Bắc Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Bắc Kỳ (chữ Hán: 北圻) là tên gọi do vua Minh Mạng đặt ra năm 1834 để chỉ phần đất từ Ninh Bình trở ra phía bắc của Việt Nam, thay cho tên gọi Bắc Thành thời nhà Tây SơnGia Long. Đây cũng là một trong ba kỳ tạo nên nước Việt Nam thời nhà Nguyễn. Đất từ Thanh Hóa đến Bình ThuậnTrung Kỳ và từ Biên Hòa vào nam là Nam Kỳ.

Mục lục

[sửa] Lịch sử

Bản đồ Tonkin, vẽ năm 1888

Năm 1883, Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai, buộc nhà Nguyễn ký Hiệp ước Harmand (25 tháng 8, 1883) đầu hàng thực dân PhápHiệp ước Patenôtre (6 tháng 6, 1884), công nhận quyền bảo hộ của Pháp với vùng lãnh thổ còn lại của Đại Nam. Theo Hiệp ước Harmand, khu vực từ đèo Ngang trở ra bắc gọi là Tonkin (Bắc Kỳ). Hiệp ước Patenôtre quy định lại ranh giới Tonkin (Bắc Kỳ), theo đó Bắc Kỳ tính từ địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình trở ra.

Năm 1885 Bắc Kỳ gồm có 13 tỉnh: Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Hóa, Hưng Yên, Lạng Sơn, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Yên, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang.

Vùng đất Bắc Kỳ tồn tại trên danh nghĩa vẫn thuộc lãnh thổ của Đại Nam, nhưng trên thực tế thuộc quyền cai trị của Công sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur du Tonkin; dịch đúng ra là "Bắc Kỳ lưu trú quan đại thần") người Pháp. Các hiệp ước Pháp ký với triều đình nhà Nguyễn không được Trung Hoa công nhận. Phải đến sau Chiến tranh Pháp-Thanh (1884–1885), Pháp mới nắm toàn bộ chủ quyền của An Nam (miền Trung Việt Nam) và Bắc Kỳ.

Năm 1887, Tonkin/Bắc Kỳ trở thành một xứ bảo hộ nằm trong Liên bang Đông Dương.

Sau khi đảo chính Pháp, ngày 20 tháng 3 năm 1945, Nhật đã cử Thống sứ Nishimura tạm thời cai quản xứ này và đổi tên là Bắc Bộ. sau khi thành lập Quốc gia Việt Nam quốc trưởng Bảo Đại thay Bắc Phần cho "Bắc Bộ".

[sửa] Tên gọi Tonkin

"Tonkin" vốn là đọc trại âm tên Hán-Việt của địa danh Hà Nội, thời nhà Lê gọi là Đông Kinh (東京). Vì đó cũng là trung tâm hành chính và thương mại miền Bắc nên Tonkin được người phương Tây dùng để chỉ toàn xứ Đàng Ngoài thời Trịnh - Nguyễn phân tranh dưới nhiều dạng như Tunquin, Tonquin, Tongking, Tongkin, và Tonkin. Cách viết phản ảnh văn tự của người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, AnhPháp khi phát âm "Đông Kinh". Sang thế kỷ 19 địa danh "Tonkin" được người Pháp chỉ định riêng xứ Bắc Kỳ của triều Minh Mệnh trở đi.

Tuy tên Tonkin không còn dùng về mặt hành chính nhưng trong tiếng Anh ta còn thấy nó xuất hiện trong tên gọi Vịnh Bắc Bộ "Gulf of Tonkin" và cây thiên lý "Tonkin creeper".

Tính từ tonkinois trong tiếng Pháp được dùng trong soupe tonkinois để chỉ món phở. Vincent Scotto sáng tác một bài hát vào năm 1906 với nhan đề "La petite Tonkinoise". (Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ).

[sửa] Từ tonkinensis trong phân loại học

Tính từ latinh hóa tonkinensis (Phân loại học), dùng để miêu tả các loài, chủ yếu là các giống cây có ở Bắc Bộ (Tonkin). Ví dụ Sindora tonkinensis chỉ cây gụ lau, hay Dalbergia tonkinensis, tức sưa Bắc Bộ.

[sửa] Tên gọi ngày nay

Ngày nay, đôi khi, chữ "Bắc Kỳ" hay "dân Bắc Kỳ" được người miền Nam Việt Nam gọi để chỉ những người ở Miền Bắc di cư vào Nam với thái độ kì thị.

[sửa] Xem thêm

Công cụ cá nhân