Nhà Tống

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tống
Đế Quốc
Blank.png
960 – 1279 Blank.png
Vị trí của Nhà Bắc Tống
Bắc Tống năm 1111
Thủ đô Biện King (汴京)
(960–1127)

Lâm Ấp (臨安)
(1127–1276)
Ngôn ngữ Tiếng Trung
Tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo
Chính thể Quân chủ
Hoàng Đế
 - 960–976 Thái Tổ
 - 976–997 Thái Tông
 - 1127–1162 Cao Tông
 - 1278–1279 Đế Bính
Thừa tướng
 - – Sái Kinh,
 - – Phạm Trọng Yêm,
Hàn Trụ,
 - – Lý Phưởng,
Tần Cối,
Tư Mã Quang,
Lịch sử
 - Triệu Khuông Dẫn lên ngai vàng nhà Hậu Chu 960
 - Sự kiện Tĩnh Khang 1127
 - Lâm Ấp thất thủ 1276
 - Trận Nhai Môn; Đại Tống diệt vong 1279
Diện tích
 - 962 1.050.000 km²; (405.407 mi²)
 - 1111 2.800.000 km²; (1.081.086 mi²)
 - 1142. 2.000.000 km²; (772.204 mi²)
Dân số
 - 1120 ước tính 118.800.000a[›] 
Tiền tệ Giao tử, Cối Tử, Tiền xu
Zhongwen.svg
Bài viết này có chứa các chữ Hán. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì chữ Hán.
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Nhà Hạ 2205–1767 TCN
Nhà Thương 1766–1122 TCN
Nhà Chu 1122–256 TCN
  Nhà Tây Chu
  Nhà Đông Chu
    Xuân Thu
    Chiến Quốc
TRUNG ĐẠI
Nhà Tần 221 TCN –206 TCN
Nhà Hán 206 TCN–220 CN
  Nhà Tây Hán
  Nhà Tân
  Nhà Đông Hán
Tam Quốc 220–280
  Ngụy, Thục & Ngô
Nhà Tấn 265–420
  Nhà Tây Tấn
  Nhà Đông Tấn Ngũ Hồ thập lục quốc
304–439
Nam Bắc Triều 420–589
Nhà Tùy 581–619
CẬN ĐẠI
Nhà Đường 618–907
  (Nhà Vũ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–960
Nhà Liêu 907–1125
Nhà Tống 960–1279
  Nhà Bắc Tống Nhà Tây Hạ
  Nhà Nam Tống Nhà Kim
Nhà Nguyên 1271–1368
Nhà Minh 1368–1644
Nhà Thanh 1644–1911
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–nay
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa

1949–nay

Trung Hoa Dân Quốc
(tại Đài Loan)

Triều đại Trung Quốc
Lịch sử quân sự Trung Quốc
Hộp này: xem  thảo luận  sửa

Nhà Tống (Trung: 宋朝; bính âm: Sòng Cháo; Wade-Giles: Sung Ch'ao; phát âm Tiếng Trung: [sʊ̂ŋ tʂʰɑ̌ʊ̯]) là một triều đại cai trị ở Trung Quốc từ năm 960 đến 1279, họ đã thành công trong việc thống nhất Trung Quốc trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, và được thay thế bởi nhà Nguyên. Nhà Tống là nhà nước đầu tiên trên thế giới phát hành ra tiền giấy, và nhà nước Trung Quốc đã thành lập nên lực lượng hải quân thường trực lâu dài. Triều đại này đã chứng kiến việc lần đầu tiên sử dụng thuốc súng, cũng như nhận thức về cách sử dụng la bàn.

