Tĩnh Hải quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tĩnh Hải (chữ Hán : 靜海軍 / Tĩnh Hải quân) là tên gọi Việt Nam từ cuối thời Bắc thuộc lần 3 tới hết thời loạn 12 sứ quân trong lịch sử Việt Nam, kéo dài 102 năm (866-968).

Thay đổi tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Từ đầu cho tới giữa thời thuộc Đường, nhà Đường gọi Việt Nam là An Nam đô hộ phủ, Trấn Nam đô hộ phủ, với người đứng đầu là các quan Đô hộ hoặc Kinh lược sứ. Đây là sự phân biệt giữa trấn nội thuộc và ngoại thuộc của nhà Đường vì các đơn vị hành chính tại chính quốc nhà Đường khi đó là các "quân" với người đứng đầu có chức danh là Tiết độ sứ[1].

Năm 866, sau 2 năm bị quân Nam Chiếu chiếm đóng, An Nam đô hộ phủ trở về tay nhà Đường vì tướng Cao Biền có công đánh dẹp. Đường Ý Tông theo thỉnh cầu của Cao Biền, thăng An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân. Điều này tương tự như việc Hán Hiến Đế làm năm 203 theo tờ biểu của thứ sử Trương Tân và thái thú quận Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp, cho Giao Chỉ được lập thành Giao châu, coi ngang hàng như các đơn vị hành chính ở Trung Quốc.[2] Lúc này An Nam đô hộ phủ trở thành Tĩnh Hải quân cũng giống như các "quân" (đơn vị hành chính) ở Trung Quốc với người đứng đầu có chức danh là Tiết độ sứ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời thuộc Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Sau loạn An Sử, nhà Đường tuy diệt được Đại Yên nhưng trên thực tế không còn mạnh như trước. Các phiên trấn phía đông không tuân phục chính quyền trung ương, các vùng xa nhà An Nam đô hộ phủ thường xuyên bị nước Nam Chiếu (vùng Vân Nam) uy hiếp.

Năm 863, Nam Chiếu chiếm được An Nam đô hộ phủ, tướng Sái Tập nhà Đường tử trận. Cao Biền được điều sang phải mất 3 năm mới hoàn toàn đánh dẹp được Nam Chiếu. Để khôi phục và củng cố quyền hành tại Việt Nam, Đường Ý Tông thăng An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân, cho Cao Biền làm Tiết độ sứ[3].

Sau Cao Biền, các Tiết độ sứ kế tục là Cao Tầm, Tăng Cổn, Tạ Triệu, An Hữu Quyền, Chu Toàn Dục và Độc Cô Tổn.

Thời tự chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối thế kỷ 9, tại Trung Quốc nổ ra khởi nghĩa Hoàng Sào. Khởi nghĩa bị tiêu diệt nhưng các quân phiệt cũng nhân đó gây nội chiến và cát cứ công khai. Nhà Đường bị quyền thần Chu Ôn khống chế.

Năm 905, Chu Ôn ghét Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân là Độc Cô Tổn là người không cùng cánh, bèn đày ra đảo Hải Nam và giết chết. Trong lúc nhà Đường chưa kịp cử quan cai trị mới sang trấn nhậm, một hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm lấy thủ phủ Đại La[4], tự xưng là Tiết độ sứ. Chu Ôn đang mưu cướp ngôi nhà Đường, đã nhân danh vua Đường thừa nhận Khúc Thừa Dụ. Từ đó người Việt bắt đầu khôi phục quyền tự chủ.

Sau Khúc Thừa Dụ, con là Khúc Hạo thực hiện cải cách hành chính, củng cố quyền hành ở Tĩnh Hải quân. Cả thảy toàn bộ Tĩnh Hải quân được chia thành 314 giáp.

Nhà Hậu Lương, trước đây vì mới cướp ngôi nhà Đường, phương Bắc nhiều biến cố nên thừa nhận Khúc Hạo làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân năm 907. Nhưng qua năm sau, vua Hậu Lương là Chu Ôn lại phong cho Tiết độ phó sứ ở Quảng Châu là Lưu Ẩn kiêm chức "Tĩnh Hải quân tiết độ, An Nam đô hộ". Điều đó có nghĩa là người Trung Quốc vẫn muốn chiếm lại Việt Nam[5].

Năm 911, Lưu Ẩn chết, em là Lưu Nghiễm lên thay. Sự cai trị vững vàng của Khúc Hạo khiến họ Lưu ở Quảng Châu không dám nhòm ngó tới phương nam. Năm 917, Lưu Nghiễm tự xưng đế, lập ra nước Nam Hán, cát cứ vùng Ngũ Lĩnh không thần phục nhà Lương.

