Vũ trụ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Những hình ảnh xa nhất (và do đó cổ nhất) chụp được từ vũ trụ. Chụp bởi Hubble Ultra Deep Field; NASA, ESA, S. Beckwith (STScI) và nhóm HUDF

Vũ trụ là toàn bộ hệ thống không-thời gian trong đó chúng ta đang sống, chứa toàn bộ vật chấtnăng lượng. Ở thang vĩ mô Vũ trụ bao gồm tất cả các thiên hà, tức là những tập hợp của các thiên thể như saohành tinh v.v..., trong đó có Trái Đất. Ở thang vi mô Vũ trụ bao gồm tất cả các nguyên tử và các hạt cơ bản cấu thành nên mọi dạng tồn tại của thế giới vật chất.

Khoa học nghiên cứu vũ trụ trong tổng thể của nó gọi là vũ trụ học, một lĩnh vực kết hợp giữa vật lýthiên văn. Vũ trụ học, về cuối thế kỷ 20, được phân làm hai nhánh chính là thực nghiệm và lý thuyết. Các nhà vũ trụ học thực nghiệm đã gần như từ bỏ hy vọng có thể quan sát được toàn bộ vũ trụ; trong khi đó, các nhà vũ trụ học lý thuyết vẫn phát triển các mô hình cho toàn bộ vũ trụ, bất chấp khả năng các lý thuyết này sẽ không có đủ bằng chứng thực nghiệm để kiểm chứng.

Các lý giải về những quan sát thiên văn đương thời cho thấy tuổi của Vũ trụ là 13,798 ± 0,037 tỷ năm.[1] và đường kính thực sự của phần Vũ trụ quan sát được hiện nay ít nhất là 93 tỷ năm ánh sáng hay 8,80×1026 met.[2] Việc hai thiên hà có thể rời xa nhau một khoảng bằng 93 tỷ năm ánh sáng chỉ sau 14 tỷ năm dường như là một điều nghịch lý không thể xảy ra, vì theo Thuyết tương đối hẹp không một đối tượng vật chất nào có thể được gia tốc để chuyển động với vận tốc vượt quá vận tốc ánh sáng. Tuy nhiên, theo Thuyết tương đối rộng, không gian có thể giãn nở mà không gặp phải một giới hạn nội tại nào về tốc độ, và như vậy hai thiên hà có thể rời xa nhau nhanh hơn tốc độ ánh sáng khi không gian giữa chúng bị giãn ra.

Do giới hạn của vận tốc truyền ánh sáng mà chúng ta chỉ có thể quan sát một phần nhỏ của vũ trụ, được gọi là "Vũ trụ nhìn thấy" hay "Vũ trụ quan sát được". Đa số các nhà thiên văn dùng từ "Vũ trụ" khi nói đến "Vũ trụ quan sát được". Lý do là các hiện tượng vật lý nằm ngoài khoảng vũ trụ quan sát được không có tác động gì đến chúng ta và không có giá trị khoa học. Vì không thể quan sát được không gian bên ngoài giới hạn của vận tốc ánh sáng (hay bất kỳ dạng lan truyền tương tác nào), chúng ta cũng không thể kết luận được là Vũ trụ trong tổng thể của nó là vô hạn hay hữu hạn, vì cả hai khả năng này đều có thể xảy ra (Vũ trụ có thể là hữu hạn nhưng không có một biên giới cụ thể nào).

Lịch sử khám phá[sửa | sửa mã nguồn]

Universum – C. Flammarion, tranh khắc gỗ, Paris năm 1888, màu sắc do Heikenwaelder Hugo, Viên năm 1998
Hệ địa tâm của Aristotle và Claudius Ptolemaeus

Các mốc chính trong lịch sử khám phá vũ trụ của loài người:

Những kiến thức này được người Ả Rập học lại. Khi người Ả Rập mở rộng ảnh hưởng, quyển sách Almagest của Claudius Ptolemaeus với mô hình vũ trụ địa tâm được truyền bá.

