Cửa sông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cửa sông là vùng có một phần nào đó nằm ở ven biển với một hoặc nhiều con sông hay suối chảy vào nó. Nó còn là đầu nối ra biển.[1]

Cửa sông tạo ra sự chuyển đới giữa môi trường của sông và môi trường của biển và cả hai đều có khả năng ảnh hưởng đến thành phần của biển như thủy triều, sóng và độ mặn của nước. Nó còn ảnh hưởng đến thành phần của sông như sức chảy của nước sạch và trầm tích. Với sự tiếp xúc của cả hai loại nước, nước biển và nước sông (thường là nước sạch không mặn) do đó vùng cửa sông cung cấp một nguồn chất dinh dưỡng cao trong nước và trầm tích. Điều này đã làm cho cửa sông trở thành một trong những nơi có môi trường sống tự nhiên sinh sôi nhất trên thế giới.[2]

Đa số các cửa sông hiện nay được tạo từ kỷ nguyên Holocene bởi lũ lụt làm mòn đất ra biển hoặc nước đá từ thời kỳ băng hà chảy vô những thung lũng khi nước biển bắt đầu dâng từ 10.000-12.000 năm về trước.[3] Cửa sông thường được phân loại tùy theo đặc trưng của địa mạo hoặc sự lưu thông của nước dưới một quá trình nhất định nào đó. Do đó cửa sông còn có thể gọi bằng nhiều cái tên khác nhau tùy theo đặc thù của nó. Ví dụ như vịnh, cảng, phá (tiếng Anh "lagoon"), vịnh nhỏ (inlets) hoặc eo biển. Tuy nhiên có khi những vùng nước đó không nhất thiết phải đạt tiêu chuẩn nêu trên của cửa sông và có thể mặn như nước biển.

Cửa sông là một trong những môi trường sinh thái đông đảo nhất trên thế giới. Nó chứa tới khoảng 60% các sinh vật trên toàn thế giới. Do đó cửa sông đang bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như sự đóng cặn do quá trình mòn đất, là hậu quả của phá hoại rừng hay gặm cỏ bừa bãi của gia súc hoặc những cách trồng cây hại đất. Đánh bắt cá quá mức, hệ thống cống rãnh dơ bẩn đều có thể làm ảnh hưởng tới hệ sinh thái của cửa sông. Nếu như có quá nhiều chất dinh dưỡng từ nước cống và phân của động vật thì sẽ làm sinh sôi nảy nở những thực vật có hại cho vùng nước đó. Những thực vật có hại có thể lấy hết oxygen và cá sẽ không đủ oxygen để sống. Các loại chất độc hai như các chất kim loại nặng, nuclit phóng xạ, PCB, hydrocarbon. Đê cũng nắm vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến cửa sông.[3]

Link ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Pritchard, D. W. (1967). “What is an estuary: physical viewpoint”. Trong Lauf, G. H. Estuaries. A.A.A.S. Publ. 83. Washington, DC. tr. 3–5. 
  2. ^ McLusky, D. S.; Elliott, M. (2004). The Estuarine Ecosystem: Ecology, Threats and Management. New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-852508-7. 
  3. ^ a ă Wolanski, E. (2007). Estuarine Ecohydrology. Amsterdam: Elsevier. ISBN 978-0-444-53066-0.