Cuối năm 917 Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Khúc Thừa Mỹ chủ trương kết thân với nhà Hậu Lương ở trung nguyên. Năm 919, ông sai sứ sang Biện Kinh xin tiết việt của nhà Hậu Lương. Vua Lương là Mạt đế Chu Hữu Trinh, bấy giờ bận đối phó với các nước lớn ở Trung nguyên nên ban Tiết Việt cho Khúc Thừa Mỹ và phong ông làm Tiết độ sứ. Được sự hậu thuẫn của nhà Hậu Lương, Thừa Mỹ chủ quan cho rằng uy thế của nhà Lương rộng lớn ở Trung nguyên có thể kìm chế được Nam Hán nhỏ hơn ở Quảng Châu. Ông công khai gọi nước Nam Hán là "ngụy đình".

Năm 930, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm điều quân đánh Tĩnh Hải quân. Khúc Thừa Mỹ không chống nổi, bị bắt mang về Phiên Ngung.

Năm 931, bộ tướng của Khúc Hạo là Dương Đình Nghệ mang quân đánh đuổi tướng Nam Hán là Lý Tiến và diệt viện binh của Trần Bảo, giành lại thành Đại La. Ông tự xưng là Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân.

Năm 937, Dương Đình Nghệ bị nha tướng Kiều Công Tiễn phản bội, giết chết và cướp quyền, tự xưng Tiết độ sứ.

Năm 938, con rể Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền từ Ái châu tập hợp lực lượng ra đánh chiếm thành Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn. Cuối năm đó Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán sang đánh Tĩnh Hải quân với danh nghĩa giúp Kiều Công Tiễn tại trận Bạch Đằng.

Thời Ngô[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Quyền bỏ danh hiệu Tiết độ sứ, xưng là Ngô vương. Năm 944, Ngô Quyền mất. Em vợ Ngô vương là Dương Tam Kha giành ngôi vua, con Ngô vương là Ngô Xương Ngập phải bỏ trốn.

Dương Tam Kha nhận con thứ Ngô Quyền là Ngô Xương Văn làm con nuôi. Năm 950, nhân được sai cầm quân đi dẹp loạn, Ngô Xương Văn mang quân về lật đổ Dương Tam Kha, giành lại ngôi cho họ Ngô. Xương Văn đón anh Xương Ngập về cùng trị nước.

Năm 954, Ngô Xương Ngập chết. Ngô Xương Văn một mình làm vua. Năm 965, trong khi đi đánh quân nổi dậy ở Thái Bình, Ngô Xương Văn bị trúng tên tử trận.

Chấm dứt[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Ngô mất. Các tướng lĩnh cũ của nhà Ngô và các hào trưởng địa phương cùng nhau nổi dậy chiếm giữ đất đai cát cứ, sử gọi là thời loạn 12 sứ quân.

Thủ lĩnh cát cứ ở Hoa Lư từ thời Ngô Xương Ngập là Đinh Bộ Lĩnh sau khi liên kết với sứ quân Trần Lãm (một trong 12 sứ quân) đã đánh dẹp các sứ quân còn lại. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất cả nước, tự xưng làm hoàng đế, tức là vua Đinh Tiên Hoàng. Tên gọi Tĩnh Hải quân chấm dứt sau 102 năm khi vua Đinh đặt tên nước là Đại Cồ Việt[6][7].

Lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm cuối thời thuộc Đường và thời Tự chủ, lãnh thổ Tĩnh Hải quân gồm 12 châu là[8]:

  • Giao
  • Lục
  • Phúc Lộc
  • Phong
  • Thang
  • Trường
  • Chi
  • Vũ Nga
  • Vũ An
  • Ái
  • Hoan
  • Diễn

Lãnh thổ 12 châu này bao gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, kéo dài tới phía bắc Hoành Sơn[9], thêm một phần phía tây nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hiện nay[10].

Tuy nhiên sang thời nhà Ngô (939-967), lãnh thổ Tĩnh Hải quân chỉ còn 8 châu là[11][12]:

  • Giao
  • Lục
  • Phúc Lộc
  • Phong
  • Trường
  • Ái
  • Hoan
  • Diễn

Bốn châu: Thang, Chi, Vũ Nga và Vũ An thuộc về Nam Hán. Việc thu hẹp lãnh thổ phía bắc này không được sử sách ghi chép rõ. Theo Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời: 4 châu này bị Nam Hán chiếm, nhưng không rõ vào thời điểm nào (trước hay sau trận Bạch Đằng)[12][13]. Nguyễn Khắc Thuần trong Thế thứ các triều vua Việt Nam cho rằng: Ngô Quyền bàn giao 4 châu này cho Nam Hán "để tiện việc phòng thủ"[11].

