Văn minh cổ Babylon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Văn minh cổ Babylon là một vùng văn hóa cổ ở trung tâm phía nam Lưỡng Hà (ngày nay là Iraq), với thủ đô là Babylon. Nền văn minh này xuất hiện khi Hammurabi thành lập đế chế tách khỏi lãnh thổ của đế chế Akkadia trước đó. Người Babylon thời cổ đã giữ lại tiếng Akkad và xem là ngôn ngữ chính thức, mặc dù những người Amorites - kẻ sáng lập ra nền văn minh này, không phải là người Akkad bản địa. Các phong tục văn hóa truyền thống của người Sumer được giữ lại, kế thừa và dần dần đóng một vai trò quanb trong trong việc đưa nền văn minh này trở thành một trung tâm quan trọng, không những với người Babylon mà còn đối với cả thế giới thời kỳ đó. Các tài liệu đầu tiên có viết về thành phố này được các nhà khảo cổ học phát hiện trong một di tích (không rõ di tích nào) có từ thời Sargon xứ Akkad, khoảng thế kỷ XXIII TCN. Babylon lúc đó đơn thuần chỉ là một trung tâm văn hóa, tôn giáo, chứ chưa phải là một nhà nước độc lập. Khi Đế chế Akkad đã thống nhất vùng đất này, Babylon thực chất là vùng bán độc lập, giành được quyền tự trị tạm thời. Dưới sự thống trị của Akkad, Gutian và đế quốc Ur (triều đại III), người dân Babylon đã nhiều lần khởi nghĩa chống lại người ngoại tộc, và cuối cùng năm 1894, người Amorites, một nhánh của tộc người Semites đã đánh bại ngoại tộc, giành thắng lợi và thành lập nhà nước Babylon rộng lớn ở khắp miền Nam Lưỡng Hà. Trong thời gian vương quốc Babylon ra đời, người Assyria ở phía bắc (thượng du sông Tigris) dưới sự lãnh đạo của Erishum cũng giành được độc lập và thành lập vương quốc Assyria (1905 TCN) với đô thành đầu tiên, thành Ashur. Sau khi Assyria thành lập ít lâu, các quốc gia khác của người Amorites cũng nối tiếp nhau thành lập như Isin, Larsa sau sự kiện Shamshi-Adad I (1813 - 1791 TCN) cướp ngôi vua trước đó (1813 TCN) và thành lập đế chế khá ngắn ngủi. Triều đại đầu tiên của người Amorites đã xây dựng thành phố Babylon, nơi mà sau này trở thành đế quốc Cổ Babylon, một trong những đế quốc cổ nhất trong lịch sử thế giới.

Văn minh cổ Babylon (2024 TCN đến 1595 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Cổ Babylon

Trong thiên niên kỷ thứ III TCN, sau khi lật đổ triều đại Ur, hai tộc người Elamngười Amorites đã dần liên kết, liên minh với nhau về văn hóa. Các ảnh hưởng của hai tộc người này thể hiện rất rõ trong nhiều lĩnh vực, từ việc mở rộng vốn từ vựng, cấu trúc ngữ pháp, hình thái học và âm vị học. Cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, tiếng Amorites (có tài liệu nói là tiếng Akkad) dần dần thay thế tiếng Sumer và trở thành ngôn ngữ chính của vùng đất này.

Vương triều thứ nhất, thời kỳ Amorites

Các vị vua vương triều thứ nhất:

  1. Sumu-abum: 1894 — 1881 TCN
  2. Sumu-la-El: 1880 — 1844 TCN
  3. Sabium or Sabum: 1844 — 1830 TCN
  4. Apil-Sin: 1829 — 1811 TCN
  5. Sin-muballit: 1811 — 1792 TCN
  6. Hammurabi: 1792 — 1750 TCN
  7. Samsu-iluna: 1750 — 1712 TCN
  8. Abi-eshuh: 1711 — 1684 TCN
  9. Ammi-ditana: 1683 — 1640 TCN
  10. Ammisaduqa: 1640 - 1626 TCN
  11. Samsu-Ditana: 1626 - 1595 TCN

