu sắc thể hiện mức độ mặn: đỏ = 40 (lớn nhất), tím = 30 ‰ (nhỏ nhất).

Nước trong biển được cho là có nguồn gốc từ hoạt động phun trào núi lửa trên Trái Đất, bắt đầu cách nay 4 tỉ năm, làm giải phóng các khí từ đá nóng chảy.[1](pp24–25) Công trình nghiên cứu gần đây hơn cho rằng hầu hết nước trên Trái Đất có thể từ sao chổi.[2] Một đặc điểm quan trọng của nước biển là mặn. Độ mặn thường được đo bằng phần ngàn (kí hiệu ‰), và các đại dương mở vào khoảng 35 gam (1,2 oz) trên một lít, độ mặn 35 ‰ (khoảng 90% nước trong đại dương có độ mặn nằm trong khoảng 34 đến 35‰[3]). Biển Địa Trung Hải có độ mặn cao hơn ở 37 ‰. Thành phần của muối ăn (natriclo) chiếm khoảng 85% chất rắn hòa tan trong nước biển. Ngoài ra, còn có các ion kim loại khác như magiecanxi, và các ion âm như sulphat, carbonat, và brômua. Mặc dù có sự khác biệt độ mặn trong vùng biển khác nhau, các thành phần tương đối của các muối hòa tan là ổn định trong khắp các đại dương của thế giới.[4][5] Nước biển thì quá mặn để con người có thể uống vì thận không thể bài tiết qua đường tiểu những chất mặn như nước biển.[6] Ngược lại, các hồ nước mặn nằm trong lục địa có độ mặn cao hơn trong đại dương, ví dụ như Biển Chết có 300 gam (11 oz) chất rắn hòa tan trong một lít (300 ‰).

Các chất hòa tan chính trong nước biển (3.5% độ mặn)[5]
Hòa tan nồng độ (‰)  % trong tổng muối
Clorua 19.3 55
Natri 10.8 30,6
Sulphat 2.7 7,7
Magiê 1.3 3,7
Canxi 0.41 1,2
Kali 0.40 1,1
Bicarbonat 0.10 0,4
Bromua 0.07 0,2
Carbonat 0.01 0,05
Stronti 0.01 0,04
Borat 0.01 0,01
Florua 0.001 < 0,01
Các chất hòa tan khác < 0.001 < 0,01

Độ muối[sửa | sửa mã nguồn]

Độ muối trung bình của nước biển toàn thế giới là 3,5%

Biển Đỏ độ muối là 4,3%

Dọc Xích đạo độ muối là 3,45%

Vùng chí tuyến độ muối 3,68%

Gần hai cực độ muối là 3,4%

Biển Ban-tich độ muối là 0,35%

Nhiệt độ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt độ nước biển thay đổi. Có nhiều nguyên nhân:

  • Khi càng xuống sâu xuống đáy biển nhiệt độ giảm, càng sâu càng lạnh
  • Tùy theo mùa trong năm, mùa hè nhiệt độ cao, mùa đông biển lạnh
  • Từ vĩ độ thấp lên vĩ độ cao (từ Xích đạo về cực)
  • Ảnh hưởng các dòng biển nóng và lạnh

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Biển là nguồn cung cấp hơi nước để tạo ra mưa cho khí quyển. Có mưa mà duy trì sự sống cho các sinh vật trên đất liền

Biển là kho báu cho ngành hải sản, ngành sản xuất muối, du lịch biển. Hiện nay biển có 160000 loài động vật và 10000 loài thực vật

Biển còn chứa vô số có mỏ dầu ở dưới đáy đại dương. Trữ lượng dầu mỏ 21 tỉ tấn, khí tự nhiên 14 nghìn tỉ m3

Rất nhiều mỏ nằm ở dưới đát đại dương đã được con người khai thác từ lâu như sắt, lưu huỳnh, đồng, phốt pho...

