Vương quốc Seleukos

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arche Seleukeia
Vương quốc Seleukos
Vương quốc Diadochi (sứ quân)

 

312 TCN–63 TCN
 

 

Vị trí của Vương quốc Seleukos
Lãnh thổ của vương quốc Seleukos (vàng).
Thủ đô Seleucia bên sông Tigris
(305 TCN-240 TCN)

Antioch
(240 TCN-64 TCN)

Ngôn ngữ Hy Lạp
Tôn giáo Cổ Hy Lạp
Chính thể Quân chủ
Quốc vương
 - 305 TCN-281 TCN Seleukos I Nikator
 - 65 TCN-63 TCN Philippos II Philoromaios
Thời đại lịch sử Hy Lạp hóa
 - Khởi đầu năm 312 TCN
 - Antiochia bị chiếm bởi Pompey 64 TCN
 - Vua cuối cùng bị phế truất;
Syria trở thành tỉnh của La Mã
63 TCN
Diện tích
 - 301 TCN[1] 3.000.000 km²; (1.158.306 mi²)
 - 240 TCN[1] 2.600.000 km²; (1.003.866 mi²)
 - 175 TCN[1] 800.000 km²; (308.882 mi²)
 - 100 TCN[1] 100.000 km²; (38.610 mi²)

Vương quốc Seleukos (31263 TCN) là một vương quốc thời Hy Lạp hóa, kế tục đế quốc của Alexandros Đại đế. Trung tâm của vương quốc này nằm ở phương Đông, vào thời kì đỉnh cao, nó bao gồm phần trung tâm khu vục Tiểu Á, Cận Đông, Lưỡng Hà, Ba Tư, khu vực Turkmenistan ngày nay, Pamir, và một phần của Pakistan. Vương quốc Seleukos là trung tâm lớn của nền văn minh Hy Lạp trong việc truyền bá nền văn minh Hy Lạp nói chung, và là nơi mà những người Hy Lạp nói tiếng Macedonia chiếm đa số ở hầu hết các vùng đô thị.[2] Cuộc viễn chinh của Đế chế Seleukos vào Hy Lạp đã đột ngột dừng lại sau thất bại trước quân đội La Mã. Phần lớn phần phía đông của đế quốc bị xâm chiếm bởi người Parthia dưới thời Mithridates I của Parthia trong giữa thế kỷ thứ 2TCN, nhưng các vị vua Seleucid tiếp tục cai trị một nhà nước nhỏ ở Syria cho đến khi cuộc xâm lược của vua Armenia Tigranes Đại đế xảy ra và cuối cùng của họ lật đổ bởi tướng La Mã Pompey.

Đế quốc của Alexandros bị phân chia[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Diadochi

Alexandros Đại đế đã chinh phục đế quốc Achaemenes chỉ trong một thời gian ngắn và đã qua đời khi mới 33 tuổi, để lại một đế quốc rộng lớn của nền văn minh Hy Lạp mà không có người thừa kế chính thức nào. Năm 323 TCN, Perdiccas trở thành quan Nhiếp chính của Macedonia, và sau cuộc phân chia ở Babylon các tướng lĩnh của Alexandros chia cắt các lãnh thổ của đế quốc, và trở thành những quan Tổng trấn ở đó.

Sự nổi lên của Seleukos[sửa | sửa mã nguồn]

Các tướng lĩnh của Alexandros đã ra sức mở rộng lãnh thổ và Ptolemaios, viên tướng làm Tổng trấn Ai Cập, đã là người đầu tiên không thừa nhận những luật lệ mới, dẫn tới chiến tranh và quan Nhiếp chính Perdiccas bị ám sát. Cuộc khởi nghĩa của ông dẫn đến cưộc phân chia đế quốc tại Tiparadisus năm 320 TCN. Seleukos - vốn được Perdiccas phong làm "Bản doanh Nguyên soái" từ năm 323 TCN, nhưng díu líu đến vụ ám sát Perdiccas sau này, chiếm giữ Babylon và từ nơi đó, ông mở mang lãnh thổ của mình. Seleukos lên ngôi vua tại Babylon năm 312 TCN, được đánh dấu là năm thành lập vương quốc Seleukos. Ông ta không những cai trị Babylon mà còn bao gồm toàn bộ vùng phía đông đế quốc của Alexandros.

Tiền in hình Seleukos I Nikator.