Triều nhà Tống được chia thành hai giai đoạn riêng biệt: Bắc Tống và Nam Tống. Bắc Tống (Trung: 北宋, 960-1127) là giai đoạn khi thủ đô của họ ở thành phố Biện Kinh (nay là Khai Phong) ở miền bắc và triều đình kiểm soát toàn bộ Trung Hoa. Nam Tống (Trung: 南宋, 1127-1279) để chỉ khoảng thời gian khi nhà Tống đã mất quyền kiểm soát phía bắc cho người Nữ Chân nhà Kim, trong thời gian này triều đình nhà Tống lui về phía nam sông Dương Tử và lập kinh đô ở Lâm Ấp (nay là Hàng Châu). Mặc dù nhà Tống đã mất quyền cai quản khu vực nền móng của nền nông nghiệp Trung Hoa quang dòng sông Hoàng Hà, nhưng nền kinh tế nhà Tống không nằm trong đống đổ nát, dân số nhà Nam Tống chiếm gần 60% toàn bộ dân số Trung Hoa thời bấy giờ và nền nông nghiệp cũng trở nên hiệu quả nhất.[1] Triều Nam Tống dành sự ủng hộ đáng kể cho nền hải quân, tạo nên sức mạnh bảo vệ vùng biển và biên giới đất liền cũng như tiến hành những nhiệm vụ hàng hải ra nước ngoài.

Để đẩy những cuộc xâm lược của người Nữ Chân và sau đó là người Mông Cổ, nhà Tống đã phát triển quân đội tăng cường sử dụng thuốc súng. Nhà Kim bị người Mông Cổ chinh phục năm 1234, sau đó Mông Cổ kiểm soát toàn bộ phía bắc Trung Quốc và luôn đe doạ triều đình Nam Tống. Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra, khi Hốt Tất Liệt nhận được tin về cái chết của Mông Ca (còn gọi là Mông Kha), vua cai trị Mông Cổ. Ông quay về nước để chiếm ngôi báu từ tay các đối thủ và được tôn lên làm Đại Hãn, mặc dù chỉ được công nhận bởi một số người Mông Cổ ở phía Tây. Năm 1271, Hốt Tất Liệt tự xưng là hoàng đế Trung Hoa.[2] Sau hai thập kỷ chiến tranh lẻ tẻ, quân đội Hốt Tất Liệt đã chinh phục nhà Tống năm 1279. Một lần nữa Trung Quốc được thống nhất, dưới triều đại nhà Nguyên Mông (1271-1368).[3]

Dân số Trung Quốc tăng gấp đôi trong thế kỷ 10 và 11. Sự tăng trưởng này đã thông qua bằng việc mở rộng canh tác lúa ở miền trung và miền nam Trung Quốc, việc sử dụng lúa chín sớm từ phía Đông Nam và Nam Á, và sản xuất thặng dư lương thực dồi dào.[4][5] Dưới triều Bắc Tống đã thực hiện một cuộc điều tra dân số và kết quả là 50 triệu người, giống như thời nhà Hán và nhà Đường. Con số này được kiểm chứng trong Tống sử. Tuy nhiên, người ta đã ước tính rằng thời kỳ Bắc Tống đã có hơn 100 triệu người, vào thời kỳ đầu nhà Minh đã có hơn 200 triều người.[6]

Mục lục

[sửa] Nghệ thuật, Văn hoá và Kinh tế

Tống và các nước xung quanh, thế kỷ 11
Tống và các nước xung quanh, thế kỷ 12

Người sáng lập ra nhà Tống, Triệu Khuông Dẫn đã xây dựng nên một hệ thống quan lại trung ương tập quyền có hiệu quả với các quan chức có học thức xuất phát từ bình dân. Các lãnh chúa quân phiệt địa phương và hệ thống quan lại riêng của họ bị thay thế bằng cách quan chức do trung ương chỉ định. Hệ thống cai trị dân sự này dẫn tới sự tập trung quyền lực to lớn trong tay hoàng đế và triều đình trung ương mạnh hơn nhiều so với các triều đại trước đó.