Nhà nước độc lập Babylon được thành lập bởi vị thủ lĩnh người Amorites là Sumuabum vào năm 1894 TCN. Ban đầu. Cổ Babylon không có gì nổi bật, và bị lu mở bởi một loạt các nước phát triển hơn trước đó, Larsa, Isin, Elam va Assyria. Babylon vẫn tiếp tục là một vương quốc trẻ cho đến thời kỳ cai trị của vị vua thứ sáu của nó, vua Hammurabi, con trai của Sinmuballit (1792 - 1750 TCN). Ông là một người cai trị giỏi, thiết lập bộ máy chính quyền quan liêu, thu nhiều thứ thuế và nhanh chóng lập lại sự ổn định sau thời kỳ hỗn loạn trước đó. Chính nhờ ông mà vương quốc Cổ Babylon trở thành cường quốc, trung tâm văn hóa - chính trị lớn nhất ở vùng Mesopotamia. Một trong những thành tựu quan trọng nhất của triều đại này, đó là việc xuất hiện một bộ luật mới có tên "Luật Hammurabi", được vua ban hành sau khi đánh bại người Elam ở Larsa, Isin. Năm 1901, J. De Morgan và Jean Vincent Scheil (1858 - 1940) đã tìm ra được nguyên bản của bộ luật này ở Susa, sao chéo nó rồi đem về nước dịch thuật. Nguyên bản của bộ luật hiện được lưu giữ ở bảo tàng Louvre (Pháp). Các vị vua tiếp theo, có lẽ do ảnh hưởng của người Canaan nên cho đổi tên hiệu mình theo tên người Canaan: Abi-Eshuh và Ammisaduqa.

Quân đội của Babylon thời Hammurabi tổ chức rất kỷ luật, đã nhiều lần đánh thắng quân đội của các vương quốc kế cận nó như Isin, Eshnunna, Uruk, Mari. Ở phía bắc, quân đội của Hammurabi cũng giành thắng lợi trước quân Assyria sau cuộc đọ sức bất phân thắng bại của ông với vua Assyrian Ishme-Dagan, giành được quyền kiểm soát Lưỡng Hà. [3]

Người Babylon truyền thống rất tôn thờ vị thần chủ của Babylon, thần Marduk, coi ngài là thần chủ của toàn bộ Lưỡng Hà, kể cả vùnh phía nam ít dưới sự kiểm soát của Trung ương.

Người Babylon, cũng giống như những tộc người trước, tham gia hoạt động thương mại liên tục với người Amories, người Canaan. Các quan chức thì tự do dẫn dắt quân đội đi đến Levant và Canaan, có lẽ để kết liên minh hay mở rộng buôn bán với họ. Các thương nhân được tự do buôn bán khắp vùng Lưỡng Hà. Một người Amorites (có lẽ là quý tộc) sống vào thời Hammurabi, công nhận các chiến công của người cháu của vua là Ammi-Ditana, gọi với biệt danh mỹ miều: Vua của vùng đất Amori.

Tuy nhiên, miền Nam do khá bằng phẳng, không có địa hình hiểm trở nên liên tục bị các tộc người du mục từ các vùng khác tấn công. Sau cái chết của Hammurabi, đế chế của ông bắt đầu tan rã nhanh chóng. Dưới thời vị vua kế vị ông là Samsu-iluna (1750 - 1712 TCN), miền Nam Lưỡng Hà đã bị một vị thủ lĩnh người Akkad bản địa có tên gọi là Ilum-ma-ilī đã đánh chiếm và thành lập triều đại Sealand làm chủ khu vực này 272 năm. Ở phía bắc, vương quốc Babylon và cả Amori bị người Assyria dưới sự chỉ huy của Thống đốc Assyria thuộc Babylon Puzur-Sin tràn xuống đánh chiếm một vùng rộng lớn, sau đó đã đặt Adasi lên làm vua vùng đất mới đánh chiếm này. Triều đại Babylon tiếp tục thống trị 150 năm nữa, cho đến vị vua thứ 11 của triều đại, vua Samsu-Ditana. Ông bị lật đổ sau cuộc bao vây thành Babylon ác liệt của quân Hittit do vua Mursili I cầm đầu, và ngôi thành đã bị quân Hittit tàn phá hết. Sau đó, Babylon rơi vào tay người Catsites, một tộc người mà của Samsu-iluna đã tấn công họ trong năm thứ 6 của mình.

Cùng thời với đế quốc Cổ Babylon, vào thời Samsu-iluna người Sumer thành lập một triều đại mới là triều Sealand, được xem như triều đại thứ hai của Babylon, cai trị từ 1732 - 1460 TCN, và có lẽ triều đại này cũng ra đời, tồn tại song song với đế chế Assyria lúc đó. Triều đại này đóng đô ở một tỉnh phía nam đế quốc Cổ Babylon, nằm gần 2 sông lớn nhất Lưỡng Hà. Vị vua thứ ba của triều đại này hình như có quan hệ với vua Damiq-ilišu của vương quốc Isin. Họ sử dụng tiếng Akkad làm ngôn ngữ chính.