Luôn luôn chờ đợi các nước láng giềng, có đủ sức mạnh quân sự trong tay và có sức thuyết phục với hội đồng, ông ta (Seleukos) đã giành được Lưỡng Hà, Armenia, Cappadocia thuộc Seleukos, Ba Tư, Parthia, Bactria, Ả Rập, Tapouria, Sogdia, Arachosia, Hyrcania, và với bất cứ dân tộc nào bị khuất phục bởi Alexandros Đại đế, xa tới tận sông Ấn. Vì vậy mà đường biên giới của vương quốc Seleukos là rộng rãi nhất ở châu Á chỉ sau đế quốc Alexandros xưa kia. Toàn bộ những vùng đất từ Phrygia tới Ấn Độ đều là thần dân của Seleukos.

Appian - Cuộc chiến tranh Syria.[3]

Seleukos đã tiến xa tới tận Ấn Độ, nơi ông ta kí một hiệp ước với Chandragupta Maurya để trao đổi những vùng đất ở phương đông và nhận được 1 lực lượng đáng kể gồm 500 voi chiến mà sau này đóng vai trò cực kì quan trọng tại trận Ipsus:

Những người Ấn Độ đã xâm chiếm một vài quốc gia dọc theo bờ sông Ấn mà trước đây thuộc về người Ba Tư. Alexandros đã cướp đoạt miền Arian của họ và thành lập những thành phố mà bây giờ thuộc về ông ta. Nhưng Seleukos đã tặng chúng cho Sandrocottus (Chandragupta Maurya) trong hệ quả của cuộc hôn nhân thoả thuận và nhận trở lại 500 voi chiến.

—Strabo - Geographica.[4]

Mở rộng về phía tây[sửa | sửa mã nguồn]

Kingdoms of the Diadochi and others before the Trận Ipsus, circa 303 BC.

Được sự ủng hộ và chiến thắng của vua Lysimachos trước Antigonos Monophthalmos tại trận Ipsus năm 301 TCN, vua Seleukos I đánh chiếm miền đông Tiểu Á và miền bắc Syria. Tại miền đất mới này, ông ta thành lập kinh đô mới Antioch bên bờ sông Orontes, một thành phố được đặt tên theo tên của cha ông. Một trong hai kinh đô dược thành lập là Seleucia bên bờ sông Tigris phía bắc của Babylon. Vương quốc Seleukos trải rộng tới tột đỉnh khi ông ta đánh bại đồng minh cũ là Lysimachos tại Corupedion năm 281 TCN. Sau đó Seleukos I đã mở rộng lãnh thổ tới miền tây Tiểu Á. Ông hi vọng xa hơn là sẽ đánh chiếm đựoc những vùng đất của Lysimachos ở châu Âu - trước tiên là Thrace tiếp đó là Macedonia - nhưng không may đã bị ám sát bởi Ptolemaios Keraunos khi đang ở châu Âu. Con trai ông là vua Antiochos I Soter lên kế vị, đã thừa hưởng vương quốc rộng lớn nằm phần lớn ở châu Á, nhưng đã phải đối mặt với Antigonos II Gonatas ở Macedonia và Ptolemaios II Philadelphos ở Ai Cập. Ông tỏ ra bất tài khi làm mất nhiền vùng đất mà vua cha để lại trong cuộc chinh phục phần lãnh thổ ở châu Âu của đế quốc Alexandros.

Những khó khăn của một quốc gia có lãnh thổ rộng lớn[sửa | sửa mã nguồn]

  Vương quốc của Seleukos
Các sứ quân diadochi khác:
  Vương quốc của Kassandros
  Vương quốc của Lysimachos
  Vương quốc của Ptolemaios
  Ipiros
Các xứ khác:
  La Mã