Nhà Tống đã phát triển nhiều thành phố lớn không chỉ với mục đích hành chính mà còn đóng vai trò trung tâm thương mại, công nghiệp và hàng hải. Tầng lớp quan lại học giả - còn được gọi chung là quân tử - sống tại các địa phương cùng với các chủ tiệm, thợ thủ công và nhà buôn. Một nhóm bình dân giàu có - tầng lớp buôn bán - bắt đầu nổi lên khi kỹ thuật in phát triển dẫn tới mở rộng giáo dục, tăng trưởng kinh tế tư nhân, và nền kinh tế thị trường bắt đầu kết nối các tỉnh ven biển với vùng trung tâm. Việc sở hữu đất đai và tiến thân bằng con đường quan lại không còn là những phương tiện duy nhất để làm giàu và tăng uy thế. Sự phát triển của tiền giấy và một hệ thống thuế thống nhất đồng nghĩa với sự phát triển của một hệ thống thị trường toàn quốc thực sự.

Cùng với nó là sự khởi đầu của cái có thể coi là cuộc cách mạng công nghiệp Trung Quốc. Ví dụ, nhà sử học Robert Hartwell đã ước tính rằng sản lượng thép trên đầu người đã tăng gấp 6 lần trong giai đoạn từ năm 806 tới năm 1078, có nghĩa, tới năm 1078 Trung Quốc sản xuất 125.000 tấn thép một năm, và lượng tiêu thụ trên đầu người đạt khoảng 1,5 kg một năm (so với 0,5 kg ở Châu Âu). Thép được dùng để sản xuất cày, búa, kim, ghim, chũm choẹ v.v với số lượng lớn, cho thị trường nội địa và để buôn bán với thế giới bên ngoài, khi ấy cũng đang phát triển mạnh mẽ. Đồng thời Trung Quốc cũng phát minh ra thuốc súng, phát triển súng thần công, súng phun lửa (như kiểu người Byzantin đã phát minh ra), kỹ thuật in ấn khiến tăng số người biết đọc, viết cũng như các vật tư phục vụ ngành in. Điều này đồng nghĩa với việc các bậc cha mẹ khuyến khích con cái đi học để biết đọc, biết viết để có cơ hội tham dự các kỳ khoa cử (科舉) nhằm trở thành một quan chức trong hệ thống quan lại dân sự triều đình. Nhờ những phát minh và cải tiến đó (cùng với cuộc cách mạng nông nghiệp đang diễn ra) Trung Quốc đã phát triển một vài thành phố lớn nhất thế giới thời kỳ ấy. Ví dụ Hàng Châu từng có khoảng 500.000 người: lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ thành phố châu Âu nào - ở Tây Âu tới năm 1200, chỉ ParisVenice có dân số trên 100.000 người, dù cho Constantinople đã có tới 300.000 dân.

Về mặt văn hoá, nhà Tống có mức phát triển cao hơn nhiều so với những thế kỷ trước đó, không chỉ gồm những phát triển đã có từ thời nhà Đường như quan niệm về người thông thạo bách nghệ, gồm cả tính chất học giả, nhà thơ, hoạ sĩ và quan lại, mà còn cả về việc ghi chép sử, hoạ, thư pháp, và cả sứ tráng men. Các học giả nhà Tống tìm cách giải nghĩa mọi vấn đề triết học và chính trị trong những tác phẩm Khổng giáo cổ điển. Việc này khiến sự quan tâm tới các tư tưởng Khổng giáo và xã hội thời cổ lại tăng lên, trùng khớp với giai đoạn giảm sút ảnh hưởng Phật giáo, mà người Trung Quốc coi là ngoại lai và không mang lại nhiều tư tưởng hành động thực tế chính trị cũng như cách giải quyết các vấn đề trần thế.

