Tống Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Thái Tổ
Vua Trung Quốc (chi tiết...)
Song Taizu.jpg
Tranh vẽ Tống Thái Tổ.
Vua nhà Tống
Trị vì 4 tháng 2, 960[1]14 tháng 11, 976
Tiền nhiệm Sáng lập triều đại
Kế nhiệm Tống Thái Tông
Thông tin chung
Tên thật Triệu Khuông Dận (趙匡胤)
Thụy hiệu Khải Vận Lập Cực Anh Vũ Duệ Văn Thần Đức Thánh Công Chí Minh Đại Hiếu Hoàng đế
啓運立極英武睿文神德聖功至明大孝皇帝[2]
Miếu hiệu Thái Tổ (太祖)
Triều đại Nhà Bắc Tống
Thân phụ Triệu Hoằng Ân
Thân mẫu Chiêu Hiến thái hậu
Sinh 21 tháng 3 năm 927[3]
Trung Quốc
Mất 14 tháng 11 năm 976
Trung Quốc
An táng Vĩnh Xương lăng (永昌陵)

Tống Thái Tổ (chữ Hán: 宋太祖, 21 tháng 3, 927 - 14 tháng 11, 976), tên thật là Triệu Khuông Dẫn (趙匡胤), tự Nguyên Lãng (元朗), là vị Hoàng đế khai quốc của triều đại nhà Tống trong lịch sử Trung Quốc, ở ngôi từ năm 960 đến năm 976.

Tiểu sử của ông được ghi tại Tống sử, quyển 1-3 "Thái Tổ bản kỷ". Năm 960 vạch ra kế hoạch Binh biến Trần Kiều đoạt được chính quyền nhà Hậu Chu, lấy đất Tống Châu nơi Triệu Khuông Dẫn được phong làm Quy Đức quân Tiết độ sứ để làm quốc hiệu, lập nên Vương triều Tống.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Khuông Dận xuất thân từ một gia đình dòng dõi quan lại. Ông tổ Triệu Thiệu làm Huyện lệnh đời Đường; ông cố Triệu Đình Lịch làm quan phiên trấn, thăng dần đến Ngự sử Trung thừa: ông nội Triệu Kính lần lượt làm Thứ sử Doanh Châu, Tô ChâuTrác Châu. Cha Triệu Khuông Dận là Triệu Hoằng Ân, một quan võ có tài cưỡi ngựa bắn cung, làm Chỉ huy sứ Đệ nhất quân thiết kỵ của nhà Hậu Chu, sau làm Hữu Sương Đô Chỉ huy sứ, lĩnh chức Phòng ngự sứ Nhạc Châu, theo Chu Thế Tông đánh Hoài, có công lần lượt lại được phong Kiểm hiệu Tư đồ, tước Thiên Thủy Huyện Nam.

Cha con Triệu Khuông Dận đều là quan Cấm binh đời Hậu Chu, vinh quang một thời. Triệu Khuông Dận không những có tài võ nghệ siêu quần mà còn rất hiếu học, hiểu được đường lối trị quốc bình thiên hạ. Bất kể trên lưng ngựa hay ở nhà, lúc nào trên tay ông cũng có một quyển sách, không bao giờ ngưng học tập. Từ trong sách vở ông đã tăng thêm nhiều kiến thức, lĩnh hội được vô số tinh hoa, thu lượm được nhiều điều bổ ích.