Lãnh thổ nước Đại Cồ Việt của nhà Đinh kế tục nhà Ngô trở về sau nằm trên 8 châu này[12], từ miền Bắc Việt Nam đến Hoành Sơn, nghĩa là hết địa giới Hà Tĩnh hiện nay[14]. Kể từ khi kết thúc nghìn năm Bắc thuộc đến trước năm 1069 (thời điểm Lý Thánh Tông lấy 3 châu của Chiêm Thành), lãnh thổ Việt Nam thời họ Khúc là rộng hơn cả[15].

Trong quan hệ ngoại giao đời sau[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Tĩnh Hải quân vẫn được các triều đình phương Bắc dùng làm một tên gọi Việt Nam. Khi phong chức cho các vua hay hoàng tử nhà Đinh, nhà Tiền Lênhà Lý của Việt Nam, các vua Tống vẫn dùng tước hiệu gắn với địa danh Tĩnh Hải quân:

  • Năm 973 nhà Tống sai sứ sang phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương, hoàng tử Đinh Liễn làm Kiểm hiệu thái sư Tĩnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ[6].
  • Năm 986, nhà Tống sai Lý Nhược Chuyết, Lý Giác mang chế sách sang phong cho Lê Hoàn làm An Nam đô hộ Tĩnh Hải quân Tiết độ sử kinh triệu quận hầu[6].
  • Năm 1007, nhà Tống phong Lê Long Đĩnh làm Giao Chỉ quận vương, lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ[6].
  • Năm 1010, nhà Tống phong Lý Thái Tổ làm Giao Chỉ quận vương, lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ[16].

Từ Lý Thái Tông trở về sau, trong danh hiệu các vua Tống phong cho vua Đại (Cồ) Việt chỉ có Giao Chỉ quận vương, không nhắc tới Tĩnh Hải quân.

Những người đứng đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời thuộc Đường qua thời Tự chủ tới thời nhà Ngô, những người đứng đầu Tĩnh Hải quân gồm có[17]:

Thứ tự Thời kỳ Chức danh, danh hiệu Tên họ Niên đại
1 Thuộc Đường Tiết độ sứ Cao Biền 864-868
2 Thuộc Đường Tiết độ sứ Cao Tầm 868-878
3 Thuộc Đường Tiết độ sứ Tăng Cổn 878-880
4 Thuộc Đường Tiết độ sứ Cao Mậu Khanh 882-883
5 Thuộc Đường Tiết độ sứ Tạ Triệu 884-?
6 Thuộc Đường Tiết độ sứ An Hữu Quyền 897-900
7 Thuộc Đường Tiết độ sứ Chu Toàn Dục 900-905
8 Thuộc Đường Tiết độ sứ Độc Cô Tổn 905
9 Tự chủ Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ (người Việt) 905-907
10 Tự chủ Tiết độ sứ Khúc Hạo (người Việt) 907-917
11 Tự chủ Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ (người Việt) 918-930
12 Tự chủ Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ (người Việt) 931-937
13 Tự chủ Tiết độ sứ Kiều Công Tiễn (người Việt) 937-938
14 Nhà Ngô Ngô vương Ngô Quyền (người Việt) 939-944
15 Nhà Ngô Dương Bình vương Dương Tam Kha (người Việt) 944-950
16 Nhà Ngô Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập (người Việt) 951-954
17 Nhà Ngô Nam Tấn vương Ngô Xương Văn (người Việt) 951-965
18 Loạn 12 sứ quân Tước công Các sứ quân 966-967

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, sách đã dẫn, tr 281
  2. ^ Viện Sử học (2001), sách đã dẫn, tr 31
  3. ^ Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, sách đã dẫn, tr 292
  4. ^ Tống Bình cũ, từ khi Cao Biền sang trấn nhậm xây lại và đổi tên gọi
  5. ^ Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, sách đã dẫn, tr 293
  6. ^ a ă â b Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ quyển 1
  7. ^ Đào Tố Uyên, sách đã dẫn, tr 26
  8. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 93, 103. Nếu kể cả các châu Kimi là 13
  9. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 102
  10. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 102-103
  11. ^ a ă Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr 41
  12. ^ a ă â Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 111
  13. ^ Nguyễn Khắc Thuần (2003), sách đã dẫn, tr 92
  14. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 106
  15. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 111, 122
  16. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ quyển 2
  17. ^ Viện Sử học (2001), sách đã dẫn, tr 382-383