Tranh vẽ Trung Hoa Thế kỷ XII mô tả những người lính thiết kị binh đời Tống

Các nhà lý học thời Tống đã phát hiện ra một số sự thuần khiết bên trong các văn bản kinh điển cổ, viết bình luận về chúng. Người nổi tiếng nhất trong số họ là Chu Hy (1130-1200), sự tổng hợp tư tưởng Khổng giáo với Phật giáo và Đạo giáo của ông cùng với các tư tưởng khác đã trở thành hệ tư tưởng chính thức của triều đình từ cuối thời nhà Tống tới cuối thế kỷ 19. Vì được kết hợp với khoa cử, triết lý Chu Hy liên quan tới tín điều chính thức cứng nhắc, bắt buộc sự tuân phục mù quáng từ một phía của dân chúng đối với nhà cai trị, con với cha, vợ với chồng, em với anh. Hậu quả làm kìm hãm sự phát triển xã hội của nước Trung Hoa tiền hiện đại, dẫn tới sự phát triển chậm chạp của nhiều thế hệ chính trị xá hội và sự ổn định tư tưởng dẫn tới sự trì trệ văn hoá cho tới tận thế kỷ 19. Học thuyết lý học Khổng giáo mới cũng đóng vai trò quyết định trong đời sống trí thức tại Triều Tiên, Việt Nam, và Nhật Bản.

[sửa] Bắc Tống suy vong

Sau gần 100 năm tồn tại đầu tiên, nhà Tống dần bị suy yếu bởi sự uy hiếp của 2 quốc gia phía bắc và tây bắc là LiêuTây Hạ. Nhà Kim sau khi phối hợp cùng Bắc Tống diệt Liêu đã tấn công dần dần Tống và vào ngày 9 tháng 1 năm 1127 lực lượng nhà Kim đã chiếm Khai Phong, thủ đô của triều đại Bắc Tống, bắt giữ cả hai vua nhà Tống là Tống Khâm Tông, và cha của ông là vua Tống Huy Tông, là người đã từ bỏ ngôi báu do sợ hãi lực lượng nhà Kim. Sau khi Khai Phong thất thủ, lực lượng nhà Tống dưới sự lãnh đạo của nhà Nam Tống kế tiếp vẫn tiếp tục chiến đấu với nhà Kim trong hơn mười năm tiếp theo, cuối cùng đã dẫn đến ký kết hiệp ước hòa bình năm 1141, và cắt toàn bộ miền bắc Trung Quốc cho nhà Kim năm 1142 để đổi lấy hòa bình và chuyển kinh đô xuống miền nam ở Hàng Châu.

Bắc Tống là một trong những triều đại yếu ớt. Về quân sự, họ liên tục bị thua trong các cuộc chiến tranh với Liêu, Tây Hạ, Kim ở phía bắc và Đại Việt ở phía nam, một số sử gia cho rằng Bắc Tống là triều đại yếu nhất trong các triều đại lớn của Trung Hoa như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh.

[sửa] Sự sụp đổ của Nam Tống

Năm 1276 triều đình Nam Tống bỏ chạy bằng thuyền tới Quảng Đông trước sự xâm lược của Mông Cổ, để Tống Cung Đế lại phía sau. Vai trò lãnh đạo kháng chiến được trao cho hai hoàng tử trẻ, là em của Cung Đế. Người lớn tuổi hơn, Triệu Thị, mới 9 tuổi, và được phong làm Hoàng đế Đoan Tông; vào năm 1277, triều đình lại bỏ chạy tới Ngân Khoáng Loan (hay Mai Oa) ở Đại Tự Sơn và sau này ở khu vực hiện nay là Cửu Long, Hồng Kông (xem thêm Tống Vương Đài). Người anh lớn ốm chết, người em là Vệ Vương Triệu Bính, mới 7 tuổi, lên kế vị. Ngày 19 tháng 3, 1279 quân đội Tống bị đánh bại trong trận chiến cuối cùng, Nhai Sơn hải chiến, chống lại người Mông Cổ ở đồng bằng sông Châu Giang. Một vị đại thần là Lục Tú Phu đã ôm vị hoàng đế nhảy xuống biển tự vẫn. (Xem: Tống Vương Đài). người sau đời đời nhớ ơn

