Nhà Tống

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tống

960–1279
Vị trí của Nhà Bắc Tống
Bắc Tống năm 1111
Thủ đô Biện Kinh (汴京)
(960–1127)

Lâm Ấp (臨安)
(1127–1276)
Ngôn ngữ Tiếng Trung
Tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo
Chính thể Quân chủ
Hoàng Đế
 - 960–976 Thái Tổ
 - 976–997 Thái Tông
 - 1127–1162 Cao Tông
 - 1278–1279 Đế Bính
Thừa tướng
 - – Sái Kinh,
 - – Phạm Trọng Yêm,
Hàn Thác Trụ,
 - – Lý Phưởng,
Tần Cối,
Tư Mã Quang,
Lịch sử
 - Triệu Khuông Dẫn lên ngai vàng nhà Hậu Chu 960
 - Sự kiện Tĩnh Khang 1127
 - Lâm Ấp thất thủ 1276
 - Trận Nhai Môn; Đại Tống diệt vong 1279
Diện tích
 - 962 1.050.000 km²; (405.407 mi²)
 - 1111 2.800.000 km²; (1.081.086 mi²)
 - 1142. 2.000.000 km²; (772.204 mi²)
Dân số
 - 1120 ước tính 118.800.000a[›] 
Tiền tệ Giao tử, Cối Tử, Tiền xu
Zhongwen.svg
Bài viết này có chứa các chữ Hán. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì chữ Hán.
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
Thập Lục Quốc
304–439
  Đông Tấn 317–420
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay

Nhà Tống (tiếng Trung: 宋朝; bính âm: Sòng Cháo; Wade-Giles: Sung Ch'ao; Hán-Việt: Tống Triều; phát âm Tiếng Trung: [sʊ̂ŋ tʂʰɑ̌ʊ̯]) là một triều đại cai trị ở Trung Quốc từ năm 960 đến 1279, họ đã thành công trong việc thống nhất Trung Quốc trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, và được thay thế bởi nhà Nguyên. Nhà Tống là nhà nước đầu tiên trên thế giới phát hành ra tiền giấy, và nhà nước Trung Quốc đầu tiên đã thành lập nên lực lượng hải quân thường trực lâu dài. Triều đại này đã chứng kiến việc lần đầu tiên sử dụng thuốc súng, cũng như nhận thức về cách sử dụng la bàn.

Triều nhà Tống được chia thành hai giai đoạn riêng biệt: Bắc Tống và Nam Tống. Bắc Tống (tiếng Trung: 北宋, 960-1127) là giai đoạn khi thủ đô của họ ở thành phố Biện Kinh (nay là Khai Phong) ở miền bắc và triều đình kiểm soát toàn bộ Trung Hoa. Nam Tống (tiếng Trung: 南宋, 1127-1279) để chỉ khoảng thời gian khi nhà Tống đã mất quyền kiểm soát phía bắc cho người Nữ Chân nhà Kim, trong thời gian này triều đình nhà Tống lui về phía nam sông Dương Tử và lập kinh đô ở Lâm Ấp (nay là Hàng Châu). Mặc dù nhà Tống đã mất quyền cai quản khu vực nền móng của nền nông nghiệp Trung Hoa quanh dòng sông Hoàng Hà, nhưng nền kinh tế nhà Tống không nằm trong đống đổ nát, dân số nhà Nam Tống chiếm gần 60% toàn bộ dân số Trung Hoa thời bấy giờ và nền nông nghiệp cũng trở nên hiệu quả nhất.[1] Triều Nam Tống dành sự ủng hộ đáng kể cho nền hải quân, tạo nên sức mạnh bảo vệ vùng biển và biên giới đất liền cũng như tiến hành những nhiệm vụ hàng hải ra nước ngoài.

