Vũ trụ quan sát được

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vũ trụ khả kiến với Siêu đám Xử Nữ được đánh dấu
UDFj-39546284, thiên hà đang giữ kỷ lục về khoảng cách

Vũ trụ quan sát được của con ngườiTrái Đấttập hợp tất cả các sự vật, hiện tượng có thể tác động tới loài người mà con người với các phương tiện thiên văn có thể nhận biết trong thời điểm hiện tại.

Các nghiên cứu khoa học hiện đại thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đưa đến nhiều khả năng rằng phần quan sát được của vũ trụ là có giới hạn. Vật thể xa nhất mà con người đã quan sát được tính đến 26/1/2011 có lẽ là thiên hà UDFj-39546284, với dịch chuyển đỏ z[nb 1] được ghi nhận xấp xỉ 10, tương ứng với thời gian ánh sáng di chuyển trong 13,2 tỉ năm, hay ở khoảng cách đồng chuyển động đến chúng ta khoảng 31,7 tỷ năm ánh sáng tính cả sự giãn nở của vũ trụ.[1]

Lịch sử nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Lịch sử thiên văn học.
Observable universe logarithmic illustration.png

Cùng với lịch sử quan sát thế giới nói chung và lịch sử quan sát thiên văn nói riêng, quan niệm của con người về vũ trụ ngày càng mở rộng. Khởi đầu bằng các quan sát về các hiện tượng thời tiết, sự mọc và lặn của Mặt Trời, người Babylon cách đây 4000 năm đã tính ra nhật thực, nguyệt thực và xây dựng âm lịch. Thuyết địa tâm của Claudius Ptolemaeus (90-168) hình dung vũ trụ là một quả cầu với Trái Đất ở tâm, mặt Trời, các hành tinh và các thiên thể khác quay xung quanh.

Thuyết nhật tâm được phát triển bởi Nicolaus Copernicus (1473-1543), Galileo Galilei (1564-1642) và Johannes Kepler (1571-1630) thay thế cho thuyết địa tâm với giả thiết chính rằng mặt Trời ở giữa, Trái Đất và các hành tinh quay xung quanh đã mở ra một bước tiến mới trong nhận thức vũ trụ.

Các học thuyết hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Các quan sát thực nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chỉ số z cho dịch chuyển đỏ được tính theo công thức
    Chỉ số dịch chuyển đỏ, z
    Theo bước sóng Theo tần số
    z = \frac{\lambda_{\mathrm{obsv}} - \lambda_{\mathrm{emit}}}{\lambda_{\mathrm{emit}}} z = \frac{f_{\mathrm{emit}} - f_{\mathrm{obsv}}}{f_{\mathrm{obsv}}}
    1+z = \frac{\lambda_{\mathrm{obsv}}}{\lambda_{\mathrm{emit}}} 1+z = \frac{f_{\mathrm{emit}}}{f_{\mathrm{obsv}}}

    Với

    \lambda_{\mathrm{obsv}}\lambda_{\mathrm{emit}}: bước sóng quan sát và phát xạ
    f_{\mathrm{obsv}}f_{\mathrm{emit}}: tần số quan sát và phát xạ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hubble finds a new contender for galaxy distance record” (Thông cáo báo chí). Kính viễn vọng không gian Hubble. 26/1/2011. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]