[sửa] Các Hoàng đế nhà Tống

Miếu hiệu Thụy hiệu Họ, tên Trị vì Niên hiệu và thời gian sử dụng (âm lịch)
Bắc Tống, 960-1127
Thái Tổ Đại Hiếu
(大孝)
Triệu Khuông Dẫn 960-976 Kiến Long (建隆) 960-963
Càn Đức (乾德) 963-968
Khai Bảo (開寶) 968-976
Thái Tông Văn Võ
(文武)
Triệu Khuông Nghĩa
hay Triệu Quang Nghĩa
976-997 Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) 976-984
Ung Hi (雍熙) 984-987
Đoan Củng (端拱) 988-989
Thuần Hoá (淳化) 990-994
Chí Đạo (至道) 995-997
Chân Tông Nguyên Hiếu
(元孝)
Triệu Hằng 997-1022 Hàm Bình (咸平) 998-1003
Cảnh Đức (景德) 1004-1007
Đại Trung Tường Phù (大中祥符) 1008-1016
Thiên Hi (天禧) hay Nguyên Hi (元禧) 1017-1021
Càn Hưng (乾興) 1022
Nhân Tông Minh Hiếu
(明孝)
Triệu Trinh 1022-1063 Thiên Thánh (天聖) 1023-1032
Minh Đạo (明道) 1032-1033
Cảnh Hữu (景祐) 1034-1038
Bảo Nguyên (寶元) 1038-1040
Khang Định (康定) 1040-1041
Khánh Lịch (慶曆) 1041-1048
Hoàng Hữu (皇祐) 1049-1054
Chí Hoà (至和) 1054-1056
Gia Hữu (嘉祐) 1056-1063
Anh Tông Tuyên Hiếu
(宣孝)
Triệu Thự 1063-1067 Trì Bình (治平) 1064-1067
Thần Tông Thánh Hiếu
(聖孝)
Triệu Húc 1067-1085 Hi Ninh (熙寧) 1068-1077
Nguyên Phong (元豐) 1078-1085
Triết Tông Chiêu Hiếu
(昭孝)
Triệu Hú 1085-1100 Nguyên Hữu (元祐) 1086-1094
Thiệu Thánh (紹聖) 1094-1098
Nguyên Phù (元符) 1098-1100
Huy Tông Hiển Hiếu
(顯孝)
Triệu Cát 1100-1125 Kiến Trung Tĩnh Quốc (建中靖國) 1101
Sùng Ninh (崇寧) 1102-1106
Đại Quán (大觀) 1107-1110
Chính Hoà (政和) 1111-1118
Trọng Hoà (重和) 1118-1119
Tuyên Hoà (宣和) 1119-1125
Khâm Tông Nhân Hiếu
(仁孝)
Triệu Hoàn 1126-1127 Tĩnh Khang (靖康) 1125-1127
Nam Tống, 1127- 1279
Cao Tông Hiến Hiếu
(憲孝)
Triệu Cấu 1127-1162 Tĩnh Viêm (靖炎) hay Kiến Viêm (建炎) 1127-1130
Thiệu Hưng (紹興) 1131-1162
Hiếu Tông Thành Hiếu
(成孝)
Triệu Thận 1162-1189 Long Hưng (隆興) 1163-1164
Càn Đạo (乾道) 1165-1173
Thuần Hi (淳熙) 1174-1189
Quang Tông Từ Hiếu
(慈孝)
Triệu Đôn 1189-1194 Thiệu Hi (紹熙) 1190-1194
Ninh Tông Cung Hiếu
(恭孝)
Triệu Khoách 1194-1224 Khánh Nguyên (慶元) 1195-1200
Gia Thái (嘉泰) 1201-1204
Khai Hi (開禧) 1205-1207
Gia Định (嘉定) 1208-1224
Lý Tông An Hiếu
(安孝)
Triệu Quân 1224-1264 Bảo Khánh (寶慶) 1225-1227
Thiệu Định (紹定) 1228-1233
Đoan Bình (端平) 1234-1236
Gia Hi (嘉熙) 1237-1240
Thuần Hữu (淳祐) 1241-1252
Bảo Hữu (寶祐) 1253-1258
Khai Khánh (開慶) 1259
Cảnh Định (景定) 1260-1264
Độ Tông Cảnh Hiếu
(景孝)
Triệu Kỳ 1264-1274 Hàm Thuần (咸淳) 1265-1274
Cung Tông Hiếu Cung
(孝恭)
Triệu Hiển 1274-1276 Đức Hữu (德祐) 1275-1276
Đoan Tông Mẫn Hiếu
(愍孝)
Triệu Thị 1276-1278 Cảnh Viêm (景炎) 1276-1278
không có Đế Bính
hay Vệ Vương
Triệu Bính 1278-1279 Tường Hưng (祥興) 1278-1279