Để đẩy lùi những cuộc xâm lược của người Nữ Chân và sau đó là người Mông Cổ, nhà Tống đã phát triển quân đội tăng cường sử dụng thuốc súng. Nhà Kim bị người Mông Cổ chinh phục năm 1234, sau đó Mông Cổ kiểm soát toàn bộ phía bắc Trung Quốc và luôn đe doạ triều đình Nam Tống. Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra, khi Hốt Tất Liệt nhận được tin về cái chết của Mông Ca (còn gọi là Mông Kha), vua cai trị Mông Cổ. Ông quay về nước để chiếm ngôi báu từ tay các đối thủ và được tôn lên làm Đại Hãn, mặc dù chỉ được công nhận bởi một số người Mông Cổ ở phía Tây. Năm 1271, Hốt Tất Liệt tự xưng là hoàng đế Trung Hoa.[2] Sau hai thập kỷ chiến tranh lẻ tẻ, quân đội Hốt Tất Liệt đã chinh phục nhà Tống năm 1279. Một lần nữa Trung Quốc được thống nhất, dưới triều đại nhà Nguyên Mông (1271-1368).[3]

Dân số Trung Quốc tăng gấp đôi trong thế kỷ 10 và 11. Sự tăng trưởng này đã thông qua bằng việc mở rộng canh tác lúa ở miền trung và miền nam Trung Quốc, việc sử dụng lúa chín sớm từ phía Đông Nam và Nam Á, và sản xuất thặng dư lương thực dồi dào.[4][5] Dưới triều Bắc Tống đã thực hiện một cuộc điều tra dân số và kết quả là 50 triệu người, giống như thời nhà Hán và nhà Đường. Con số này được kiểm chứng trong Tống sử. Tuy nhiên, người ta đã ước tính rằng thời kỳ Bắc Tống đã có hơn 100 triệu người, vào thời kỳ đầu nhà Minh đã có hơn 200 triệu người.[6]

Nghệ thuật, Văn hoá và Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người sáng lập ra nhà Tống, Triệu Khuông Dẫn đã xây dựng nên một hệ thống quan lại trung ương tập quyền có hiệu quả với các quan chức có học thức xuất phát từ bình dân. Các lãnh chúa quân phiệt địa phương và hệ thống quan lại riêng của họ bị thay thế bằng cách quan chức do trung ương chỉ định. Hệ thống cai trị dân sự này dẫn tới sự tập trung quyền lực to lớn trong tay hoàng đế và triều đình trung ương mạnh hơn nhiều so với các triều đại trước đó.

Nhà Tống đã phát triển nhiều thành phố lớn không chỉ với mục đích hành chính mà còn đóng vai trò trung tâm thương mại, công nghiệp và hàng hải. Tầng lớp quan lại học giả - còn được gọi chung là quân tử - sống tại các địa phương cùng với các chủ tiệm, thợ thủ công và nhà buôn. Một nhóm bình dân giàu có - tầng lớp buôn bán - bắt đầu nổi lên khi kỹ thuật in phát triển dẫn tới mở rộng giáo dục, tăng trưởng kinh tế tư nhân, và nền kinh tế thị trường bắt đầu kết nối các tỉnh ven biển với vùng trung tâm. Việc sở hữu đất đai và tiến thân bằng con đường quan lại không còn là những phương tiện duy nhất để làm giàu và tăng uy thế. Sự phát triển của tiền giấy và một hệ thống thuế thống nhất đồng nghĩa với sự phát triển của một hệ thống thị trường toàn quốc thực sự.

Cùng với nó là sự khởi đầu của cái có thể coi là cuộc cách mạng công nghiệp Trung Quốc. Ví dụ, nhà sử học Robert Hartwell đã ước tính rằng sản lượng thép trên đầu người đã tăng gấp 6 lần trong giai đoạn từ năm 806 tới năm 1078, có nghĩa, tới năm 1078 Trung Quốc sản xuất 125.000 tấn thép một năm, và lượng tiêu thụ trên đầu người đạt khoảng 1,5 kg một năm (so với 0,5 kg ở Châu Âu). Thép được dùng để sản xuất cày, búa, kim, ghim, chũm choẹ v.v với số lượng lớn, cho thị trường nội địa và để buôn bán với thế giới bên ngoài, khi ấy cũng đang phát triển mạnh mẽ. Đồng thời Trung Quốc cũng phát minh ra thuốc súng, phát triển súng thần công, súng phun lửa (như kiểu người Byzantine đã phát minh ra), kỹ thuật in ấn khiến tăng số người biết đọc, viết cũng như các vật tư phục vụ ngành in. Điều này đồng nghĩa với việc các bậc cha mẹ khuyến khích con cái đi học để biết đọc, biết viết để có cơ hội tham dự các kỳ khoa cử (科舉) nhằm trở thành một quan chức trong hệ thống quan lại dân sự triều đình. Nhờ những phát minh và cải tiến đó (cùng với cuộc cách mạng nông nghiệp đang diễn ra) Trung Quốc đã phát triển một vài thành phố lớn nhất thế giới thời kỳ ấy. Ví dụ Hàng Châu từng có khoảng 500.000 người: lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ thành phố châu Âu nào - ở Tây Âu tới năm 1200, chỉ ParisVenice có dân số trên 100.000 người, dù cho Constantinopolis đã có tới 300.000 dân.