Tuy nhiên, ngay cả trước khi Quốc vương Seleukos I qua đời, ông đã rất khó khăn để duy trì được miền đông của Vương quốc Seleukos. Seleukos đã tiến quân tới Ấn Độ (vùng Punjab hiện nay thuộc Pakistan năm 305 TCN và đã chạm chán với vua Chandragupta Maurya (tức Sandrokottos) nhà Maurya. Người ta nói rằng Hoàng đế Chandragupta đã đưa ra đội quân đông tới 600.000 người cùng với 9.000 voi chiến (Pliny, Natural History VI, 22.4), và đánh bại Seleukos. Hai vị vua cuối cùng đã kí một hiệp ước mà trong đó Seleukos nhượng lại các tỉnh rộng lớn ở khu vực sông Ấn ngày nay là Afghanistan. [5][6] Đổi lại Chandragupta chuyển cho ông 500 voi chiến, một sự bổ sung cho quân đội của ông mà nó đã đóng góp quan trọng trong chiến thắng vang dội tại Ipsus. Hoà bình đã được bổ sung thêm bằng cuộc hôn nhân đồng minh (Epigamia theo các sử sách cổ), nhằm tạo ra một triều đại liên minh (trong đó công chúa nhà Seleukos có thể được coi như cầu hôn với nhà Maurya) hoặc là sự công nhận hôn nhân giữa người Hy Lạp cổ và người Ấn Độ cổ.

Quốc vương Seleukos I còn gửi một sứ giả tên là Megasthenes tới triều đình của Chandragupta - người mà đã rất nhiều lần tới thăm kinh đô Pataliputra (ngày nay là Patna ở bang Bihar) của Chandragupta. Megasthenes đã miêu tả rất chi tiết về Ấn Độ dưới thời Chandragupta mà đã được lưu giữ tới nay thông qua tác phẩm của Diodoros Siculos. Ngoài ra, Seleukos còn gửi một người nữa là Deimakos tới cung điện của vua Bindusara, người kế vị Chandragupta. Muộn hơn, vua Ai Cập thuộc PtolemaiosPtolemaios II Phildelphos, người đương thời với A-dục vương, cũng được ghi nhận bởi Pliny già là đã gửi một đại sứ tên là Dionysios tới triều đình Maurya.[7]

Một vùng đất khác đã mất trước khi Seleukos I qua đời là Gedrosia nằm ở phía nam của cao nguyên Iran kéo dài tới tận miền bắc của Arachosia, miền tây sông Ấn.

Antiochos I (cai trị: 281 - 261 TCN) và truyền nhân là Antiochos II Theos (cai trị: 261 - 246 TCN) đã đối mặt với sự thách thức từ phía tây bao gồm những cuộc chiến tranh với Ptolemaios II và cuộc xâm lược của người Celt vào vùng Tiểu Á hơn là tập trung chú ý vào miền đông của vương quốc. Cuối thời Antiochos II, rất nhiều tỉnh đã đồng thời khẳng định sự độc lập của mình như là Bactria dưới quyền Diodotos, Parthia dưới quyền ArsacesCappadocia dưới quyền Ariarathes III.

Tổng trấn Diodotos công khai nền độc lập của vương quốc Hy Lạp-Bactria (kh. 245 TCN).

Diodotos, Tổng trấn tỉnh Bactria, đã tuyên bố độc lập vào khoảng năm 245 TCN, thành lập vương quốc Hy Lạp-Bactria. Vương quốc này mang đặc trưng bởi một nền văn hóa giàu tính Hy Lạp. Nó đã duy trì sự thống trị Bactria tới tận năm 125 TCN trước khi bị các dân tộc du mục tới từ phía bắc thôn tính. Năm 180 TCN, vua Hy Lạp-BactriaDemetrios I xâm lăng Ấn Độ, và thành lập vương quốc Ấn-Hy Lạp kéo dài tới năm 20.

Quan Tổng trấn nhà Seleukos ở Parthia là Andragoras là người đầu tiên đòi độc lập song song với sự ly khai của người láng giềng Bactria. Tuy nhiên ngay sau đó, một tù trưởng bộ lạc tên là Arsaces đã đánh chiếm Parthia để lập ra đế quốc Parthia hùng mạnh.

Cùng thời gian đó, Antiochos II bị sát hại và con trai ông là Seleukos II Kallinikos lên thay năm 246 TCN, vương quốc Seleukos dường như rơi vào thời kì suy thoái. Seleukos II đã sớm thất bại thảm hại trong cuộc chiến tranh Syria lần thứ ba chống lại Ptolemaios III của Ai Cập và vướng vào cuộc nội chiến với em trai ruột của mình là Antiochos Hierax. Nắm bắt được cơ hội này, Bactria và Parthia đã ly khai ra khỏi vương quốc. Ở khu vực Tiểu Á, nhà Seleukos dường như đã mất kiểm soát khu vực này hoàn toàn, người Gaul xâm chiếm vùng Galitia. Tình trạng nửa độc lập của các quốc gia nửa Hy Lạp nổi lên ở Bithynia, Pontos, Cappadocia và ở thành phố Pergamom đã độc lập dưới thời nhà Attalos.