[sửa] Xem thêm

[sửa] Chú thích

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ebrey_et_al_2006_167
  2. ^ Rossabi 1988, tr. 115
  3. ^ Rossabi 1988, tr. 76
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ebrey_et_al_2006_156
  5. ^ Brook 1998, tr. 96
  6. ^ Veeck et al. 2007, tr. 103–104

[sửa] Tham khảo

  • Adshead, S. A. M. (2004), T'ang China: The Rise of the East in World History, New York: Palgrave Macmillan, ISBN 1403934568 . (hardback).
  • Anderson, James A. (2008), “'Treacherous Factions': Shifting Frontier Alliances in the Breakdown of Sino-Vietnamese Relations on the Eve of the 1075 Border War”, trong Wyatt, Don J., Battlefronts Real and Imagined: War, Border, and Identity in the Chinese Middle Period, New York: Palgrave MacMillan, tr. 191–226, ISBN 978-1-4039-6084-9 .
  • Bai, Shouyi (2002), An Outline History of China (ấn bản Revised), Beijing: Foreign Languages Press, ISBN 7119023470 .
  • Bol, Peter K. (2001), “The Rise of Local History: History, Geography, and Culture in Southern Song and Yuan Wuzhou”, Harvard Journal of Asiatic Studies 61 (1): 37–76, doi:10.2307/3558587 .
  • Brook, Timothy (1998), The Confusions of Pleasure: Commerce and Culture in Ming China, Berkeley: University of California Press, ISBN 9780520221543 .
  • Brose, Michael C. (2008), “People in the Middle: Uyghurs in the Northwest Frontier Zone”, trong Wyatt, Don J., Battlefronts Real and Imagined: War, Border, and Identity in the Chinese Middle Period, New York: Palgrave MacMillan, tr. 253–289, ISBN 978-1-4039-6084-9 .
  • Ebrey, Patricia Buckley; Walthall, Anne; Palais, James B. (2006), East Asia: A Cultural, Social, and Political History, Boston: Houghton Mifflin, ISBN 0-618-13384-4 .
  • Ebrey, Patricia Buckley (1999), The Cambridge Illustrated History of China, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0-521-66991-X . (paperback).
  • Embree, Ainslie Thomas; Gluck, Carol (1997), Asia in Western and World History: A Guide for Teaching, Armonk: ME Sharpe, ISBN 1563242648 .
  • Chan, Alan Kam-leung; Clancey, Gregory K.; Loy, Hui-Chieh (2002), Historical Perspectives on East Asian Science, Technology and Medicine, Singapore: Singapore University Press, ISBN 9971-69-259-7 .
  • Fairbank, John King; Goldman, Merle (2006), China: A New History (ấn bản 2nd enlarged), Cambridge; London: The Belknap Press of Harvard University Press, ISBN 0-674-01828-1 .
  • Fraser, Julius Thomas; Haber, Francis C. (1986), Time, Science, and Society in China and the West, Amherst: University of Massachusetts Press, ISBN 0-87023-495-1 .
  • Gernet, Jacques (1962), Daily Life in China on the Eve of the Mongol Invasion, 1250-1276, Stanford: Stanford University Press, ISBN 0-8047-0720-0 .
  • Graff, David Andrew; Higham, Robin (2002), A Military History of China, Boulder: Westview Press .
  • Guo, Qinghua (1998), “Yingzao Fashi: Twelfth-Century Chinese Building Manual”, Architectural History: Journal of the Society of Architectural Historians of Great Britain 41: 1–13 .