Về mặt văn hoá, nhà Tống có mức phát triển cao hơn nhiều so với những thế kỷ trước đó, không chỉ gồm những phát triển đã có từ thời nhà Đường như quan niệm về người thông thạo bách nghệ, gồm cả tính chất học giả, nhà thơ, hoạ sĩ và quan lại, mà còn cả về việc ghi chép sử, hoạ, thư pháp, và cả sứ tráng men. Các học giả nhà Tống tìm cách giải nghĩa mọi vấn đề triết học và chính trị trong những tác phẩm Khổng giáo cổ điển. Việc này khiến sự quan tâm tới các tư tưởng Khổng giáo và xã hội thời cổ lại tăng lên, trùng khớp với giai đoạn giảm sút ảnh hưởng Phật giáo, mà giới lãnh đạo Trung Quốc coi là ngoại lai và không mang lại nhiều tư tưởng hành động thực tế chính trị cũng như cách giải quyết các vấn đề trần thế.

Tranh vẽ Trung Hoa Thế kỷ XII mô tả những người lính thiết kị binh đời Tống

Các nhà lý học thời Tống đã phát hiện ra một số sự thuần khiết bên trong các văn bản kinh điển cổ, viết bình luận về chúng. Người nổi tiếng nhất trong số họ là Chu Hy (1130-1200), sự tổng hợp tư tưởng Khổng giáo với Phật giáo và Đạo giáo của ông cùng với các tư tưởng khác đã trở thành hệ tư tưởng chính thức của triều đình từ cuối thời nhà Tống tới cuối thế kỷ 19. Vì được kết hợp với khoa cử, triết lý Chu Hy liên quan tới tín điều chính thức cứng nhắc, bắt buộc sự tuân phục mù quáng từ một phía của dân chúng đối với nhà cai trị, con với cha, vợ với chồng, em với anh. Hậu quả làm kìm hãm sự phát triển xã hội của nước Trung Hoa tiền hiện đại, dẫn tới sự phát triển chậm chạp của nhiều thế hệ chính trị xá hội và sự ổn định tư tưởng dẫn tới sự trì trệ văn hoá cho tới tận thế kỷ 19. Học thuyết lý học Khổng giáo mới cũng đóng vai trò quyết định trong đời sống trí thức tại Triều Tiên, Việt Nam, và Nhật Bản.

Bắc Tống suy vong[sửa | sửa mã nguồn]

Sau gần 100 năm tồn tại đầu tiên, nhà Tống dần bị suy yếu bởi sự uy hiếp của 2 quốc gia phía bắc và tây bắc là LiêuTây Hạ. Nhà Kim sau khi phối hợp cùng Bắc Tống diệt Liêu đã tấn công dần dần Tống và vào ngày 9 tháng 1 năm 1127 lực lượng nhà Kim đã chiếm Khai Phong, thủ đô của triều đại Bắc Tống, bắt giữ cả hai vua nhà Tống là Tống Khâm Tông, và cha của ông là vua Tống Huy Tông, là người đã từ bỏ ngôi báu do sợ hãi lực lượng nhà Kim. Sau khi Khai Phong thất thủ, lực lượng nhà Tống dưới sự lãnh đạo của nhà Nam Tống kế tiếp vẫn tiếp tục chiến đấu với nhà Kim trong hơn mười năm tiếp theo, cuối cùng đã dẫn đến ký kết hiệp ước hòa bình năm 1141, và cắt toàn bộ miền bắc Trung Quốc cho nhà Kim năm 1142 để đổi lấy hòa bình và chuyển kinh đô xuống miền nam ở Hàng Châu.