Thống nhất đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Thu phục các đối thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi được 4 năm (964), Triệu Khuông Dận bắt đầu cuộc chiến tranh thống nhất đất nước. Lúc Tống Thái Tổ mới lên ngôi, nhà Tống có 118 châu, mười mấy tiết độ sứ: Thành Đức, Bảo Nghĩa, Nghĩa Vũ, Kiến Hùng, Chương Tín, Trấn Ninh, Sơn Nam Tây đạo, Trường Xuân, Thiên Bình, Quy Đức, Thiên Hùng, Tuyên Vũ, Vũ Ninh, Định Quốc, Bảo Đại, An Quốc. Dân số 96 vạn hộ, các nước khác là 254 vạn hộ. Đứng trước đặc điểm Bắc mạnh Nam yếu, để tránh cuộc đọ sức trực tiếp với nước Liêu, ông đã thay đổi phương châm dụng binh của Chu Thế Tông, đề ra chiến lựoc thống nhất "trước Nam sau Bắc" (tiên Nam hậu Bắc), ông đã dùng thời gian 13 năm, thống nhất tất cả các khu vực phía nam, chỉ còn lại Bắc Hán. Về cơ bản, ông đã khôi phục được bản đồ hoàn chỉnh. Kết thúc cuộc chiến tranh loạn lạc xâu xé nhau, thống nhất phần lớn Trung Quốc, đó là công lao lớn nhất của cả đời Triệu Khuông Dận.

Triệu Khuông Dận thống nhất đất nước, một mặt dựa vào vũ lực, một mặt cũng dựa vào chiến tranh tâm lý. Việc thay đổi triều đại trong lịch sử đều ngập tràn xương máu và lòng hận thù tàn khốc, Triệu Khuông Dận đã đi theo con đường khác, Đối với các quốc vương đã mất đi quyền lực, ông tiếp đãi bằng lễ, gửi đến sự chân thành, làm cho thế lực phản đối thuận theo mình. Cung Đế Sài Tông Huấn bị phế, Triệu Khuông Dẫn đối đãi rất tốt. Khi Tông Huấn bị bệnh chết, đích thân Triệu Khuông Dận phát tang và để tang. Khi Hậu Chủ Lý Dục nhà Nam Đường đầu hàng vào năm Khai Bảo thứ 8 (975), Triệu Khuông Dận "ngự trên cửa Minh Đức thấy Lý Dục ở dưới lầu, đã không bắt làm lễ nghi như tù binh", lại còn "phong cho Lý Dục làm Vi Mệnh Hầu và ban chức tước cho con em và các thân cận của họ Lý". Sau khi Vua Hậu Thục là Mạnh Sưởng đầu hàng vào tháng 1 năm Càn Đức thứ 2 (965), Triệu Khuông Dận "ngự tại điện Sùng Nguyên đón tiếp với lễ nghi đầy đủ" và ban thưởng rất nhiều. Vua Ngô Việt Tiền Lưu tỏ ý quy phục, được phong ngay làm Binh mã Đại nguyên soái. Đích thân Triệu Khuông Dận đi kiểm tra công việc chuẩn bị và tiếp đón Tiền Lưu nhập cung, rồi đích thân tiếp kiến, cho phép Tiền Lưu đeo kiếm vào điện, dâng thư, ban chiếu không nhắc đến tên thường. Vua Nam Hán Lưu Sưởng bị bắt vào kinh, Triệu Khuông Dận tha tội không hỏi, lại phong tước Ân Xá Hầu. Triệu Khuông Dẫn đã ưu đãi mấy ông vua mất nước này, không những đã an ủi một số lớn những nhân sĩ đã trung hiếu với các chính quyền vong quốc đó, lại còn nắm trong tay cả một vùng đất rộng lớn hoàn chỉnh an toàn, cái được thật là to lớn. Đó là cách làm của một người có tầm nhìn chính trị.

Thu phục lòng dân[sửa | sửa mã nguồn]

Người được lòng dân sẽ được cả thiên hạ, phàm là người tranh giành đất nước thì đều biết nói như vậy, nhưng làm được thật là khó. Biết bao võ tướng buông thả quân đội, cho chém giết bừa bãi coi thường mạng người. Tống Thái Tổ cầm quân đánh trận, không hề động chạm đến dân. Sau khi làm vua, ông càng nhận thấy rõ thống nhất và yên bình mới là mục đích của chiến tranh, phản đối việc lạm sát. Mỗi một trận chiến ông đều căn dặn các chủ soái không được lấy việc giết nhiều người làm chiến công, mà lấy việc thu phục lòng dân là trên hết, ông nhắc đi nhắc lại là chiếm đất phải yên dân không được cướp bóc. Trước khi tấn công Hậu Thục, ông nói với tướng Tào Bân: "không được hại dân lành", lại hạ chiếu cho các tướng tá đánh Hậu Thục, bắt những người lấy tiền của người Thục phải trả lại ngay cho chủ. Trong trận chiến Giang Nam, lại yêu cầu Tào Bân: "không được kinh hãi thần dân, cần phải mở rộng uy tín". Ông còn nói: "khi đã vào thành, không được chém giết bừa bãi, không được hại một người nào trong nhà Lý Dục".