Sự phục hưng (223 - 191 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng tiền in hình Antiochos III Đại đế.
Vương quốc Seleukos vào năm 200 TCN, trước khi Antiochos bị đánh bại bại bởi người La Mã.

Nhưng sự phục hưng lại bắt đầu khi con út của Seleukos II là Antiochos III Đại đế lên nắm quyền năm 223 TCN, mặc dù ban đầu không thành công trong cuộc chiến tranh Syria lần thứ tư với Ai Cập, dẫn đến chiến bại Raphia (217 TCN). Antiochos đã chứng tỏ mình là vị vua thành công nhất của nhà Seleukos, chỉ sau tổ phụ Seleukos I. Sau thất bại ở Raphia, ông dành 10 năm tiếp theo cho cuộc hành quân vượt qua phần lãnh thổ phía đông của vương quốc, khôi phục lại địa vị chư hầu đối với những quốc gia nổi loạn trước kia như ParthiaHy Lạp-Bactria, nhưng chỉ trên danh nghĩa. Noi gương theo Alexandros Đại đế, ông đã viễn chinh tới Ấn Độ nơi mà ông đã gặp vua Sophagasenus.

Khi ông quay lại phía tây năm 205 TCN, ông hay tin vua Ptolemaios IV qua đời, hoàn cảnh lúc này là thuận lợi để mở một chiến dịch khác ở phía tây.

Antiochos và vua Philippos V của Macedonia đã kí hiệp ước về việc chia sẻ đất đai của nhà Ptolemaios, ngoại trừ Ai Cập. Trong cuộc chiến tranh Syria lần thứ năm, người Seleukos đánh đuổi Ptolemaios V ra khỏi vùng Coele-Syria. Trận Panium (198 TCN) đã đưa vùng đất này từ tay dòng họ Ptolemaios tới tay nhà Seleukos, thế là Antiochos III dường như đã khôi phục lại sự huy hoàng của vương quốc Seleukos.

Sự tan rã mới[sửa | sửa mã nguồn]

Nhưng sự huy hoàng của Antiochos lại không kéo dài được lâu, sau khi đồng minh cũ của ông, Philipos bị quân đội La Mã đánh bại năm 197 TCN, Antiochos đã nhìn thấy cơ hội được mở rộng vào Hy Lạp. Được sự khuyến khích của vị tướng Carthage đang bị lưu đày là Hannibal và việc thành lập một liên minh bất bình đẳng với liên minh Aetolia, Antiochos quyết định xâm lược Hy Lạp. Thật không may, quyết định này dẫn đến sự sụp đổ của ông ta. Ông bị La Mã đánh bại tại trận Thermopylae (191 TCN)trận Magnesia (190 TCN). Ông đã bị ép buộc phải thiết lập hòa bình với cộng hòa La Mã bằng hiệp ước Apamea (188 TCN), trong đó ông phải từ bỏ tất cả các vùng đất ở châu Âu, nhường lại vùng Tiểu Á nằm ở phía bắc dãy núi Taurus cho vương quốc Pergamon, phải bồi thường một khoản chiến phí khổng lồ. Năm 187 TCN, trong một cuộc viễn chinh khác ở phía đông để kiếm tiền trả khoản bồi thường, Antiochos III bị giềt khi đang cướp phá đền thờ thần BaalSusa. (theo sách Người Do Thái đối với thế giới và tiền bạc của Jacques Attali)

Tiền in hình Antiochos IV Epiphanes.