Bắc Tống là một trong những triều đại yếu ớt. Về quân sự, họ liên tục bị thua trong các cuộc chiến tranh với Liêu, Tây Hạ, Kim ở phía bắc và Đại Việt ở phía nam, một số sử gia cho rằng Bắc Tống là triều đại yếu nhất trong các triều đại lớn của Trung Hoa như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh.

Sự sụp đổ của Nam Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1276 triều đình Nam Tống bỏ chạy bằng thuyền tới Quảng Đông trước sự xâm lược của Mông Cổ, để Tống Cung Đế lại phía sau. Vai trò lãnh đạo kháng chiến được trao cho hai hoàng tử trẻ, là em của Cung Đế. Người lớn tuổi hơn, Triệu Thị, mới 9 tuổi, và được phong làm Hoàng đế Đoan Tông; vào năm 1277, triều đình lại bỏ chạy tới Ngân Khoáng Loan (hay Mai Oa) ở Đại Tự Sơn và sau này ở khu vực hiện nay là Cửu Long, Hồng Kông (xem thêm Tống Vương Đài). Người anh lớn ốm chết, người em là Vệ Vương Triệu Bính, mới 7 tuổi, lên kế vị. Ngày 19 tháng 3, 1279 quân đội Tống bị đánh bại trong trận chiến cuối cùng, Nhai Sơn hải chiến, chống lại người Mông Cổ ở đồng bằng sông Châu Giang. Một vị đại thần là Lục Tú Phu đã ôm vị hoàng đế nhảy xuống biển tự vẫn. (Xem: Tống Vương Đài). người sau đời đời nhớ ơn