Các vị vua:

  1. Ilum-ma-ilī: 1732 - 1672 TCN
  2. Itti-ili-nībī: 1671 - 1615 TCN
  3. Damqi-ilišu II: 1614 - 1578 TCN
  4. Iškibal: 1577 - 1562 TCN
  5. Šušši: 1561 - 1537 TCN
  6. Gulkišar 55 years
  7. DIŠ-U-EN [ i 4 ]
  8. Pešgaldarameš, 50 years
  9. Ayadaragalama, 28 years
  10. Akurduana 26 years
  11. Melamkurkurra 7 years
  12. Ea-gam, 9 year

Vương quốc Babylon thuộc Kassites

Triều đại Kassites ở Babylon được lập bởi Agum, vị thủ lĩnh tối cao của người Kassites thời đó. Người Kassites có gốc ở vùng núi Zagros ở Lorestan (nay thuộc Iran), không phải giống người thuộc chủng Ấn - Âu hay Do Thái. Nhiều nhà nghiên cứu xác định, ngôn ngữ người Kassies dùng có liên quan đến ngôn ngữ của người Hurrian. Họ xuất hiện lần đầu tiên ở Lưỡng Hà sau cuộc tấn công Babylon vào năm thứ 9 của triều vua Samsu-iluna. Sau khi đánh chiếm Babylon, người Kassites đổi tên thành Babylon thành tên "Kar-Duniash", thống trị Babylon đến 576 năm, một triều đại dài nhất trong lịch sử Babylon (triều đại Sealand).

Các vua triều Kassites: (1570 - 1165 TCN)

  1. Agum II: 1570 TCN
  2. Burnaburiash I
  3. Kashtiliash III
  4. Ulamburiash
  5. Agum III
  6. Karaindash
  7. Kadashman-harbe I
  8. Kurigalzu I: 1415 - 1390 TCN
  9. Kadashman-Enlil I: 1390 — 1360 TCN
  10. Burnaburiash II: 1359 — 1333 TCN
  11. Kara-hardash: 1333 TCN
  12. Nazi-Bugash or Shuzigash: 1333 TCN
  13. Kurigalzu II: 1332 — 1308 TCN
  14. Nazi-Maruttash: 1307 — 1282 TCN
  15. Kadashman-Turgu: 1281 — 1264 TCN
  16. Kadashman-Enlil II: 1263 — 1255 TCN
  17. Kudur-Enlil: 1254 — 1246 TCN
  18. Shagarakti-Shuriash: 1245 — 1233 TCN
  19. Kashtiliashu IV: 1232 — 1225 TCN
  20. Enlil-nadin-shumi: 1224 TCN
  21. Kadashman-Harbe II: 1223 TCN
  22. Adad-shuma-iddina: 1222 — 1217 TCN
  23. Adad-shuma-usur: 1216 — 1187 TCN
  24. Meli-Shipak II: 1186 — 1172 TCN
  25. Marduk-apla-iddina I: 1171 — 1165 TCN

Sự thống trị của nước ngoài đối với Lưỡng Hà có lẽ tương đồng với sự thống trị của Hyksos ở Ai Cập cổ đại. Các ảnh hưởng của Chúa trong tôn giáo Lưỡng Hà đã dần biến mất trong thời kỳ này, không thấy xuất hiện trong chính quyền Kassites. Tuy nhiên, Babylon vẫn là thủ đô của vương quốc và là "thành phố thánh", nơi các giáo sĩ thể hiên nhiệm vụ, sức mạnh toàn năng của mình và là nơi duy nhất các đế chế có thể nối tiếp nhau trị vì vùng đất này. Tuy nhiên, sự cai trị của Kassites ở Babylon tương đối yếu và chưa vững chắc, điều này tạo điều kiẹn cho người Assyria và Elam xâm nhập vào.