Triều đại của con trai cũng là người kế vị ông là Seleukos IV Philopator (187 - 175 TCN) đã dành một sự cố gắng lớn để trả những khoản bồi thường ấy và cuối cùng Seleukos đã bị ám sát bởi quan Tể tướng Heliodorus, em trai của Seleukos IV là Antiochos IV Epiphanes lên nối ngôi. Ông đã cố gắng trong việc khôi phục lại vị thế của vương quốc Seleukos và đánh bại quân Ai Cập. Nhưng mặc dù đã dồn quân Ai Cập tới tận Alexandria nhưng ông đã buộc phải rút lui bởi phái viên người La Mã tên Gaius Popillius Leanas, người đã nổi tiếng với việc vẽ một vòng tròn trên cát quanh nhà vua và nói với ông phải quyết định dù thế nào đi chăng nữa cũng phải rút quân khỏi Ai Cập trước khi rời vòng tròn, và Antiochos IV đã chọn rút lui.[8]

Vào thời kì cuối của triều đại ông, những dấu hiệu của sự tan rã của vương quốc đã xuất hiện nhiều hơn. Những vùng đất phương đông còn lại của vương quốc hầu như không kiểm soát nổi. Lúc đó, người Parthia đã bắt đầu đánh chiếm xứ Ba Tư, và việc tiến hành Hy Lạp hóa đã dẫn đến cuộc nổi dậy MaccabeeJudea (xem sách của Chanukah, Shabbat 21b, Babylonian Talmud).[9] Nỗ lực chống lại người Parthia và người Do Thái đều tỏ ra không có kết quả, và Antiochos qua đời khi tham gia cuộc viễn chinh chống lại người Parthia năm 164 TCN.

Nội chiến và sự suy vong trầm trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền bạc có hình Alexandros Balas.

Sau khi Antiochos IV Epiphanes qua đời, đế quốc Seleukos càng trở nên không ổn định. Các cuộc nội chiến làm cho quyền lực của trung ương ngày càng suy yếu. Đầu tiên, con nhỏ của Antiochos IV là Antiochos V Eupator bị con trai của Seleukos IV là Demetrios I Soter lật đổ vào năm 161 TCN. Demetrios I đã cố gắng khôi phục lại sức mạnh của vương quốc Seleukos, đặc biệt ở khu vực Judea. Song, ông ta lại bị lật đổ bởi Alexandros Balas, một kẻ giả mạo (từ Ai Cập trở về), mà tuyên bố là con trai của Epiphanes. Triều đại của Alexandros Balas kéo dài tới năm 145 TCN trước khi ông ta bị lật đổ bởi con trai của Demetrios I, Demetrios II Nikator. Tuy nhiên Demetrios II đã tỏ ra không thành công trong việc kiểm soát toàn bộ vương quốc. Trong khi ông ta cai trị khu vực Babylonia và phía đông Syria từ Damascus, lực lượng tàn dư ủng hộ Balas - đầu tiên ủng hộ con trai của Balas, Antiochos VI sau là sự cướp ngôi của tướng Diodotos Tryphon - chiếm giữ vùng Antioch.

Trong khi đó, tình trạng sụp đổ diễn ra nhanh ở các tỉnh của Vương quốc. Năm 143 TCN, người Do Thái dưới sự lãnh đạo của anh em nhà Maccabee đã thiết lập được nền độc lập hoàn toàn. Người Parthia tiếp tục mở rộng nhiều hơn nữa. Năm 139 TCN, trong trận đánh với quân Parthia, Demetrios II đại bại và bị bắt sống.

Em trai của Demetrios II, Antiochos VII cuối cùng đã khôi phục lại được sức mạnh và lãnh thổ của vương quốc Seleukos. Khi mới kế vị, Ông phải đối mặt với vấn đề to lớn đó là phải khôi phục lại một đế chế nhanh chóng đổ nát, một trong số đó là phải đối mặt với nhiều mối đe dọa từ nhiều phía. Sự khó khăn trong việc kiểm soát Coele-Syria bị đe dọa bởi quân khởi nghĩa Maccabee của người Do Thái. Trong khi các triều đại chư hầu ở Armenia, Cappadocia, và Pontus đe dọa Syriao ở phía bắc vùng Lưỡng Hà, tộc người du mục Parthia, dưới sự lãnh đạo tuyệt vời của Mithridates I của Parthia đã tràn ngập thượng Media (quê hương của giống ngựa Nisean nổi tiếng), và sự can thiệp của La Mã là mối đe dọa lớn hơn bao giờ hết. Sidetes cố gắng để làm hòa với quân khởi nghĩa Maccadees, khiến cho các triều đại Anatolia lo sợ buộc phải quy phục tạm thời và sau đó, trong năm 133, ông quay về phía đông với sức mạnh của quân đội Hoàng gia (được hỗ trợ bởi một đội quân của người Do Thái dưới quyền hoàng tử nhà Maccabee, John Hyrcanus) đánh đuổi người Parthia.

