Đế quốc Gupta

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lịch sử Ấn Độ
Thời kỳ đồ đá 70.000–3300 TCN
Văn hóa Mehrgarh • 7000–3300 TCN
Văn minh lưu vực sông Ấn 3300–1700 TCN
Văn hóa hậu kỳ Harappan 1700–1300 TCN
Thời kỳ đồ sắt 1200–1 TCN
Maha Janapadas • 700–300 TCN
Đế quốc Magadha • 545–550 TCN
Đế quốc Maurya • 321–184 TCN
Kharavela • 209–170 TCN
Nhà Chera • 300 TCN–1200 CN
Đế quốc Chola • 300 TCN–1279 CN
Đế quốc Pandyan • 250 TCN–1345 CN
Satavahana • 230 TCN–220 CN
Các vương quốc Trung Đại 1 CN–1279 CN
Đế quốc Kushan • 60–240 CN
Đế quốc Gupta • 280–550
Đế quốc Harsha • 590-647
Đế quốc Pala • 750–1174
Nhà Chalukya • 543–753
Rashtrakuta • 753–982
Đế quốc Tây Chalukya • 973–1189
Nhà Yadava • 850–1334
Đế quốc Hoysala 1040–1346
Đế quốc Kakatiya 1083–1323
Các vương quốc Hồi goáp 1206–1596
Vương quốc Hồi giáo Delhi • 1206–1526
Các vương quốc Hồi giáo Deccan • 1490–1596
Vương quốc Ahom 1228–1826
Đế quốc Vijayanagara 1336–1646
Đế quốc Mogul 1526–1858
Đế quốc Maratha 1674–1818
Liên minh Sikh 1716–1799
Đế quốc Sikh 1799–1849
Thời Công ty Đông Ấn cai trị 1757–1858
British Raj 1858–1947
Sự chia cắt Ấn Độ 1947
Các nền lịch sử dân tộc
AfghanistanBangladeshBhutanCộng hòa Ấn Độ
MaldivesNepalPakistanSri Lanka
Lịch sử địa phương
AssamBiharBalochistanBengal
Himachal PradeshOrissaCác địa phương của Pakistan
PunjabSouth IndiaTây Tạng
Lịch sử chuyên đề
Tiền kim loạiVương triềuKinh tế
Ấn Độ họcNgôn ngữVăn họcHàng hải
Quân sựKhoa học và công nghệNiên đại
Nhà Gupta

280–550
Thủ đô Pataliputra
Ngôn ngữ tiếng Phạn
Tôn giáo Ấn Độ giáo
Phật giáo
Chính thể Quân chủ
Maharajadhiraj
 - 240s-280s Sri-Gupta
 - 319-335 Chandragupta I
 - 540-550 Vishnugupta
Thời đại lịch sử Antiquity
 - Khởi đầu năm 280
 - Giải thể 550

Vương triều Gupta tồn tại từ năm 320 tới 550 ở phần lớn Bắc Ấn Độ, Đông Nam Pakistan, một phần của GujaratRajasthan mà ngày nay là Tây Ấn ĐộBangladesh.[1] Thủ đô của vương triều này ở Pataliputra, ngày nay là Patna, thuộc nhà nước Ấn hóa ở Bihar.

Dười thời Gupta, đất nước được thái bình thịnh trị, đồng thời nền khoa học và mỹ thuật phát triển không ngừng.[2] Các nhà sử học xếp triều Gupta ngang hàng với nhà Hán, nhà ĐườngĐế quốc La Mã như là những nền văn minh tiên tiến thời cổ. Các nhà sử học xem thời Gupta là Thời kì hoàng kim của Ấn Độ[3] về mặt khoa học, toán học, thiên văn học, tôn giáotriết học Ấn Độ.[4] Chandra Gupta I, Samudra Gupta Đại đếChandra Gupta II Đại đế chính là các vị vua đáng chú ý nhất của triều đại Gupta.[5] Vào thế kỷ thứ 4 CN, nhà thơ Kalidasa, tin rằng nhà Gupta đã chinh phục khoảng 21 vương quốc, cả trong và ngoài Ấn Độ, bao gồm các vương quốc của người Parasika (Ba Tư), người Huna, các bộ lạc Kamboja nằm ở phía tây và phía đông thung lũng sông Oxus, người Kinnara, Kirata.[6]