Cuộc cách mạng Copernic đã đảo lộn lại quan niệm địa tâm:

Các tiến bộ về kỹ thuật quan sát thiên văn trong thế kỷ 20 đã mở ra một loạt khám phá về các vật thể kỳ lạ trong vũ trụ (như các sao trong giai đoạn phát triển khác nhau), về cấu trúc vĩ mô của vũ trụ (gồm các sao tụ tập trong các thiên hà và các nhóm thiên hà), và đặc biệt là xu thế giãn nở của vũ trụ, quan sát bởi Edwin Hubble.

Quan sát về sự giãn nở của vũ trụ là một trong các tiền đề để xây dựng nên mô hình về sự tiến hóa của vũ trụ được công nhận rộng rãi nhất hiện nay, mô hình Vụ Nổ Lớn.

Lý thuyết Vụ Nổ Lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vụ Nổ Lớn
Theo thuyết Vụ Nổ Lớn, vũ trụ bắt nguồn từ một trạng thái vô cùng đặc và vô cùng nóng (điểm dưới cùng). Từ đó, không gian đã mở rộng cùng với thời gian và làm cho các thiên hà di chuyển xa nhau hơn.
Xem thêm Lịch sử vũ trụ, Tuổi vũ trụ

Từ quan sát dịch chuyển đỏ của các thiên hà chúng ta có bằng chứng rằng vũ trụ đang nở ra, theo định luật Hubble. Quay ngược về quá khứ, ta sẽ gặp đến một điểm kỳ dị hấp dẫn, một khái niệm mang tính chất toán học, có thể không thực sự trùng với sự thật. Đây là cơ sở để hình thành lý thuyết Vụ Nổ Lớn, lý thuyết được công nhận nhiều nhất trong vũ trụ học ngày nay. Lý thuyết này cộng với các tiến bộ trong quan sát (Máy đo định hướng vi sóng Wilkinson, WMAP, của NASA) đã ước lượng tuổi vũ trụ vào khoảng 13,8 tỷ (13,8 × 109) năm, với sai số cỡ 1% (± 170 triệu năm). Độ chính xác này dựa trên giả thuyết là các lý thuyết dùng trong xử lý kết quả đo đạc là đúng. Nhiều phép đo khác cho những kết quả dao động từ 10 đến 15 tỷ năm.

Các quan sát nền tảng của thuyết Vụ Nổ Lớn gồm có:

  • Các thiên hà ở càng xa càng chuyển động ra xa nhanh hơn.
  • Phông vi sóng vũ trụ, có nhiều khả năng là các bức xạ tàn dư từ thời kỳ đầu của Vụ Nổ Lớn, nay đã bị dịch chuyển đỏ đến mức có tần số của chúng nằm trong vùng vi sóng. Nền bức xạ này rất đẳng hướng có thể giải thích bởi lạm phát vũ trụ ngay sau Vụ Nổ Lớn.
  • Tỷ lệ các nguyên tố nặng tăng dần qua các thế hệ sao nhờ tổng hợp trong các phản ứng năng lượng cao.
  • Phân bố và tiến hóa về hình dáng và thành phần hóa học của các thế hệ thiên hà.

Kích thước của vũ trụ và vũ trụ quan sát được[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ trụ là vô cùng lớn. Vấn đề vũ trụ thực tế là vô hạn hay hữu hạn hiện vẫn còn nhiều tranh luận.

Vũ trụ quan sát được, gồm tất cả mọi nơi có thể có tác động đến con người kể từ Vụ Nổ Lớn, chắc chắn là hữu hạn, do tốc độ truyền tương tác không vượt quá tốc độ ánh sáng. Rìa của chân trời vũ trụ cách chúng ta 13,7 tỷ năm ánh sáng. Do vũ trụ đã không ngừng nở, tại thời điểm hiện nay, rìa đó đã đi được đến khoảng cách khoảng 46,6 tỷ năm ánh sáng (4.4 × 1023 km), là bán kính của Vũ trụ quan sát được (tức là một khối cầu có tâm tại điểm quan sát của chúng ta trên Trái Đất).[3] Như vậy, thể tích đồng hành của vũ trụ quan sát được là 4,2 × 1032 năm ánh sáng khối. Chúng ta nằm ngay tại tâm của vũ trụ quan sát được, nhưng không phải tại tâm của toàn thể vũ trụ. Và do đó diều này hoàn toàn phù hợp với nguyên lý Copernic, nói rằng vũ trụ là đồng nhất và không có tâm. Khi chúng ta nhìn càng xa, thì tức là chúng ta càng nhìn về quá khứ, và giới hạn là tại thời điểm khi Vụ Nổ Lớn mới xảy ra. Vì ánh sáng chuyển động với cùng vận tốc theo mọi hướng đến chúng ta, do đó chúng ta nằm ở tâm của vũ trụ quan sát được.