Các Hoàng đế nhà Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu hiệu Thụy hiệu Họ, tên Trị vì Niên hiệu và thời gian sử dụng (âm lịch)
Bắc Tống, 960-1127
Thái Tổ (太祖) Khải Vận Lập Cực Anh Vũ Duệ Văn Thần Đức Thánh Công Chí Minh Đại Hiếu hoàng đế
(启运立极英武睿文神德圣功至明大孝皇帝)
Triệu Khuông Dẫn (赵匡胤) 960-976 Kiến Long (建隆) 960-963
Càn Đức (乾德) 963-968
Khai Bảo (開寶) 968-976
Thái Tông (太宗) Chí Nhân Ứng Đạo Thần Công Thánh Đức Văn Vũ Duệ Liệt Đại Minh Quảng Hiếu hoàng đế
(至仁應道神功聖德文文武睿烈大明廣孝皇帝)
Triệu Quang Nghĩa (赵光义) 976-997 Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) 976-984
Ung Hi (雍熙) 984-987
Đoan Củng (端拱) 988-989
Thuần Hoá (淳化) 990-994
Chí Đạo (至道) 995-997
Chân Tông (真宗) Ứng Phù Kê Cổ Thần Công Nhượng Đức Văn Minh Vũ Định Chương Thánh Nguyên Hiếu hoàng đế
(应符稽古神功让德文明武定章圣元孝皇帝)
Triệu Hằng (赵恒) 997-1022 Hàm Bình (咸平) 998-1003
Cảnh Đức (景德) 1004-1007
Đại Trung Tường Phù (大中祥符) 1008-1016
Thiên Hi (天禧) hay Nguyên Hi (元禧) 1017-1021
Càn Hưng (乾興) 1022
Nhân Tông (仁宗) Thể Thiên Pháp Đạo Cực Công Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ Duệ Triết Minh Hiếu hoàng đế
(体天法道极功全德神文圣武睿哲明孝皇帝)
Triệu Trinh (赵祯) 1022-1063 Thiên Thánh (天聖) 1023-1032
Minh Đạo (明道) 1032-1033
Cảnh Hữu (景祐) 1034-1038
Bảo Nguyên (寶元) 1038-1040
Khang Định (康定) 1040-1041
Khánh Lịch (慶曆) 1041-1048
Hoàng Hữu (皇祐) 1049-1054
Chí Hoà (至和) 1054-1056
Gia Hữu (嘉祐) 1056-1063
Anh Tông (英宗) Thể Càn Ứng Lịch Long Công Thịnh Đức Hiến Văn Túc Vũ Duệ Thánh Tuyên Hiếu hoàng đế
(体乾应历隆功盛德宪文肃武睿圣宣孝皇帝)
Triệu Thự (赵曙) 1063-1067 Trì Bình (治平) 1064-1067
Thần Tông (神宗) Thiệu Thiên Pháp Cổ Vận Đức Kiến Công Anh Văn Liệt Vũ Khâm Nhân Thánh Hiếu hoàng đế
(绍天法古运德建功英文烈武钦仁圣孝皇帝) hay Thể Nguyên Hiển Đạo Pháp Cổ Lập Hiến Đế Đức Vương Công Anh Văn Liệt Vũ Khâm Nhân Thánh Hiếu hoàng đế
(體元顯道法古立憲帝德王功英文烈武欽仁聖孝皇帝)
Triệu Húc (赵顼) 1067-1085 Hi Ninh (熙寧) 1068-1077
Nguyên Phong (元豐) 1078-1085
Triết Tông (哲宗) Hiến Nguyên Kế Đạo Hiển Đức Định Công Khâm Văn Duệ Vũ Tề Thánh Chiêu Hiếu hoàng đế
(宪元继道显德定功钦文睿武齐圣昭孝皇帝)
Triệu Hú (赵煦) 1085-1100 Nguyên Hữu (元祐) 1086-1094