Chiến dịch của Sidetes ban đầu đã gặt hái được thành công ngoạn mục, thu hồi lại Lưỡng Hà, Babylonia và Media; đánh bại và giết chết phó vương Parthia của Seleucia bên sông Tigris trong trận chiến tay đôi. Trong mùa đông năm 130/129 TCN, quân đội của ông đã đóng rải rác trong các khu trú đông của Media và Persis khi vua Parthia, Phraates II, phản công. Antiochos đã bị phục kích và tử trận. Antiochos VII Sidetes đôi khi được gọi là vị vua Seleukos vĩ đại cuối cùng.Sau khi Antiochos VII qua đời, tất cả những luật lệ của vương quốc sụp đổ, với nhiều người tranh nhau kiểm soát các vùng đất còn lại trong lãnh thổ nhà Seleukos, trong một cuộc nội chiến gần như bất tận.

Sự sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 100 TCN, vương quốc Seleukos đã bị thu hẹp lại rất nhỏ, chỉ còn Antioch và vài thành phố của Syria, mặc dầu đã mất hầu hết lực lượng quân sự của mình, và các nước xung quanh không còn thuần phục nữa, giới quý tộc vẫn tranh giành ngôi vua bằng quân đội. Đôi khi có sự can thiệp từ Ai Cập thuộc Ptolemaios và các thế lực bên ngoài. Vương quốc Seleukos vẫn còn tồn tại được là do các quốc gia không muốn thu nhận nó, mà muốn biến nơi này thành vùng đệm giữa các nước láng giềng. Trong cuộc chiến tranh Tiểu Á giữa Mithridates VI của Pontos với Sulla của La Mã, quân Seleukos đã chiến đấu ở cả hai phe.

Tuy nhiên, người con rể đầy tham vọng của Mithridates VI là Tigranes Đại đế - vua Armenia - nhận thấy cơ hội để mở rộng sự thống trị về phía nam. Vào năm 83 TCN, nhận lời mời của một thế lực trong cuộc nội chiến kéo dài vô tận, ông đã xâm chiếm Syria, sớm thiết lập luật lệ của mình tại Syria, đặt vương quốc Seleukos vào chỗ diệt vong.

Sự độc lập của vương quốc Seleukos không còn được nguyên vẹn nữa. Tuy nhiên, sau khi tướng La Mã là Lucullus đánh bại cả Mithridates và Tigranes vào năm 69 TCN, Antiochos XIII khôi phục là vương quốc lần cuối cùng. Ngay cả lúc này cuộc nội chiến cũng không thể dừng lại, một vị vua khác của nhà Seleukos là Philipos II đã tranh giành quyền lực với Antiochos. Sau khi cộng hòa La Mã chinh phạt Pontos, họ lại càng đe dọa đến sự ổn định của Syria dưới sự cai trị của nhà Seleukos. Sau khi tướng La Mã là Pompey đánh bại vua Mithridates năm 63 TCN, Pompey đã nhận được nhiệm vụ thiết lập lại nền văn minh Hy Lạp ở phương đông, bằng cách thành lập các quốc gia phụ thuộc và các tỉnh. Trong khi các quốc gia như ArmeniaDo Thái dược tự trị theo các vị vua địa phương, thì Pompey thấy các quốc gia Seleukos quá phiền hà và đi cùng đó là các cuộc xung đột của các ông hoàng Seleukos, ông ta đã biến Syria thành một tỉnh của La Mã.

Sự trao đổi văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bagadates I (290-280 TCN) là người bản xứ đầu tiên được phong làm thống đốc satrap của nhà Seleukos.[10]

Lãnh thổ địa lý của vương quốc Seleukos là từ biển Aegean cho tới tận những vùng đất mà ngày nay là AfghanistanPakistan, tạo nên một hỗn hợp đa sắc tộc như người Hy Lạp, người Armenia, người Ba Tư, người Mada, người Assyria, người Do Thái. Lãnh thổ rộng lớn của vương quốc được bao quanh bởi các điều kiện tự nhiên đã cho phép các vua nhà Seleukos thực hiện chính sách thống nhất các dân tộc mà Alexandros Đại đế khởi xướng. Nền văn minh Hy Lạp hóa của vương quốc Seleukos được thiết lập trên cơ sở thành lập các thành phố Hy Lạp trên toàn đất nước. Các thành phố và thị trấn quan trọng trong quá khứ như Antioch được tạo ra hay được đổi tên thích hợp hơn với tên tiếng Hy Lạp.