Phương châm yên dân của Tống Thái Tổ được các tướng lĩnh chấp hành triệt để và kiềm chế cấp dưới. Tào Bân khi vây hãm Đô thành Kim Lăng của Nam Đường, khi sắp lấy được thành thì ông đột ngột bị bệnh. Khi các tướng sĩ đến thăm, ông đã nói ra nỗi lo lắng của mình: "Bệnh của tôi không phải là thuốc men có thể trị khỏi được, chỉ cần các ông hứa chắc với tôi là khi vào thành sẽ không giết hại một ai cả thì bệnh của tôi sẽ khỏi ngay" (Tống sử, "Tào Bân truyện"). Cho đến khi các tướng đồng thanh hứa rồi thắp nhang thề, thì bệnh khỏi ngay. Tào Bân làm như thế là để chấp hành mệnh lệnh của Tống Thái Tổ. Thời Ngũ đại, nhân dân đã phải chịu bao khổ nhục tàn bạo của lính tráng, một khi gặp được tướng soái nhân nghĩa thì chào đón rất nồng nhiệt. Vì thế Tống Thái Tổ bình định nhanh chóng Nam Bắc Trường Giang, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Ông khoan dung nhân nghĩa thương dân, đã hình thành một sự trái ngược tích cực với những kẻ thống trị thời kỳ sau của các chính quyền cát cứ như Tần Thủy Hoàng, Tùy Dạng Đế... Mạnh Tử nói: "người nhân nghĩa không ai đánh nổi". Tống Thái Tổ chính là một con người vô địch như vậy.

Củng cố nền thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Khống chế binh quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thống nhất toàn quốc, một vấn đề khác vẫn canh cánh trong lòng của Triệu Khuông Dận là làm sao chấm dứt được những rối loạn phân chia từ thời Ngũ đại, thực hiện sự thống trị yên ổn lâu dài. Tháng 7 năm Kiến Long thứ 2 (961), Triệu Khuông Dận và Triệu Phổ có một cuộc bàn luận rất quan trọng, biểu thị một cách rõ ràng luồng tư tưởng tăng cường tập quyền trung ương. Triệu Khuông Dận hỏi Phổ: "Từ cuối Đường cho đến nay, thay đổi tám họ vua, chiến tranh triền miên, dân sinh khổ cực, nguyên nhân la ở đâu? Nay ta muốn yên thiên hạ, nước nhà trường tồn, thì phải làm thế nào? ". Triệu Phổ trả lời: "Bệ hạ nói đến điều này, là phúc cho thiên hạ lắm, và cũng không khó khăn gì, chỉ tại vua thì yếu mà bề tôi thì mạnh mà sinh ra. Nay muốn trị yên, thì phải đoạt lại quyền của họ, khống chế tiền bạc lương thảo của họ, thu hồi tinh binh của họ, thì thiên hạ sẽ yên." Triệu Phổ đã chỉ ra hai điều cốt yếu: một là quyền lực của quân nhân lớn quá mà thao túng vận mệnh đất nước. Cương lĩnh chấp chính của Triệu Khuông Dận đã lấy tư tưởng này làm cơ sở.

Trong một bữa tiệc, Tống Thái Tổ khuyên các tướng lĩnh hãy giữ mãi sự giàu sang, mượn thú vui thanh sắc, thú chơi ngựa hay chó quý để hưởng thụ cuộc đời. Các tướng thống lĩnh Cấm quân là Thạch Thủ Tín, Vương Thẩm Kỳ và một số người sợ uy lực, đã giao quyền một cách hòa bình, sử sách đã gọi đó là chung rượu giả binh quyền. Tiếp đó, Mộ Dung Diên Chiêu, Hàn Lệnh Khôn bị đoạt chức Cấm quân, một người được điều đi làm Tiết độ sứ Sơn Nam, một người tới Thành Đức. Để tập trung binh quyền, Triệu Khuông Dận còn quy định chính Hoàng đế trao quyền quân quản Cấm quân, và có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Như vậy, "tướng không được chuyên quyền nắm binh của mình", "lính không có vị tướng lâu dài, tướng không có đạo quân lâu dài", đã loại trừ được khả năng phát động chính biến. Điện tiền Đô Chỉ huy, Bộ quân Đô Chỉ huy, Mã quân Đô Chỉ huy là ba chỉ huy Cấm quân, kìm giữ lẫn nhau, chỉ có quyền giữ quân mà không được quyền phát binh. Ngược lại, Viện Khu mật trên danh nghĩa là có quyền điều động quân đội, nhưng lại không có quyền nắm quyền. Chia quyền năm quân và phát binh, thực chất là tập trung toàn bộ quyền lực vào tay Hoàng đế. Ngoài Cấm quân còn có ba loại quân là Sương binh, Hương binhPhiên binh, đều là quân địa phương và thực lực có hạn. Các tướng trấn giữ biên cương dẫu có muốn làm phản cũng không được. Triệu Khuông Dận từ việc nắm binh quyền, khống chế Cấm quân để bài trừ tận gốc sự cát cứ, phân chia, là điều mấu chốt cho việc củng cố nền thống nhất, ổn định tình hình chính trị.

Cải cách chế độ quan lại[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan trung ương vẫn có Tể tướng, sử dụng danh hiệu Bình chương sự, nhưng bổ sung thêm Tham tri chính sự làm Phó tể tướng, mục đích là để phân chia quyền lực của Tể tướng. Đồng thời quy định mọi việc quân sự, hành chính, điều động Cấm binh do Khu mật sứ nắm giữ, nhằm đối lập với Tể tướng. Chính quyền và quân quyền trực tiếp theo lệnh Hoàng đế. Quyền tài chính do Tam ti sứ điều hành, phụ trách chi tài chính toàn quốc, gọi là "Kế tướng", quyền lực không thua gì Tể tướng và Khu mật sứ, phòng ngừa một mình Tể tướng nắm giữ quyền lực quá lớn. Còn lập ra các chức vụ Khu mật Phó sứ, Tam ti Phó sứ, càng thuận lợi cho việc chỉ huy của Hoàng đế.

Với chính quyền địa phương cũng áp dụng hàng loạt biện pháp. Từ cuối nhà Đường tới thời Ngũ đại, Tiết độ sứ cát cứ một phương hoặc kiêm một số quận, gọi là "chi quận". Trong quá trình thống nhất đất nước, Triệu Khuông Dận xóa bỏ chi quận, thay đổi do trung ương trực tiếp quản lý. Tiết độ sứ đời Tống chỉ là một chức vụ không có quyền hành, để ban cho những tông thất hoặc bên ngoại, những công thần bãi chính về quê hoặc vinh hàm dành cho Tể tướng. Hành chính địa phương của nhà Tống chia ra làm hai cấp là châuhuyện, lại lập ra Thông phán do trung ương trực tiếp cắt cử.

Họ cùng cai trị với Tri châu, Tri huyện và giám sát hành động của Tri châu, khống chế lẫn nhau, không ai có thể chuyên quyền.

Từ đời Đường trở đi, phiên trấn như một cái đuôi lớn không chịu vẫy theo cái đầu (thế lực mạnh không theo chỉ huy của trung ương), có quyền lớn về tài chính. Năm Càn Đức thứ 3 (965), Triệu Khuông Dận lại hạ lệnh "các châu, ngoài việc chi phí, phàm là vàng bạc, vải vóc để phục vụ quân đội, đều nộp về Kinh đô, không được chiếm giữ" (Tục tư trị thông giám trường biên, quyển 2). Triệu Khuông Dận lại thu quyền tài chính của địa phương, các quan lại phiên trấn vì không có lương thảo cho quân đội, trong kho không có vàng bạc nên không thể làm phản.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sử sách chép lại rằng tháng 11 năm 976, Tống Thái Tổ qua đời, thọ 50 tuổi. Vì con ông còn nhỏ nên em ông là Triệu Quang Nghĩa lên thay, tức là Tống Thái Tông.

Một số nhà nghiên cứu tỏ ra nghi ngờ về cái chết của Tống Thái Tổ và cho rằng ông bị chính người em Quang Nghĩa hãm hại để giành ngôi báu khi ông ốm trên giường bệnh. Câu chuyện này trở thành một nghi án nổi tiếng đời Tống với tên gọi Phủ thanh chúc ảnh. Về sau, Tống Thái Tông truyền ngôi cho con cháu mình, không trả lại ngôi cho con của Thái Tổ. Bản thân con Thái Tổ sau đó cũng bị chết một cách không rõ ràng.

Sau khi qua đời, miếu hiệu của ông là Thái Tổ (太祖), thụy hiệu là Khải Vận Lập Cực Anh Vũ Duệ Văn Thần Đức Thánh Công Chí Minh Đại Hiếu Hoàng đế (啓運立極英武睿文神德聖功至明大孝皇帝). Ông được an táng ở Vĩnh Xương lăng (永昌陵).

Trong thời gian ở ngôi, ông đặt 3 niên hiệu:

Nhận xét chung[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Khuông Dận chiếm đoạt dược chính quyền Hậu Chu chỉ có được một dải Hoàng Hà của Trung nguyên, phía bắc có nước Liêu hùng mạnh, Thái NguyênBắc Hán; hai bờ Nam Bắc Dương Tử lại có Nam Đường, Ngô Việt, dưới nữa có nước Nam Hán..., gồm sáu, bảy chính quyền cát cứ. Cục diện ấy không thể dai dẳng được nữa. Chu Thế Tông có chí thống nhất đất nước, nhưng không may qua đời quá sớm, nghiệp lớn chưa thành, mọi việc đều đổ dồn lên vai của Triệu Khuông Dận, như là một sứ mạng lịch sử vậy.

Tống Thái Tổ làm vua được 16 năm, ông đã dốc toàn lực thống nhất đất nước, kết thúc thời rối loạn và chia cắt của thời kỳ Ngũ đại Thập quốc, giải quyết một cách triệt để tình thế hỗn loạn, phiên trấn loạn chính từ cuối đời Đường. Ông còn tăng cường chế độ tập quyền trung ương, đây là sự cống hiến to lớn của ông đối với lịch sử. Nền chính trị của Bắc Tống ổn định, thúc đẩy sự cải cách về phương thức chiếm hữu ruộng đất và phương thức bóc lột từ thời kỳ giữa nhà Đường trở lại, làm cho sự phát triển của kinh tếvăn hóa phong kiến vượt lên một tầng bậc mới.

Nhưng cái gì cũng có tính hai mặt. Tống Thái Tổ đã không lường trước được rằng, hàng loạt những biện pháp tập trung quyền lực về quân đội và chính trị, tăng cường quyền lực Hoàng đế, làm yếu quân đội, chính quyền quan liêu hóa, đã dẫn đến việc làm cho Bắc Tống nghèo nàn, yếu dần, tướng không biết lính, lính không quen tướng, chẳng còn sức chiến đấu. Cơ cấu quan liêu chồng chất, cản trở lẫn nhau, hiệu quả làm việc rất thấp. Bắc Tống thường xuyên rơi vào tình thế bị tiến công từ các láng giềng như Liêu, Tây Hạ. Khi Liêu bị diệt thì Kim thay Liêu còn mạnh hơn, cuối cùng Bắc Tống nước mất nhà tan, hai hoàng đế Huy TôngKhâm Tông trở thành hai vị vua mất nước.