Trước khi Kassites xâm nhập vùng Lưỡng Hà, đất này đã bị quân Hittit tràn vào tàn phá đô thành, giết người rất tàn bạo. Sau khi họ rút, một thủ lĩnh người Kassites là Agum II đã đem quân vào chiếm lĩnh, và mở rộng dần thế lực của minh sang toàn Lưỡng Hà. 24 năm sau khi quân Hittit cướp tượng vàng thần Marduk trong thành Babylon, ông đã chủ trương hồi phục tôn giáo và lấy vị thần chủ của mình, thần Shuqamuna làm vị thần toàn vương quốc. Vùng Nam Lưỡng Hà (thuộc triều Sealand) vẫn được độc lập cho đến khi bị quân Kassites do vua Ulamburiash chinh phục nó từ Ea-gamil, một vị vua người Sumer cai trị ở đây, khoảng 1450 trước Công nguyên. Ông đã ký một hiệp ước quốc tế với Pharaoh Ai Cập Thutmosis III Đại đế, cho phép mình được cai quản vùng Nam Cận Đông, và Assyria ở phía bắc. Các vua kế tiếp, Karaindash xây dựng một ngôi đền tạc đầy các phù điêu ở Uruk và Kurigalzu I (1415 - 1390 TCN) xây dựng một thủ đô mới rồi lấy tên mình đặt cho nó. Sau ông, Kadashman-Enlil I (1390 - 1375 TCN) và Buriash Burna II (1375 - 1347 TCN) đã trao đổi thư từ cho các Pharaoh Ai Cập Amenhotep III và Amenhotep IV (Akhenaton) cho các mục đích hôn nhân và thương mại.

Ông (Buriash Burna II) bị lật đổ bởi vua Ashur-uballit I, và vị vua Assyria đã sáp nhập Babylon vào lãnh thổ Trung Đế chế Assyria, đặt Kurigalzu II (1345 - 1324 TCN) là người cai trị. Kurigalzu II tiếp tục chiến đấu chống quân Assyria, nhưng bị đánh bại và mất rất nhiều đất đai. Sau đó, ông cũng liên minh với Hittit đã giành lại đất, nhưng bất thành. Đến thời vua Kashtiliash IV (1242 - 1235 TCN), trong một trận đánh lớn vua Assyria Tukulti-Ninurta I, quân đội của ông bị thất bại hoàn toàn, ông bị bắt làm tù binh đưa về kinh đô Ashur của Assyria.

Babylon đã bắt đầu phục hồi trong triều đại của Adad-shuma usur (1218 - 1189 TCN) Meli-Shipak và II (1188 - 1172 TCN) trong thời gian rất ngắn. Chiến tranh vẫn tiếp tục cho đến khi vua Elam là Shutruk-Nahhunte chinh phục thành Babylon và lật đổ triều đại Kassites. Các văn bản cổ (các thi phẩm) đào được ở đó có nói đến sự kiện bi thương này.

Mặt dù bị mất lãnh thổ, suy yếu về quân sự, văn hóa, nhưng người Kassites vẫn còn ý định khôi phục chủ quyền, thế nhưng, ý định đó bị tan vỡ khi vua Elam chiếm đóng vùng này và phục hưng trở lại. Vị vua sau ông, Nebuchadnezzar I (1126 - 1103 TCN) tái chinh phục lại nó, đưa nó đến sự phát triển cao nhất, trở thành trung tâm của Lưỡng Hà.

Di sản, nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ luật Hammorabi (1728 TCN), bộ luật thành văn cổ nhất thế giới. Bộ luật có ảnh hưởng tới pháp chế của những dân tộc phương Đông cổ. Dân cư được chia thành ba hạng người: dân tự do, tiện dân và nô lệ. Nguồn nô lệ chủ yếu được cấp từ nguồn tù binh chiến tranh, mua bán. Có tổ chức các tam ca (đại lý buôn bán)

Thiên niên kỷ II TCN, đã phân biệt 5 hành tinh của Mặt trời: Kim, Thủy, Hoả, Thổ, Mộc, và phân biệt 12 chòm sao. Có những nghiên cứu về sao chổi, sao băng, động đất. Tính trước được nhật thực, nguyệt thực, đặt ra âm lịch, tuần trăng. Lấy lịch thành phố Ur làm lịch chung cho toàn xứ Babylon, sau cải tiến thành Âm – Dương lịch có 354 ngày (thiếu 11 ngày, 5 giờ 48 phút 46 giây).

Họ biết giải phẩu, và mô tả được 40 loại bệnh. Vị thần bảo hộ y học Nilghidzida mà vật tượng trưng là rắn quấn quanh cái gậy, được dùng làm biểu tượng y học ngày nay.

Về toán học, họ biết các phép tính bình phương, khai căn, số pi, định lý tam giác vuông. Người dân Lưỡng Hà sử dụng hệ thống số đếm căn bản 60. Đây là nguồn gốc của giờ 60 phút và ngày 24 giờ hiện nay, cũng như vòng tròn 360 độ. Sự hiểu biết toán học này đã được sử dụng trong việc lập bản đồ. Đo thời gian bằng đồng hồ ánh nắng, đồng hồ nước chảy.

Babylon là tên gọi cho lưu vực lưỡng Hà từ giai đoạn này trở đi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]