Việc thành lập các thành phố Hy Lạp và thị trấn được hỗ trợ bởi thực tế rằng lục địa Hy Lạp vốn đã quá thừa mứa dân cư.Chế độ thuộc địa đã được sử dụng để tiếp tục thu hút người Hy Lạp trong khi tạo điều kiện thuận lợi cho việc đồng hóa nhiều nhóm dân cư bản địa.

Quân đội Seleukos[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quân đội Seleukos

Như nhiều quốc gia Hy Lạp hóa khác được thành lập sau cái chết của Alexandros Đại đế, quân đội Seleukos là một đội quân chuyên nghiệp dựa trên nền tảng của quân Macedonia. Quân đội của nó chủ yếu là người gốc Hy Lạp, được bổ sung thêm người phương đông kể từ khi vương quốc Seleukos bao trùm phần lớn các vùng đất của đế quốc Ba Tư. Khi họ đánh nhau với các Diadochi khác, việc chiến thắng hoàn toàn bằng cách hủy diệt đối phương là điều thường tránh. Điều dễ hiểu là họ thường bổ sung thêm lính địch vào đội hình nhiều hơn là đào tạo mới bởi chi phí thấp hơn. Mục đích của một trận chiến là dùng để ép buộc kẻ thù theo mình mà không có cách nào hơn là gây chiến chống lại nhau, và có rất nhiều trận đã kết thúc của thương lượng. Rất nhiều thế lực nhỏ đã phải trả tiền chuộc tù nhân, đã chứng tỏ một điều rõ ràng rằng Seleukos và các quốc gia thừa kế khác của Alexandros là những kẻ chiến thắng.

Họ dựa trên lực lượng quân đội là Đội hình Phalanx kiểu Macedonia, các cung thủ thuộc các dân tộc phương đông và kị binh, đặc biệt là kị binh nặng cataphract (vỏ bọc cho lính kị binh) và những chiến hữu kị binh Macedonia nổi tiếng như là những vệ sĩ cho các tướng lĩnh và là đội quân gây sự choáng váng. Ngoài ra, các vua nhà Seleukos còn có sự phục vụ của những con voi chiến Ấn Độ mà được sử dụng để gây ra sự khiếp sợ cho kẻ địch giống như chiến xa được dùng để phá vỡ đội hình. Cũng giống như các vua nhà Ptolemaios với sự giàu có của họ, các vua nhà Seleukos cũng cố gắng tuyển mộ rất nhiều loại lính đánh thuê, từ những người Ấn Độ sống ở lưu vực sông Ấn tới những người Crete đặc biệt là Galatia. Với các cuộc chiến tranh chống lại La Mã, các vua nhà Seleukos đã cố gắng để tạo ra các đơn vị của quân mà sao chép từ quân Lê dương La Mã. Tới năm 63 TCN, vương quốc Seleukos cùng với quân đội của mình bị xóa sổ và rất nhiều Cataphract bị xáp nhập vào quân đội La Mã ở châu Á.

Các vua nhà Seleukos[sửa | sửa mã nguồn]

History of Iran
Lịch sử Iran
CỔ ĐẠI
Nguyên Elam 3200–2700 TCN
Elam 2700–539 TCN
Người Mannaea 850–616 TCN
ĐẾ QUỐC
Đế quốc Media 678–550 TCN
  (Đế quốc Scythia 652–625 TCN)
Đế quốc Achaemenes 550–330 TCN
Atropatene k.320 TCN–tk 3 CN
Đế quốc Seleukos 312–63 TCN
Đế quốc Parthia 247 TCN – 224 CN
Đế quốc Sassanid 224–651
  (Triều Dabuyid 642–759/760)
TRUNG ĐẠI
Triều Umayyad 661–750
Triều Abbas 750–1258
Triều Bavand
tk 8–1349
Triều Samanid
819–999
Triều Saffarid
867–1002
Triều Ziyarid
928–1043
Triều Sallarid
941–1062
Triều Sajid
889/890–929
Triều Buyid
934–1055
Đế quốc Ghaznavid 963–1186
Đế quốc Đại Seljuq 1037–1194
Triều Ghurid 1148–1215
Đế quốc Khwarezm 1077–1231
Triều Mihrabanid 1236–giữa tk 16
Triều Kurt 1244–1396
Hãn quốc Y Nhi 1256–1335
Triều Chobanid
1335–1357
Triều Muzaffarid
1335–1393
Triều Jalayirid
1336–1432
Triều Sarbadar
1337–1376
Đế quốc Timurid 1370–1405
Qara Qoyunlu
1406–1468
Triều Timurid
1405–1507
Agh Qoyunlu
1468–1508
CẬN ĐẠI
Đế quốc Safavid 1501–1736
  (Triều Hotaki 1722–1729)
Đế quốc Afsharid 1736–1747
Triều Zand
1760–1794
Triều Afsharid
1747–1796
Đế quốc Qajar 1796–1925
HIỆN ĐẠI
Triều Pahlavi 1925–1979
Chính phủ Lâm thời 1979–1980
Cộng hòa Hồi giáo 1980–nay