Ngoài ra biển chứa một lượng lớn các nguồi tài nguyên hóa học với trên 70 nguyên tố hóa học khác nhau: Natri, Clo, Kali, Nito... Không chỉ có biển mà thủy triều là nguồn năng lượng vô tận của nhiều quốc gia trên thế giới. Nhà máy thủy triều đầu tiên ở cửa sông Răng-xơ (Pháp) năm 1967 công suất là 240000 kW. Nhiệt độ của nước biển chệnh lệch rất lớn tạo ra 1 nguồn thủy nhiệt điện vô cùng to lớn; dựa vào nguyên lí đó mà người ta xây dựng những nhà máy thủy nhiệt. NHà máy thủy nhiệt đầu tiên đang hoạt động ở A-bit-gian (Cốt Đi-voa) với công suất 14000 kW

Vận tải đường biển xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng trong buôn bán quốc tế, là chiếm lược của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Vận tải biển chiếm 3/4 khối lượng hàng hóa trao đổi trên thế giới

Danh sách một số biển theo đại dương[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thái Bình Dương

Đại Tây Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đại Tây Dương

Ấn Độ Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ấn Độ Dương

Bắc Băng Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bắc Băng Dương

Nam Đại Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nam Đại Dương

Các biển kín[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các biển theo diện tích bề mặt[sửa | sửa mã nguồn]

STT tên vùng nước Diện tích bề mặt (dặm vuông) Diện tích bề mặt (km vuông)
1 Biển Philippine 2.000.000 5.177.762
2 Biển Coral 1.850.000 4.791.000
3 Biển Ả Rập 1.491.130 3.862.000
4 Biển Đông 1.351.936 3.500.000
5 Biển Weddell 1.081.548 2.800.000
6 Biển Caribe 1.063.000 2.754.000
7 Địa Trung Hải 965,000 2.500.000
8 Biển Tasman 900,000 2.330.000
9 Biển Bering 873,000 2.260.100
10 Vịnh Bengal 838,970 2.172.000

Các biển ngoài Trái Đất[sửa | sửa mã nguồn]

Các biển trên Mặt Trăng là những đồng bằng bazan rộng lớn mà trước đây các nhà thiên văn học cho rằng chúng có chứa nước và gọi chúng là "biển".

Nước ở trạng thái lỏng được cho là đã từng tồn tại trên bề mặt Hỏa Tinh trong quá khứ xa xăm và một số vùng lòng chảo trên Sao Hỏa được coi là các đáy biển đã khô cạn. Lớn nhất trong số đó là Vastitas Borealis; các "biển" khác là Hellas PlanitiaArgyre Planitia.

Các "biển" trên Sao Hỏa

Nước ở trạng thái lỏng cũng được cho là có tồn tại dưới bề mặt của một số vệ tinh tự nhiên, chẳng hạn như Europa.

Hyđrôcacbon lỏng được coi là có mặt ở bề mặt của Titan, mặc dù nó có thể được miêu tả một cách chính xác hơn là "hồ" chứ không phải "biển". Sự phân bổ của các khu vực chứa chất lỏng này được hy vọng là sẽ được hiểu rõ hơn sau khi tàu thăm dò Cassini đến đây.

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ "biển" cũng được sử dụng trong vật lý lượng tử. Biển Dirac là sự diễn giải của các trạng thái năng lượng âm, bao gồm có chân không.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Stow
  2. ^ Cowen, Ron (5 tháng 10 năm 2011). “Comets take pole position as water bearers”. Nature. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013. 
  3. ^ Pond, Stephen; Pickard, George (1978). Introductory Dynamic Oceanography. Pergamon Press. tr. 5. 
  4. ^ Swenson, Herbert. “Why is the ocean salty?”. US Geological Survey. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013. 
  5. ^ a ă Millero, Frank J; Feistel, Rainer; Wright, Daniel G; McDougall, Trevor J (January năm 2008). “The composition of Standard Seawater and the definition of the Reference-Composition Salinity Scale”. Deep Sea Research Part I: Oceanographic Research Papers 55 (1): 50–72. Bibcode:2008DSRI...55...50M. doi:10.1016/j.dsr.2007.10.001. 
  6. ^ “Drinking seawater can be deadly to humans”. NOAA. 11 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2013.