Xói mòn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ thế giới thể hiện các khu vực dễ bị tổn thương do tốc độ xói mòn cao do nước.

Xói mòn hay xâm thực hay quá trình bóc đi đất (trầm tích, đất, đá và các hạt khác) trong môi trường tự nhiên và thường làm địa hình bị hạ thấp. Nó thường xuất hiện do sự vận chuyển bởi gió, nước hoặc băng; hoặc khối đất hay các vật liệu khác trườn xuống sườn dốc dưới tác dụng của trọng lực; hoặc bởi các sinh vật sống như các động vật đào hang trong trường hợp xâm thực sinh học.

Xói mòn được phân biệt với phong hóa bởi quá trình hóa học hoặc vật lý phân hủy các khoáng vật trong đá, mặc dù hai quá trình này có thể xuất hiện đồng thời.

Xói mòn là một quá trình tự nhiên tuy nhiên ở một vài nơi quá trình này diễn ra nhanh hơn do tác động từ việc sử dụng đất của con người.

Xói mòn là một trong những kết quả của quá trình bóc mòn. Xói mòn do dòng nước mặt gây ra tạo ra các dạng địa hình:

Rãnh nông - do nước chảy tràn.

Khe rãnh xói mòn - do dòng chảy tạm thời.

Thung lãng sông, suối - do dòng chảy thường xuyên.

Giám sát, đo đạc và mô hình hóa xói mòn[sửa | sửa mã nguồn]

Trồng trọt theo bật là một kỹ thuật từ xa xưa nhằm giảm thiểu tốc độ xói mòn trên sườn dốc.

Giám sát và mô hình hóa các quá trình xói mòn có thể giúp con người hiểu rõ hơn về nguyên nhân, đưa ra dự báo và có kế hoạch phòng chống và phục hồi đất. Tuy nhiên, tính phức tạp của các quá trình xói mòn và nhiều khía cạnh cần phải được nghiên cứu để hiểu và mô hình hóa chúng (như khí hậu học, thủy văn học, địa chất học, hóa học, vật lý...) làm cho độ chính xác của mô hình vẫn còn là thách thức với khoa học hiện tại.[1][2] Các mô hình xói mòn cũng không phải tuyến tính, nên khó khăn trong việc mô phỏng, và khó hoặc không thể mở rộng quy mô phục vụ dự đoán trên phạm vi rộng lớn từ dữ liệu thu thập được từ thí nghiệm pilot nhỏ hơn.[3]

Mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong việc dự báo xói mòn đất do nước là Phương trình mất đất toàn cầu (USLE), phương trình này ước tính lượng đất mất đi trung bình hàng năn A như sau:[4]

A = RKLSCP

với R là khả năng xói mòn do mưa, K là yếu tố kháng xói mòn của đất, LS là các thông số về địa hình là chiều dài sườn dốc và gốc dốc, và CP là các yếu tố canh tác mùa vụ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Blanco, Humberto & Lal, Rattan (2010). “Modeling water and wind erosion”. Principles of Soil Conservation and Management. Springer. ISBN 978-90-481-8529-0. 
  2. ^ See also: Shai, Yaping (2008). Physics and Modelling of Wind Erosion. Springer. ISBN 978-1-4020-8894-0.  and Harmon, Russell S. & Doe, William W. (2001). Landscape Erosion and Evolution Modeling. Springer. ISBN 978-0-306-46718-9. 
  3. ^ Brazier, R.E. et al (2011). “Scaling soil erosion models in space and time”. Trong Morgan, Royston P.C. & Nearing, Mark. Handbook of Erosion Modelling. John Wiley & Sons. tr. 100. ISBN 978-1-4051-9010-7. 
  4. ^ Ward, Andrew D. & Trimble, Stanley W. (2004). “Soil conservation and sediment budgets”. Environmental Hydrology. CRC Press. tr. 259. ISBN 978-1-56670-616-2. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]