  • Hall, Kenneth (1985), Maritime trade and state development in early Southeast Asia, Hawaii: University of Hawaii Press, ISBN 0-8248-0959-9 .
  • Hansen, Valerie (2000), The Open Empire: A History of China to 1600, New York & London: W.W. Norton & Company, ISBN 0-393-97374-3 .
  • Hargett, James M. (1985), Some Preliminary Remarks on the Travel Records of the Song Dynasty (960–1279), tr. 67–93 .
  • Hargett, James M. (1996), “Song Dynasty Local Gazetteers and Their Place in The History of Difangzhi Writing”, Harvard Journal of Asiatic Studies 56 (2): 405–442, doi:10.2307/2719404 .
  • Hartwell, Robert M. (1982), “Demographic, Political, and Social Transformations of China, 750-1550”, Harvard Journal of Asiatic Studies 42 (2): 365–442, doi:10.2307/2718941 .
  • Hymes, Robert P. (1986), Statesmen and Gentlemen: The Elite of Fu-Chou, Chiang-Hsi, in Northern and Southern Sung, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521306310 .
  • Hsu, Mei-ling (1993), “The Qin Maps: A Clue to Later Chinese Cartographic Development”, Imago Mundi 45: 90–100, doi:10.1080/03085699308592766 .
  • Levathes, Louise (1994), When China Ruled the Seas, New York: Simon & Schuster, ISBN 0671701584 .
  • Lorge, Peter (2005), War, Politics and Society in Early Modern China, 900–1795 (ấn bản 1st), New York: Routledge .
  • McKnight, Brian E. (1992), Law and Order in Sung China, Cambridge: Cambridge University Press .
  • Mohn, Peter (2003), Magnetism in the Solid State: An Introduction, New York: Springer-Verlag, ISBN 3-540-43183-7 .
  • Mote, F. W. (1999), Imperial China: 900–1800, Harvard: Harvard University Press .
  • Needham, Joseph (1986a), Science and Civilization in China: Volume 1, Introductory Orientations, Taipei: Caves Books .
  • Needham, Joseph (1986b), Science and Civilization in China: Volume 3, Mathematics and the Sciences of the Heavens and the Earth, Taipei: Caves Books .
  • Needham, Joseph (1986c), Science and Civilization in China: Volume 4, Physics and Physical Technology, Part 2: Mechanical Engineering, Taipei: Caves Books .
  • Needham, Joseph (1986d), Science and Civilization in China: Volume 4, Physics and Physical Technology, Part 3: Civil Engineering and Nautics, Taipei: Caves Books .
  • Needham, Joseph (1986e), Science and Civilization in China: Volume 5, Chemistry and Chemical Technology, Part 7: Military Technology; The Gunpowder Epic, Taipei: Caves Books .
  • Paludan, Ann (1998), Chronicle of the Chinese Emperors, London: Thames & Hudson, ISBN 0-500-05090-2 .
  • Peers, C. J. (2006), Soldiers of the Dragon: Chinese Armies 1500 BC-AD 1840, Oxford: Osprey Publishing .
  • Rossabi, Morris (1988), Khubilai Khan: His Life and Times, Berkeley: University of California Press, ISBN 0-520-05913-1 .
  • Rudolph, R. C. (1963), “Preliminary Notes on Sung Archaeology”, The Journal of Asian Studies 22 (2): 169–177, doi:10.2307/2050010 .
  • Sastri, Nilakanta, K.A. (1984), The CōĻas, Madras: University of Madras .
  • Schafer, Edward H. (1957), “War Elephants in Ancient and Medieval China”, Oriens 10 (2): 289–291, doi:10.2307/1579643 .