Cây phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Antiochos
 
Laodice
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Seleukos I Nikator
Kg. 305–281
 
Apama
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Achaios
 
 
Stratonike
 
Antiochos I Soter
Kg. 281–261
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Andromachos
 
 
 
 
Antiochos II Theos
Kg. 261–246
 
Laodice I
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Achaios
Kg. 220–213
 
 
Laodice II
 
Seleukos II Kallinikos
Kg. 246–226
 
Antiochos Hierax
Kg. 240–228
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Seleukos III Keraunos
Kg. 226–223
 
Antiochos III Đại đế
Kg. 223–187
 
Laodice III
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Seleukos IV Philopator
Kg. 187–175
 
Laodice
 
Antiochos IV Epiphanes
Kg. 175–164
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Apama
 
Demetrios I Soter
Kg. 162–150
 
Antiochos V Eupator
Kg. 164–162
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Alexandros Balas
Kg. 150–146
 
Cleopatra Thea
 
Demetrios II Nikator
Kg. 145–125
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Antiochos VII Sidetes
Kg. 138–129
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Antiochos VI Dionysos
Kg. 144–142
 
Seleukos V Philometor
Kg. 126–125
 
Antiochos VIII Grypos
Kg. 125–96
 
Cleopatra
 
 
 
Antiochos IX Cyzicenos
Kg. 116–96
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Seleukos VI Epiphanes
Kg. 96–95
 
Antiochos XI Epiphanes
Kg. 95–92
 
Philippos I Philadelphos
Kg. 95–83
 
Demetrios III Eucairos
Kg. 95–88
 
Antiochos XII Dionysos
Kg. 87–84
 
Antiochos X Eusebes
Kg. 95–83
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Philippos II Philoromaios
Kg. 69–63
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Antiochos XIII Asiaticos
Kg. 69–64

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Taagepera, Rein (1979). “Size and Duration of Empires: Growth-Decline Curves, 600 B.C. to 600 A.D.”. Social Science History 3 (3/4): 121. doi:10.2307/1170959. 
  2. ^ Britannica, Seleucid kingdom, 2008, O.Ed.
  3. ^ Appian, History of Rome, The Syrian Wars 55
  4. ^ Strabo 15.2.1(9)
  5. ^ Vincent A. Smith (1998). Asoka. Asian Educational Services. ISBN 81-206-1303-1.
  6. ^ Clark, Walter Eugene (1919). “The Importance of Hellenism from the Point of View of Indic-Philology”. Classical Philology 14 (4): 297–313. doi:10.1086/360246. 
  7. ^ Pliny the Elder, "The Natural History", Chap. 21
  8. ^ Livys History of Rome, [45.12]
  9. ^ Chanukah, Shabbat 21b, Babylonian Talmud)
  10. ^ History of Iran

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • A. Houghton, C. Lorber, Seleucid Coins. A Comprehensive Catalogue, Part I, Seleucus I through Antiochus III, With Metrological Tables by B. Kritt, I-II, New York - Lancaster - London, 2002.
  • G. G. Aperghis, The Seleukid Royal Economy. The Finances and Financial Administration of the Seleukid Empire, Cambridge, 2004.
  • Laurent Capdetrey, Le pouvoir séleucide. Territoire, administration, finances d'un royaume hellénistique (312-129 avant J.C.). (Collection "Histoire"). Rennes: Presses Universitaires de Rennes, 2007.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết với bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]