Đỉnh cao của sáng tạo văn hóa thời kì này là các tuyệt tác kiến trúc, điêu khắc và hội họa.[7] Thời kì Gupta đã sản sinh ra các học giả như Kalidasa, Aryabhata, Varahamihira, Vishnu SharmaVatsyayana, những người đã tạo ra những tiến bộ lớn trong nhiều lĩnh vực học thuật.[8][9]

Những thiên sử thi đầu tiên của Ấn Độ cũng được cho là đã được viết khoảng thời gian này. Đế chế dần dần suy yếu do nhiều nguyên nhân như mất dần các vùng lãnh thổ và quyền lực hoàng đế gây ra bởi các chư hầu thuở trước của họ và cuộc xâm lược của dân tộc Huna từ Trung Á [10] Sau khi đế quốc Gupta sụp đổ vào thế kỷ thứ 6, Ấn Độ, một lần nữa được cai trị bởi rất nhiều vương quốc trong khu vực. Một dòng nhỏ của gia tộc Gupta tiếp tục cai trị xứ Magadha sau khi đế quốc tan rã. Triều đại Gupta này cuối cùng bị lật đổ bởi vị vua Vardhana Harsha Vardhana, người thành lập một đế chế trong nửa đầu của thế kỷ thứ 7.

Nguồn gốc của nhà Gupta[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhiều sử gia, Đế quốc Gupta là nhà Vaishya.[11][12] Sử gia Ram Sharan Sharma khẳng định rằng Vaishya Guptas "xuất hiện như một hành động nhằm chống lại sự áp bức của nhà cầm quyền".[13] A.S. Altekar, một sử gia và nhà khảo cổ học, ông đã viết nhiều quyển sách về tiền đúc Gupta,[14] cũng như đã đề cập đến đẳng cấp của Guptas như là Vaishya dựa trên cơ sở của các văn bản Ấn Độ cổ theo luận, trong đó quy định các tên cuối cùng với Gupta cho các thành viên của dòng dõi Vaishya. Theo sử gia Michael C. Brannigan, sự lớn mạnh của đế quốc Gupta là một trong những sự phá rối nổi bật nhất trong hệ thống đẳng cấp của Ấn Độ cổ đại.[12]

Có nhiều giả thuyết trái ngược nhau về nơi phát sinh ra đế quốc Gupta. Theo HC Raychoudhuri, Gupta bắt nguồn từ vùng Varendri, hiện là một phần của Rangpur và Rajshahi thuộc Bangladesh. DC Ganguly thì cho rằng đó là nơi xung quanh khu vực Murshidabad.[15]

Srigupta và Ghatotkacha[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian có thể nhất về triều đại của Sri Gupta vào khoảng 240–280. Nhiều nhà sử học hiện đại trong đó có Rakhaldas Bandyopadhyay và K. P. Jayaswal, cho rằng ông và con trai ông có thể là chư hầu của Kushan.[16] Con trai ông và là người kế nhiệm Ghatotkacha có lẽ đã lên ngôi vào khoảng 280–319. Trái ngược với người kế nhiệm của họ Chandragupta I, ông được xem là một Maharajadhiraja, ông và con trai ông Ghatotkacha được đề cập trong trong câu khắc là Maharaja[17] Vào đầu thế kỷ 5, nhà Gupta đã thành lập và cai quản một vài vương quốc Hindu nhỏ ở Magadha và xung quanh vùng mà ngày nay là Bihar.

Sự suy sụp của đế chế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Skandagupta là một loại các nhà cầm quyền yếu kém như Purugupta (467–473), Kumaragupta II (473–476), Budhagupta (476–495?), Narasimhagupta, Kumaragupta III, Vishnugupta, VainyaguptaBhanugupta. Vào thập niên 480, Hephthalites đã phá vỡ các hàng phòng thủ của Gupta ở phía tây bắc, và phần lớm đế chế ở tây bắc bị tràn ngập người Hung vào năm 500. Đế chế tan rã dưới sự tấn công của Toramana và hậu duệ của ông là Mihirakula. Xuất hiện trong các văn liệu rằng Gupta, mặc dù quyền lực của họ bị giảm đi nhiều, nhưng vẫn tiếp tục chống lại người Hung. Kẻ xâm lược người Hungg Toramana bị Bhanugupta đánh bại vào năm 510.[18][19] Người Hung đã bị đánh bại và bị đuổi ra khỏi Ấn Độ vào năm 528  bởi một liên minh bao gồm hoàng đế Gupta Narasimhagupta và vua YashodharmanMalwa.[20] Sự kế thừa của Gupta trong thế kỷ 6 thì không hoàn toàn rõ ràng, nhưng sự kết thúc của dòng chính đế chế này là vua Vishnugupta, trị vì từ 540 đến 550. Ngoài sự xâm chiếm của người Hung, các yếu tố khác cũng góp phần làm suy sụp chế chế như sự canh tranh giữa các Vakatakas và sự nổi dậy của Yashodharman ở Malwa.[21]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Gupta Dynasty – MSN Encarta”. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2009. 
  2. ^ India – Historical Setting – The Classical Age – Gupta and Harsha. Historymedren.about.com (17 June 2010). Retrieved on 2011-11-21.
  3. ^ N. Jayapalan, History of India, Vol. I, (Atlantic Publishers, 2001), 130.
  4. ^ Ancient India. The Age of the Guptas. wsu.edu
  5. ^ Gupta Empire in India, art in the Gupta empire, Indian history – India. Indianchild.com. Retrieved on 2011-11-21.
  6. ^ Raghu Vamsa v 4.60–75
  7. ^ Gupta dynasty (Indian dynasty). Britannica Online Encyclopedia. Retrieved on 2011-11-21.
  8. ^ Mahajan, p. 540
  9. ^ Gupta dynasty: empire in 4th century. Britannica Online Encyclopedia. Retrieved on 2011-11-21.
  10. ^ Agarwal, Ashvini (1989). Rise and Fall of the Imperial Guptas, Delhi:Motilal Banarsidass, ISBN 81-208-0592-5, pp.264–9
  11. ^ Nehra, R.K. Hinduism and Its Military Ethos. Lancer Publishers,2010. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012. 
  12. ^ a ă Brannigan, Michael C. Striking a Balance: A Primer in Traditional Asian Values. Rowman & Littlefield, 2010. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012. 
  13. ^ Sharma, R.S. Early Medieval Indian Society: A Study in Feudalisation. Books.google.co.in. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012. 
  14. ^ List of Altekar's publications in the Open Library.
  15. ^ http://www.banglapedia.org/HT/G_0243.htm
  16. ^ Agarwal, Ashvini (1989). Rise and Fall of the Imperial Guptas, Delhi:Motilal Banarsidass, ISBN 81-208-0592-5, pp.84–7
  17. ^ Majumdar, p. 474
  18. ^ Ancient Indian History and Civilization by Sailendra Nath Sen p.220
  19. ^ Encyclopaedia of Indian Events & Dates by S. B. Bhattacherje p.A15
  20. ^ Columbia Encyclopedia
  21. ^ Singh, Upinder (2008). A History of Ancient and Early Medieval India: From the Stone Age to the 12th Century. New Delhi: Pearson Education. tr. 480. ISBN 978-81-317-1677-9. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Wikisource-logo.svg
Wikisource có văn bản gốc từ 1911 Encyclopædia Britannica về:

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Andrea Berens Karls & Mounir A. Farah. World History The Human Experience.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]