  • Sen, Tansen (2003), Buddhism, Diplomacy, and Trade: The Realignment of Sino-Indian Relations, 600–1400, Manoa: Asian Interactions and Comparisons, a joint publication of the University of Hawaii Press and the Association for Asian Studies, ISBN 0824825934 .
  • Shen, Fuwei (1996), Cultural flow between China and the outside world, Beijing: Foreign Languages Press, ISBN 7-119-00431-X .
  • Sivin, Nathan (1995), Science in Ancient China, Brookfield, Vermont: VARIORUM, Ashgate Publishing .
  • Steinhardt, Nancy Shatzman (1993), “The Tangut Royal Tombs near Yinchuan”, Muqarnas: an Annual on Islamic Art and Architecture X: 369–381 .
  • Sung, Tz’u (1981), The Washing Away of Wrongs: Forensic Medicine in Thirteenth-Century China, Ann Arbor: University of Michigan Press, ISBN 0-89264-800-7 .
  • Temple, Robert (1986), The Genius of China: 3,000 Years of Science, Discovery, and Invention, New York: Simon and Schuster, ISBN 0-671-62028-2 .
  • Veeck, Gregory; Pannell, Clifton W.; Smith, Christopher J.; Huang, Youqin (2007), China's Geography: Globalization and the Dynamics of Political, Economic, and Social Change, Lanham: Rowman & Littlefield Publishers, ISBN 0742554023 .
  • Wagner, Donald B. (2001), “The Administration of the Iron Industry in Eleventh-Century China”, Journal of the Economic and Social History of the Orient 44 (2): 175–197, doi:10.1163/156852001753731033 .
  • Wang, Lianmao (2000), Return to the City of Light: Quanzhou, an eastern city shining with the splendour of medieval culture, Fujian People's Publishing House .
  • West, Stephen H. (1997), “Playing With Food: Performance, Food, and The Aesthetics of Artificiality in The Sung and Yuan”, Harvard Journal of Asiatic Studies 57 (1): 67–106, doi:10.2307/2719361 .
  • Wright, Arthur F. (1959), Buddhism in Chinese History, Stanford: Stanford University Press .
  • Yuan, Zheng (1994), “Local Government Schools in Sung China: A Reassessment”, History of Education Quarterly 34 (2): 193–213, doi:10.2307/369121 .

[sửa] Đọc thêm

  • Cotterell, Arthur. (2007), The Imperial Capitals of China - An Inside View of the Celestial Empire, London: Pimlico, tr. 304 pages., ISBN 9781845950095 .
  • Gascoigne, Bamber (2003), The Dynasties of China: A History, New York: Carroll & Graf, ISBN 1-84119-791-2 .
  • Gernet, Jacques (1982), A history of Chinese civilization, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0-521-24130-8 .
  • Giles, Herbert Allen (1939). A Chinese biographical dictionary (Gu jin xing shi zu pu). Shanghai: Kelly & Walsh. (see here [1] for more)
  • Kruger, Rayne (2003), All Under Heaven: A Complete History of China, Chichester: John Wiley & Sons, ISBN 0-470-86533-4 .
  • Tillman, Hoyt C. and Stephen H. West (1995). China Under Jurchen Rule: Essays on Chin Intellectual and Cultural History. Albany, New York: State University of New York Press.

[sửa] Liên kết ngoài

Tiền nhiệm:
Ngũ Đại Thập Quốc
Triều đại Trung Hoa
960–1279
Kế nhiệm:
Nhà Nguyên


Công cụ cá nhân
Không gian tên
Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác