Tiết độ sứ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tiết độ sứ (節度使) là chức quan đứng đầu đạo, có nguồn gốc từ thời nhà Đường, Trung Quốc, bắt đầu từ khoảng năm 710-711, nhằm mục đích ngăn chặn các mối đe dọa từ bên ngoài Trung Quốc.

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thời này, Trung Quốc được chia thành 10 đạo, mỗi đạo đặt chức Thái phong phùng ngự sứ (ở những đạo biên viễn cũng đặt chức quan này), trao cho cờ tiết, gọi là tiết độ sứ lớn thống lĩnh khoảng hơn 10 châu, tiết độ sứ nhỏ thống lĩnh khoảng vài châu; được quyền định đoạt mọi việc trong đạo, từ việc có quân đội riêng, chế độ quan thuế riêng. Đầu niên hiệu Thiên Bảo của vua Đường Huyền Tông, có 9 tiết độ sứ dọc biên giới. Sau loạn An Sử, nội địa cũng nhiều nơi đặt tiết độ sứ. Đến đầu Bắc Tống, chính quyền trung ương thu hồi binh quyền, tiết độ sứ chỉ còn là danh nghĩa, được trao cho những người có công trong tôn thất, hoặc bổ nhiệm nhưng không có thực quyền. Đến đời Nguyên thì bãi bỏ chức này.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Bắc thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam, thời thuộc Đường, tiết độ sứ đầu tiên do Cao Biền nắm giữ vào năm 864.

Sử ghi lại tên các Tiết độ sứ người Trung Quốc tại Tĩnh Hải quân (chức danh đầy đủ là Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ) như sau (danh sách không đầy đủ)[1]:

  1. Cao Biền (864 - 868)
  2. Cao Tầm (cháu Cao Biền) (868 - 878)
  3. Tăng Cổn (878 - 880)
  4. Cao Mậu Khanh (882 - 883)
  5. Tạ Triệu (884-?)
  6. An Hữu Quyền (897-900)
  7. Chu Toàn Dục (900-905)
  8. Độc Cô Tổn (905)

Thời Tự chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 905, họ Khúc dấy nghiệp, rồi đến Dương Đình Nghệ giành được chính quyền tiếp tục xưng là tiết độ sứ, với hàm ý đứng đầu 1 trấn của Trung Quốc trên danh nghĩa, dù trên thực tế Tĩnh Hải quân do người Việt tự cai quản.

Các Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân người Việt là:

  1. Khúc Thừa Dụ (905-907)
  2. Khúc Hạo (907-917)
  3. Khúc Thừa Mỹ (917-930)
  4. Dương Đình Nghệ (931-937)
  5. Kiều Công Tiễn (937-938)

Sau trận Bạch Đằng, 938, Ngô Quyền xưng vương. Từ đây, chức Tiết độ sứ là chỉ những viên quan có nhiệm vụ quản lí các lộ phủ vùng biên giới. Thời nhà Trần về sau không còn chức này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Lịch sử Việt Nam - Viện sử học, 1992

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]