Sóng hấp dẫn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong vật lý học, sóng hấp dẫn là những gợn của độ cong của không thời gian lan truyền từ nguồn ra bên ngoài như sóng. Hoặc là những dao động của không-thời gian bắt nguồn từ sự gia tốc của các dạng khối lượng và năng lượng. Albert Einstein lần đầu tiên tiên đoán tồn tại sóng hấp dẫn vào năm 1916[1] dựa trên cơ sở của thuyết tương đối rộng,[2] và sóng hấp dẫn cũng mang theo năng lượng và đôi khi còn được coi là bức xạ hấp dẫn (gravitational radiation). Các nguồn phát ra sóng hấp dẫn mà về thực nghiệm có thể đo được sóng bao gồm hệ sao đôi hoặc sao ba chứa các sao lùn trắng, sao neutron, hoặc lỗ đen. Sự tồn tại của sóng hấp dẫn là hệ quả của tính bất biến Lorentz trong thuyết tương đối tổng quát vì sự giới hạn tối đa cho phép truyền đi của tương tác trong vật lý đó là tốc độ ánh sáng. Sự tồn tại của Sóng hấp dẫn không thể suy luận từ lý thuyết hấp dẫn của Isaac Newton khi ông coi tương tác hấp dẫn có tầm tác dụng tức thì.

Mặc dù bức xạ hấp dẫn vẫn chưa được đo một cách trực tiếp, đã có những kết quả thực nghiệm gián tiếp chứng tỏ chúng thực sự tồn tại. Ví dụ, giải Nobel Vật lý năm 1993 đã được trao vì những kết quả theo dõi và đo lường từ hệ sao đôi Hulse–Taylor chứng tỏ sóng hấp dẫn có hệ quả vật lý hơn là những suy luận toán học từ phương trình trường Einstein. Cho đến nay đã có một số máy dò sóng hấp dẫn hoạt động trên mặt đất dưới nhiều phương pháp thăm dò khác nhau; như sử dụng giao thoa kế laser, hay sự giao thoa của các nguyên tử siêu lạnh, xác định sự biến đổi trong thời gian đến Trái Đất của các tín hiệu từ pulsar, xác định sự giảm chu kỳ quỹ đạo trong các hệ sao đôi, hoặc phát hiện những dấu vết của sóng hấp dẫn nguyên thủy tác dụng lên bức xạ nền vi sóng vũ trụ.

Ngày 17 tháng 3 năm 2014, các nhà thiên văn tại Trung tâm thiên văn vật lý Harvard–Smithsonian công bố rằng họ đã phát hiện và chụp được "những hình ảnh về dấu vết trực tiếp của sóng hấp dẫn trong bức xạ nền vi sóng vũ trụ", qua đó cũng cung cấp một chứng cứ mạnh cho giả thuyết về sự phình to vũ trụ và lý thuyết Vụ Nổ Lớn.[3][4][5][6] Các nhà khoa học đang có những đánh giá độc lập và thu thập dữ liệu từ những thí nghiệm khác để có thể khẳng định chắc chắn kết quả này.[7]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Finley, Dave. “Einstein's gravity theory passes toughest test yet: Bizarre binary star system pushes study of relativity to new limits.”. Phys.Org. 
  2. ^ http://www.dpf99.library.ucla.edu/session14/barish1412.pdf The Detection of Gravitational Waves using LIGO, B. Barish
  3. ^ Staff (17 tháng 3 năm 2014). “BICEP2 2014 Results Release”. National Science Foundation. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2014. 
  4. ^ “"First Direct Evidence of Cosmic Inflation"”. http://www.cfa.harvard.edu. Harvard-Smithsonian Center for Astrophysics. 17 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2014. 
  5. ^ Clavin, Whitney (17 tháng 3 năm 2014). “NASA Technology Views Birth of the Universe”. NASA. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2014. 
  6. ^ Overbye, Dennis (17 tháng 3 năm 2014). “Detection of Waves in Space Buttresses Landmark Theory of Big Bang”. New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2014. 
  7. ^ Cosmic inflation: 'Spectacular' discovery hailedAstronomers discover echoes from expansion after Big BangGravitational Waves: The Big Bang's Smoking GunGravitational Waves from Big Bang Detected

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]