Để tiện so sánh, ta biết rằng đường kính của một thiên hà điển hình chỉ là 30 nghìn năm ánh sáng, và khoảng cách điển hình giữa hai thiên hà lân cận chỉ là 3 triệu năm ánh sáng.[4] Thí dụ, Thiên hà của chúng ta có đường kính khoảng 100 nghìn năm ánh sáng [5] và thiên hà gần nhất, thiên hà Andromeda, cách chúng ta khoảng 2,5 triệu năm ánh sáng.[6]

Vũ trụ quan sát được chứa nhiều hơn 80 tỷ thiên hà, được nhóm lại trong quần thiên hà và siêu quần thiên hà. [7]. Những thiên hà điển hình bao gồm từ những thiên hà lùn với chỉ khoảng 10 triệu (107) sao[8] tới những thiên hà kềnh với một nghìn tỷ (1012) sao,[9] tất cả quay xung quanh khối tâm của thiên hà. Như vậy từ những con số này có thể đưa ra một ước tính cho thấy rằng có khoảng một nghìn tỷ tỷ (1021) sao. Số lượng thiên hà, theo quan sát bởi Hubble Deep Field của kính viễn vọng không gian Hubble, có thể lớn hơn ước lượng trên. Theo một nghiên cứu năm 2010 bởi các nhà thiên văn học số các ngôi sao trong Vũ trụ quan sát được lên tới 300 nghìn tỷ tỷ (3×1023).[10]

Ngày 21 tháng 3, 2013, nhóm nghiên cứu ở châu Âu dựa trên kính Planck cosmology probe đã công bố bản đồ không gian về bức xạ phông vi sóng vũ trụ.[11][12][13][14][15] Bản đồ thể hiện rằng vũ trụ hơi già hơn người ta từng nghĩ, tho đó, những dao động rất nhỏ về nhiệt độ được ghi lạ trong bầu trời sâu thẩm của vũ trụ có tuổi khoảng 370.000 năm. Dấu ấn này phản ánh sự gợn sóng đã tăng lên từ sớm, trong sự tồn tại của vũ trụ, vào khoảng (10−30) giây đầu tiên. Rõ ràng, những gợn sóng này đã dẫn đến một mạng lưới vũ trụ rộng lớn của các cụm thiên hà và vật chất tối. Theo nhóm nghiên cứu, vũ trụ có tuổi khoảng 13,798 ± 0,037 tỉ năm,[16][17] và chứa 4,9% vật chất, 26,8% vật chất tối và 68,3% năng lượng tối. Cũng như Hằng số Hubble được đo đạc là 67,80 ± 0,77 (km/s)/Mpc.[11][12][13][15][17]

Phân tích trước đó về quan sát vũ thiên văn chỉ ra rằng vũ trụ có tuổi 13,772 ± 0,059 tỉ năm,[18] và có đường kính ít nhất 93 tỉ năm ánh sáng hay 8,80×1026 met.[2]

Mật độ vật chất trong vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Trên cơ sở quan sát được: 3 × 10−31g/cm3.

Giả định (kể cả vật chất tối): 10−30 - 10−29g/cm3.

Các quần thiên hà: 5 × 10−28g/cm3.

Khí giữa các sao: 3 × 10−25 - 10−24g/cm3.

Thiên Hà: 2 × 10−24g/cm3.

Lỗ đen (mật độ Plank, giả định): 5 × 1093g/cm3.

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Các quan sát về vũ trụ hiện nay cho thấy nó là một không-thời gian phẳng (trên thang vĩ mô) chứa mật độ năng lượng-khối lượng 9,9 × 10−30 gam trên xentimét khối. Trong đó có 68,3% năng lượng tối (suy từ hình dạng không thời gian), 26,8% vật chất tối (suy từ quỹ đạo cả các thiên hà và đo đạc về lỗ đen) và 4,9% các nguyên tố hóa học (suy từ quan sát các thiên thể phát ra ánh sáng hay bức xạ điện từ).[1] Bản chất của vật chất tối và năng lượng tối vẫn chưa được hiểu kỹ.

Trong thời kỳ đầu của Vụ Nổ Lớn, vật chất thông thường và phản vật chất cùng được sinh ra với khối lượng bằng nhau. Tuy nhiên, do vi phạm đối xứng CP, lượng vật chất thông thường dần chiếm tỷ lệ cao hơn. Phần vật chất và phản vật chất còn lại tự hủy cặp với nhau để sinh ra photon, và vũ trụ còn lại lượng vật chất thông thường dư thừa như ngày nay.[19]

Trước khi những sao đầu tiên hình thành, thành phần hóa học của vũ trụ chứa chủ yếu hydro (75% khối lượng tổng cộng), và một phần helium-4 (4He) (24% khối lượng tổng cộng) cùng với một chút các nguyên tố hóa học còn lại.[20] Một lượng nhỏ là đồng vị đơtơri, 3He và liti (7Li).[21] Sau đó, qua các thế hệ sao sinh ra và chết đi, không gian giữa các sao được bổ sung thêm các sản phẩm của các phản ứng nhiệt hạch, thường được phóng ra bởi các vụ nổ của siêu tân tinh, gió sao...[22]

Vụ Nổ Lớn còn để lại là một lượng lớn các photon (ở dạng bức xạ nền đã quan sát được) và neutrino. Nhiệt độ của bức xạ nền giảm đều đặn khi vũ trụ nở ra, và nay xuống còn 2,725 K, ứng với cực đại bức xạ ở sóng vi ba.[23] Mật độ của nền neutrino ngày nay vào khoảng 150 hạt trên xentimét khối.[24]

Hình dáng vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm Hình dáng vũ trụ, Cấu trúc vĩ mô của vũ trụ

Hình dáng vũ trụ là một câu hỏi quan trọng trong vũ trụ học.

Câu hỏi đầu tiên là vũ trụ của chúng ta "phẳng" và tuân thủ hình học Euclid trên khoảng cách vĩ mô, hay không? Hiện nay, đa số các nhà vũ trụ học tin là vũ trụ quan sát được khá phẳng, chỉ có những chỗ không-thời gian méo địa phương do sự tập trung mật độ vật chất cao bất thường (như ở hố đen). Nhận xét này được củng cố bởi bằng chứng thực nghiệm của WMAP, một thí nghiệm nhìn vào "dao động" của phông vi sóng vũ trụ.

Câu hỏi thứ hai là vũ trụ của chúng ta có đa liên thông hay không? Theo mô hình của Vụ Nổ Lớn, vũ trụ của chúng ta không có biên giới, nhưng vẫn có thể chỉ chứa lượng không gian hữu hạn. Điều này tương tự như bề mặt của hình cầu: bề mặt này không có biên giới, nhưng diện tích bề mặt hữu hạn (4 \pi R^2); chúng ta đi trên bề mặt này theo một "đường thẳng" thì rồi sẽ lại vòng về chỗ cũ. Ví dụ ba chiều tương đương gọi là "không gian cầu" khám phá bởi Bernhard Riemann, với thể tích (2 \pi^2 R^3). Nếu vũ trụ của ta cũng tương tự vậy, khi ta đi theo "đường thẳng", ta sẽ trở lại điểm xuất phát sau khi đã đi hết "chu vi" của vũ trụ. Điều này cũng dẫn đến một kết quả thú vị là ta có thể nhìn thấy nhiều ảnh của cùng một ngôi sao, do ánh sáng từ nó có thể đi nhiều vòng quanh vũ trụ trước khi đến mắt ta (tương tự như nhiều ảnh của một ngọn nến nằm giữa hai gương song song). Câu hỏi này còn chưa được trả lời một cách dứt khoát, nhưng với kết quả về vũ trụ phẳng, khả năng về một vũ trụ đa liên thông là thấp.