Chu Hy thời Nam Tống đã chỉ ra: "Triều đình biết đựoc cái gương xấu của Ngũ đại, binh cũng thu, tài chính cũng thu, thưởng phạt hành chính đều thu, châu quận dần dần trở nên khó khăn yếu kém". Câu nói đó đã chỉ ra đúng căn bệnh do chính sách tập trung quyền lực cao độ của Tống Thái Tổ gây ra.

Trong truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng thứ 16 của Thôi Bối Đồ (tranh đẩy lưng) được cho là tiên đoán Triệu Khuông Dẫn sẽ lên ngôi hoàng đế. Truyền thuyết dân gian kể rằng trong một đêm ông đi đánh giặc tại biên cương, binh đao loạn lạc, thì một người tên là Lý Thừa Thiên, hậu nhân của Lý Thuần Phong (người viết ra Thôi Bối Đồ) xuất hiện. Lý Thừa Thiên đưa cho ông bức tranh thứ 16 của Thôi Bối Đồ, cùng với lời sấm: "Khoác hoàng bào lên, thiên hạ thái bình". Sau đó, Triệu Khuông Dẫn tự xưng vương, đánh tan quân giặc, lập ra triều Tống.

Trong bức tranh thứ 17, Thôi Bối Đồ có ghi "Ánh đuốc tiếng rìu, trộm long tráo phụng", ý chỉ là Triệu Khuông Dẫn sẽ chết trong búa rìu lúc trời tăm tối. Trộm long tráo phụng ý nói Vương Quan (con rể Triệu Khuông Dẫn) vô tính giúp Triệu Quang Nghĩa lên ngôi.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hiếu Huệ hoàng hậu Hạ thị (孝惠皇后賀氏, 929 - 958).
  2. Hiếu Minh hoàng hậu Vương thị (孝明皇后王氏, 942 - 963).
  3. Hiếu Chương hoàng hậu Tống thị (孝章皇后宋氏, 952 - 995).
  • Con trai:
  1. Đằng vương Triệu Đức Tú [滕王趙德秀], mẹ là Hiếu Huệ hoàng hậu.
  2. Yến Ý vương Triệu Đức Chiêu [燕懿王趙德昭, 951 - 979], mẹ là Hiếu Huệ hoàng hậu.
  3. Thư vương Triệu Đức Lâm [舒王趙德林], mẹ là Hiếu Huệ hoàng hậu.
  4. Tần Khang Huệ vương Triệu Đức Phương [秦康惠王趙德芳, 959 - 981], mẹ là Hiếu Minh hoàng hậu.
  • Con gái:
  1. Ngụy Quốc Đại Trưởng công chúa (魏國大長公主, ? - 1008), mẹ là Hiếu Huệ hoàng hậu. Hạ giá lấy Vương Thừa Diễn (王承衍). Sau ban tặng Hiền Túc Đại Trưởng Đế cơ (賢肅大長帝姬).
  2. Lỗ Quốc Đại trưởng công chúa (魯國大長公主, ? - 1009), mẹ là Hiếu Huệ hoàng hậu. Hạ giá lấy Thạch Bảo Cát (石保吉). Sau ban tặng Hiền Tĩnh Đại Trưởng Đế cơ (賢靖大長帝姬).
  3. Trần Quốc Đại Trưởng công chúa (陳國大長公主, ? - 999).
  4. Thân Quốc công chúa (申國公主).
  5. Thành Quốc công chúa (成國公主).
  6. Vĩnh Quốc công chúa (永國公主).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chỉ kiểm soát được miền bắc Trung Quốc, đến năm 976 mới kiểm soát được miền nam.
  2. ^ Thụy hiệu đầy đủ đặt năm 1017
  3. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng lấy theo lịch Julius.
    Không phải lịch Gregory đón trước.