Thiệu Thánh (紹聖) 1094-1098
Nguyên Phù (元符) 1098-1100
Huy Tông (徽宗) Thể Thần Hợp Đạo Tuấn Liệt Tốn Công Thánh Văn Nhân Đức Hiến Từ Hiển Hiếu hoàng đế
(体神合道骏烈逊功圣文仁德宪慈显孝皇帝)
Triệu Cát (赵佶) 1100-1125 Kiến Trung Tĩnh Quốc (建中靖國) 1101
Sùng Ninh (崇寧) 1102-1106
Đại Quán (大觀) 1107-1110
Chính Hoà (政和) 1111-1118
Trọng Hoà (重和) 1118-1119
Tuyên Hoà (宣和) 1119-1125
Khâm Tông (钦宗) Cung Văn Thuận Đức Nhân Hiếu hoàng đế
(恭文顺德仁孝皇帝)
Triệu Hoàn 1126-1127 Tĩnh Khang (靖康) 1125-1127
Nam Tống, 1127- 1279
Cao Tông (高宗) Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu
(受命中兴全功至德圣神武文昭仁宪孝皇帝)
Triệu Cấu (赵构) 1127-1162 Tĩnh Viêm (靖炎) hay Kiến Viêm (建炎) 1127-1130
Thiệu Hưng (紹興) 1131-1162
Hiếu Tông (孝宗) Thiệu Thống Đồng Đạo Quán Đức Chiêu Công Triết Văn Thần Vũ Minh Thánh Thành Hiếu hoàng đế
(绍统同道冠德昭功哲文神武明圣成孝皇帝)
Triệu Thận (赵昚) 1162-1189 Long Hưng (隆興) 1163-1164
Càn Đạo (乾道) 1165-1173
Thuần Hi (淳熙) 1174-1189
Quang Tông (光宗) Tuần Đạo Hiến Nhân Minh Công Mậu Đức Ôn Văn Thuận Vũ Thánh Triết Từ Hiếu hoàng đế
(循道宪仁明功茂德温文顺武圣哲慈孝皇帝)
Triệu Đôn (赵惇) 1189-1194 Thiệu Hi (紹熙) 1190-1194
Ninh Tông (宁宗) Pháp Thiên Bị Đạo Thuần Đức Mậu Công Nhân Văn Triết Vũ Thánh Duệ Cung Hiếu hoàng đế
(法天备道纯德茂功仁文哲武圣睿恭孝皇帝)
Triệu Khoách (赵扩) 1194-1224 Khánh Nguyên (慶元) 1195-1200
Gia Thái (嘉泰) 1201-1204
Khai Hi (開禧) 1205-1207
Gia Định (嘉定) 1208-1224
Lý Tông (理宗) Kiến Đạo Bị Đức Đại Công Phục Hưng Liệt Văn Nhân Vũ Thánh Minh An Hiếu hoàng đế
(建道备德大功复兴烈文仁武圣明安孝皇帝)
Triệu Quân (赵昀) 1224-1264 Bảo Khánh (寶慶) 1225-1227
Thiệu Định (紹定) 1228-1233
Đoan Bình (端平) 1234-1236
Gia Hi (嘉熙) 1237-1240
Thuần Hữu (淳祐) 1241-1252
Bảo Hữu (寶祐) 1253-1258
Khai Khánh (開慶) 1259
Cảnh Định (景定) 1260-1264
Độ Tông (度宗) Đoan Văn Minh Vũ Cảnh Hiếu hoàng đế
(端文明武景孝皇帝)
Triệu Kỳ (赵禥) 1264-1274 Hàm Thuần (咸淳) 1265-1274
Cung Tông (恭宗) Hiếu Cung Ý Thánh hoàng đế
(孝恭懿聖皇帝)
Triệu Hiển (趙显) 1274-1276 Đức Hữu (德祐) 1275-1276
Đoan Tông (端宗) Dụ Văn Chiêu VũMẫn Hiếu hoàng đế
(裕文昭武愍孝皇帝)
Triệu Thị (赵昰) 1276-1278 Cảnh Viêm (景炎) 1276-1278
không có Đế Bính
hay Vệ Vương
Triệu Bính (赵昺) 1278-1279 Tường Hưng (祥興) 1278-1279

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ebrey, Walthall & Palais 2006, tr. 167
  2. ^ Rossabi 1988, tr. 115
  3. ^ Rossabi 1988, tr. 76
  4. ^ Ebrey, Walthall & Palais 2006, tr. 156
  5. ^ Brook 1998, tr. 96
  6. ^ Veeck et al. 2007, tr. 103–104

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Adshead, S. A. M. (2004), T'ang China: The Rise of the East in World History, New York: Palgrave Macmillan, ISBN 1403934568  (hardback).
  • Anderson, James A. (2008), “'Treacherous Factions': Shifting Frontier Alliances in the Breakdown of Sino-Vietnamese Relations on the Eve of the 1075 Border War”, trong Wyatt, Don J., Battlefronts Real and Imagined: War, Border, and Identity in the Chinese Middle Period, New York: Palgrave MacMillan, tr. 191–226, ISBN 978-1-4039-6084-9 
  • Bai, Shouyi (2002), An Outline History of China , Beijing: Foreign Languages Press, ISBN 7119023470 
  • Bol, Peter K. (2001), “The Rise of Local History: History, Geography, and Culture in Southern Song and Yuan Wuzhou”, Harvard Journal of Asiatic Studies 61 (1): 37–76, doi:10.2307/3558587, JSTOR 3558587 
  • Brook, Timothy (1998), The Confusions of Pleasure: Commerce and Culture in Ming China, Berkeley: University of California Press, ISBN 9780520221543 
  • Brose, Michael C. (2008), “People in the Middle: Uyghurs in the Northwest Frontier Zone”, trong Wyatt, Don J., Battlefronts Real and Imagined: War, Border, and Identity in the Chinese Middle Period, New York: Palgrave MacMillan, tr. 253–289, ISBN 978-1-4039-6084-9 
  • Ebrey, Patricia Buckley; Walthall, Anne; Palais, James B. (2006), East Asia: A Cultural, Social, and Political History, Boston: Houghton Mifflin, ISBN 0-618-13384-4 
  • Ebrey, Patricia Buckley (1999), The Cambridge Illustrated History of China, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0-521-66991-X  (paperback).
  • Embree, Ainslie Thomas; Gluck, Carol (1997), Asia in Western and World History: A Guide for Teaching, Armonk: ME Sharpe, ISBN 1563242648 
  • Chan, Alan Kam-leung; Clancey, Gregory K.; Loy, Hui-Chieh (2002), Historical Perspectives on East Asian Science, Technology and Medicine, Singapore: Singapore University Press, ISBN 9971-69-259-7 
  • Fairbank, John King; Goldman, Merle (2006) [1992], China: A New History (ấn bản 2), Cambridge; London: The Belknap Press of Harvard University Press, ISBN 0-674-01828-1 
  • Fraser, Julius Thomas; Haber, Francis C. (1986), Time, Science, and Society in China and the West, Amherst: University of Massachusetts Press, ISBN 0-87023-495-1 
  • Gernet, Jacques (1962), Daily Life in China on the Eve of the Mongol Invasion, 1250-1276, Translated by H. M. Wright, Stanford: Stanford University Press, ISBN 0-8047-0720-0 
  • Graff, David Andrew; Higham, Robin (2002), A Military History of China, Boulder: Westview Press 
  • Guo, Qinghua (1998), “Yingzao Fashi: Twelfth-Century Chinese Building Manual”, Architectural History: Journal of the Society of Architectural Historians of Great Britain 41: 1–13 
  • Hall, Kenneth (1985), Maritime trade and state development in early Southeast Asia, Hawaii: University of Hawaii Press, ISBN 0-8248-0959-9 
  • Hansen, Valerie (2000), The Open Empire: A History of China to 1600, New York & London: W.W. Norton & Company, ISBN 0-393-97374-3 
  • Hargett, James M. (1985), “Some Preliminary Remarks on the Travel Records of the Song Dynasty (960–1279)”, Chinese Literature: Essays, Articles, Reviews (CLEAR): 67–93 
  • Hargett, James M. (1996), “Song Dynasty Local Gazetteers and Their Place in The History of Difangzhi Writing”, Harvard Journal of Asiatic Studies 56 (2): 405–442, doi:10.2307/2719404, JSTOR 2719404 
  • Hartwell, Robert M. (1982), “Demographic, Political, and Social Transformations of China, 750-1550”, Harvard Journal of Asiatic Studies 42 (2): 365–442, doi:10.2307/2718941, JSTOR 2718941 
  • Hymes, Robert P. (1986), Statesmen and Gentlemen: The Elite of Fu-Chou, Chiang-Hsi, in Northern and Southern Sung, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521306310 
  • Hsu, Mei-ling (1993), “The Qin Maps: A Clue to Later Chinese Cartographic Development”, Imago Mundi 45: 90–100, doi:10.1080/03085699308592766 
  • Levathes, Louise (1994), When China Ruled the Seas, New York: Simon & Schuster, ISBN 0671701584 
  • Lorge, Peter (2005), War, Politics and Society in Early Modern China, 900–1795 (ấn bản 1), New York: Routledge 
  • McKnight, Brian E. (1992), Law and Order in Sung China, Cambridge: Cambridge University Press 
  • Mohn, Peter (2003), Magnetism in the Solid State: An Introduction, New York: Springer-Verlag, ISBN 3-540-43183-7 
  • Mote, F. W. (1999), Imperial China: 900–1800, Harvard: Harvard University Press 
  • Needham, Joseph (10 tháng 4 năm 1986), Science and Civilization in China: Volume 1, Introductory Orientations, Taipei: Caves Books 
  • Needham, Joseph (10 tháng 4 năm 1986), Science and Civilization in China: Volume 3, Mathematics and the Sciences of the Heavens and the Earth, Taipei: Caves Books 
  • Needham, Joseph (10 tháng 4 năm 1986), Science and Civilization in China: Volume 4, Physics and Physical Technology, Part 2: Mechanical Engineering, Taipei: Caves Books 
  • Needham, Joseph (10 tháng 4 năm 1986), Science and Civilization in China: Volume 4, Physics and Physical Technology, Part 3: Civil Engineering and Nautics, Taipei: Caves Books 
  • Needham, Joseph (10 tháng 4 năm 1986), Science and Civilization in China: Volume 5, Chemistry and Chemical Technology, Part 7: Military Technology; The Gunpowder Epic, Taipei: Caves Books 
  • Paludan, Ann (1998), Chronicle of the Chinese Emperors, London: Thames & Hudson, ISBN 0-500-05090-2 
  • Peers, C. J. (2006), Soldiers of the Dragon: Chinese Armies 1500 BC-AD 1840, Oxford: Osprey Publishing 
  • Rossabi, Morris (1988), Khubilai Khan: His Life and Times, Berkeley: University of California Press, ISBN 0-520-05913-1 
  • Rudolph, R. C. (1963), “Preliminary Notes on Sung Archaeology”, The Journal of Asian Studies 22 (2): 169–177, doi:10.2307/2050010, JSTOR 2050010 
  • Sastri, Nilakanta, K.A. (1984), The CōĻas, Madras: University of Madras 
  • Schafer, Edward H. (1957), “War Elephants in Ancient and Medieval China”, Oriens 10 (2): 289–291, doi:10.2307/1579643, JSTOR 1579643 
  • Sen, Tansen (2003), Buddhism, Diplomacy, and Trade: The Realignment of Sino-Indian Relations, 600–1400, Manoa: Asian Interactions and Comparisons, a joint publication of the University of Hawaii Press and the Association for Asian Studies, ISBN 0824825934 
  • Shen, Fuwei (1996), Cultural flow between China and the outside world, Beijing: Foreign Languages Press, ISBN 7-119-00431-X 
  • Sivin, Nathan (1995), Science in Ancient China, Brookfield, Vermont: VARIORUM, Ashgate Publishing 
  • Steinhardt, Nancy Shatzman (1993), “The Tangut Royal Tombs near Yinchuan”, Muqarnas: an Annual on Islamic Art and Architecture X: 369–381 
  • Sung, Tz’u (1981), The Washing Away of Wrongs: Forensic Medicine in Thirteenth-Century China, translated by Brian E. McKnight, Ann Arbor: University of Michigan Press, ISBN 0-89264-800-7 
  • Temple, Robert (1986), The Genius of China: 3,000 Years of Science, Discovery, and Invention, with a foreword by Joseph Needham, New York: Simon and Schuster, ISBN 0-671-62028-2 
  • Veeck, Gregory; Pannell, Clifton W.; Smith, Christopher J.; Huang, Youqin (2007), China's Geography: Globalization and the Dynamics of Political, Economic, and Social Change, Lanham: Rowman & Littlefield Publishers, ISBN 0742554023 
  • Wagner, Donald B. (2001), “The Administration of the Iron Industry in Eleventh-Century China”, Journal of the Economic and Social History of the Orient 44 (2): 175–197, doi:10.1163/156852001753731033 
  • Wang, Lianmao (2000), Return to the City of Light: Quanzhou, an eastern city shining with the splendour of medieval culture, Fujian People's Publishing House 
  • West, Stephen H. (1997), “Playing With Food: Performance, Food, and The Aesthetics of Artificiality in The Sung and Yuan”, Harvard Journal of Asiatic Studies 57 (1): 67–106, doi:10.2307/2719361, JSTOR 2719361 
  • Wright, Arthur F. (1959), Buddhism in Chinese History, Stanford: Stanford University Press 
  • Yuan, Zheng (1994), “Local Government Schools in Sung China: A Reassessment”, History of Education Quarterly 34 (2): 193–213, doi:10.2307/369121, JSTOR 369121 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cotterell, Arthur. (2007), The Imperial Capitals of China - An Inside View of the Celestial Empire, London: Pimlico, tr. 304 pages., ISBN 9781845950095 
  • Gascoigne, Bamber (2003), The Dynasties of China: A History, New York: Carroll & Graf, ISBN 1-84119-791-2 
  • Gernet, Jacques (1982), A history of Chinese civilization, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0-521-24130-8 
  • Giles, Herbert Allen (1939). A Chinese biographical dictionary (Gu jin xing shi zu pu). Shanghai: Kelly & Walsh. (see here [1] for more)
  • Kruger, Rayne (2003), All Under Heaven: A Complete History of China, Chichester: John Wiley & Sons, ISBN 0-470-86533-4 
  • Tillman, Hoyt C. and Stephen H. West (1995). China Under Jurchen Rule: Essays on Chin Intellectual and Cultural History. Albany, New York: State University of New York Press.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Ngũ Đại Thập Quốc
Triều đại Trung Hoa
960–1279
Kế nhiệm:
Nhà Nguyên