Tương lai của vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ thuộc vào mật độ vật chấtnăng lượng trong vũ trụ của chúng ta mà nó sẽ tiếp tục nở ra mãi mãi hoặc nở ra chậm dần do lực hấp dẫn rồi sụp đổ trở lại, tạo thành Vụ Sập Lớn. Các bằng chứng quan sát hiện nay cho thấy mật độ vật chất trong vũ trụ không đủ lớn để giảm sự giãn nở, mà thậm chí sự giãn nở này sẽ tăng tốc mãi mãi.

Năm 1924, Hubble (1889-1935) nhờ kính thiên văn dài 2,5m trên núi Wilson, lần đầu tiên phát hiện được các sao xepheit trong tinh vân Andromede đã tính toán được khoảng cách của chúng và xác lập được rằng thiên hà này ở ngoài dải Ngân hà. Điều này chứng minh rằng ngoài thiên hà của chúng ta còn tồn tại các thiên hà khác nằm ngoài thiên hà của chúng ta. Năm 1928, ông phát hiện ra rằng các thiên hà có phổ dịch về phía đỏ và khi chấp nhận đó là do hiệu ứng Doppler và từ những quan sát của mình, ông đưa ra một qui luật các thiên hà chuyển động ra xa nhau, thiên hà ở càng xa thì chuyển động càng nhanh: V=H.d (V là vận tốc chạy ra xa của một thiên hà ở khoảng cách d; H, hằng số Hubble, nó có giá trị khoảng 25 km/s đối với mỗi triệu năm ánh sáng). Nếu thuyết tương đối là đúng thì điều đó có nghĩa là Vũ trụ đang giãn nở. Đa số các nhà vật lý thiên văn ngày nay đều thừa nhận điều này. Theo những quan sát được thực hiện năm 1998 tại Đại học Seattle, thì vũ trụ giãn nở mãi mãi và được gia tốc.

Đa vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Có giả thuyết là có nhiều vũ trụ cùng tồn tại, trong một cấu trúc ở mức độ cao hơn gọi là đa vũ trụ (en:multiverse). Vũ Trụ của chúng ta chỉ là một trong số các vũ trụ trong đa vũ trụ. Ví dụ, vật chất rơi vào hố đen trong Vũ Trụ của chúng ta sẽ có thể hiện ra thành "Vụ Nổ Lớn" bắt đầu một vũ trụ khác. Tuy vậy các giả thuyết kiểu này hiện không thể có gì kiểm chứng được. Ngoài ra vì vũ trụ rộng lớn hơn mấy tỷ năm ánh sáng nên chúng ta không có đủ nguyên liệu để tìm hiểu xem sức lớn của vũ trụ.

Tuy nhiên, theo tính toán thì có giả thiết cho rằng có tất cả 4 mức đa vũ trụ[25]. Tự nhiên luôn tuân theo một quy luật nhất định từ vi mô đến vĩ mô vũ trụ cũng không nằm ngoài quy luật này. Ta tưởng vũ trụ của chúng ta là một nguyên tử thì các hành tinh của vũ trụ chúng ta là các electron chuyển động theo các quỹ đạo xác định và trung tâm của vũ trụ chúng ta cũng như nhân của phân tử theo thuyết này thì vũ trụ mà ta đang sống là một không gian vô hạn không xác định được trong đó luôn tồn tại các hệ vũ trụ khác nhau.

Phản vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Phản vũ trụ (phản thế giới) là giả thiết về một vũ trụ cấu thành bởi các thành phần phản vật chất, có thể tuân theo những nguyên tắc vật lý khác với các nguyên tắc vật lý chúng ta hiện có. Phản vũ trụ là một không gian được cấu thành từ các thành phần phản vật chất. Nó không có những tính chất vật lý như chúng ta đã biết. Tính chất của phản vũ trụ hoàn toàn trái ngược với vũ trụ của chúng ta. Nó tồn tại song song với vũ trụ của chúng ta nhưng cách xa. Nó được hình thành cùng với vụ nổ lớn. Trường hợp khi phản vũ trụ trên gần với vũ trụ chúng ta thì sẽ tạo nên một không gian mới đó là không gian phi vật chất, khi đó vũ trụ chúng ta sẽ biến mất.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Planck reveals an almost perfect universe”. Planck. ESA. 21 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  2. ^ a ă Lineweaver, Charles; Tamara M. Davis (2005). “Misconceptions about the Big Bang”. Scientific American. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2008. 
  3. ^ Lineweaver, Charles; Tamara M. Davis (2005). “Misconceptions about the Big Bang”. Scientific American. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007. 
  4. ^ Rindler (1977), p.196.
  5. ^ Christian, Eric; Samar, Safi-Harb. “How large is the Milky Way?”. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2007. 
  6. ^ I. Ribas, C. Jordi, F. Vilardell, E.L. Fitzpatrick, R.W. Hilditch, F. Edward (2005). “First Determination of the Distance and Fundamental Properties of an Eclipsing Binary in the Andromeda Galaxy”. Astrophysical Journal 635: L37–L40. doi:10.1086/499161. 
    McConnachie, A. W.; Irwin, M. J.; Ferguson, A. M. N.; Ibata, R. A.; Lewis, G. F.; Tanvir, N. (2005). “Distances and metallicities for 17 Local Group galaxies”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 356 (4): 979–997. doi:10.1111/j.1365-2966.2004.08514.x. 
  7. ^ Mackie, Glen (1 tháng 2 năm 2002). “To see the Universe in a Grain of Taranaki Sand”. Swinburne University. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2006. 
  8. ^ “Unveiling the Secret of a Virgo Dwarf Galaxy”. ESO. 3 tháng 5 năm 2000. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2007. 
  9. ^ “Hubble's Largest Galaxy Portrait Offers a New High-Definition View”. NASA. 28 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2007. 
  10. ^ Vergano, Dan (1 tháng 12 năm 2010). “Universe holds billions more stars than previously thought”. USA Today. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2010. 
  11. ^ a ă “Planck Reveals An Almost Perfect Universe”. ESA. 21 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  12. ^ a ă Clavin, Whitney; Harrington, J.D. (21 tháng 3 năm 2013). “Planck Mission Brings Universe Into Sharp Focus”. NASA. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  13. ^ a ă Overbye, Dennis (21 tháng 3 năm 2013). “An Infant Universe, Born Before We Knew”. New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  14. ^ “Mapping the Early Universe”. New York Times. 21 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013. 
  15. ^ a ă Boyle, Alan (21 tháng 3 năm 2013). “Planck probe's cosmic 'baby picture' revises universe's vital statistics”. NBC News. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên planck_cosmological_parameters
  17. ^ a ă Ade, P. A. R.; Aghanim, N.; Armitage-Caplan, C.; et al. (Planck Collaboration) (20 tháng 3 năm 2013). “Planck 2013 results. I. Overview of products and scientific results”. Astronomy & Astrophysics (submitted). arXiv:1303.5062. Bibcode:2013arXiv1303.5062P. 
  18. ^ Bennett, C.L.; Larson, L.; Weiland, J.L.; Jarosik, N.; Hinshaw, N.; Odegard, N.; Smith, K.M.; Hill, R.S. và đồng nghiệp (20 tháng 12 năm 2012). Nine-Year Wilkinson Microwave Anisotropy Probe (WMAP) Observations: Final Maps and Results. arXiv:1212.5225. Bibcode:2012arXiv1212.5225B. 
  19. ^ “Antimatter”. Particle Physics and Astronomy Research Council. 28 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2006. 
  20. ^ Wright, Edward L. (12 tháng 9 năm 2004). “Big Bang Nucleosynthesis”. UCLA. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2007. 
  21. ^ M. Harwit, M. Spaans (2003). “Chemical Composition of the Early Universe”. The Astrophysical Journal 589 (1): 53–57. 
  22. ^ C. Kobulnicky, E. D. Skillman (1997). “Chemical Composition of the Early Universe”. Bulletin of the American Astronomical Society 29: 1329. 
  23. ^ Hinshaw, Gary (15 tháng 12 năm 2005). “Tests of the Big Bang: The CMB”. NASA WMAP. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007. 
  24. ^ Dumé, Belle (16 tháng 6 năm 2005). “Background neutrinos join the limelight”. Institute of Physics Publishing. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007. 
  25. ^ The Four Multiverse Levels, Max Tegmark, Học viện Công nghệ Massachusetts

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]