Minh Mạng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Thánh Tổ
阮聖祖
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Minh Mang.gif
Chân dung Minh Mạng theo minh họa trong sách của John Crawfurd (xb 1828)
Hoàng đế nhà Nguyễn
Trị vì 18201841
Tiền nhiệm Nguyễn Thế Tổ
Kế nhiệm Nguyễn Hiến Tổ
Thông tin chung
Vợ Tá Thiên Nhân hoàng hậu
Các vợ khác
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Đảm
Nguyễn Phúc Kiểu
Niên hiệu Minh Mệnh 明命
Thụy hiệu Thể Thiên Xương Vận Chí Hiếu Thuần Đức Văn Vũ Minh Đoạn Sang Thuật Đại Thành Hậu Trạch Phong Công Nhân Hoàng đế
體天昌運至孝淳德文武明斷創述大成厚宅豐功仁皇帝
Miếu hiệu Thánh Tổ (聖祖)
Triều đại Nhà Nguyễn
Hoàng gia ca Đăng đàn cung
Thân phụ Nguyễn Thế Tổ
Gia Long hoàng đế
Thân mẫu Thuận Thiên Cao Hoàng hậu
Sinh 25 tháng 5 năm 1791
Sài Gòn, Việt Nam
Mất 20 tháng 1, 1841 (49 tuổi)
Huế, Việt Nam
An táng Hiếu Lăng (孝陵)

Minh Mạng (chữ Hán: 明命, 25 tháng 5, 179120 tháng 1, 1841), tức Nguyễn Thánh Tổ (阮聖祖), là vị Hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1820 đến năm 1840 khi ông qua đời.

Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán,[2] Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội cácCơ mật việnkinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thànhGia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳNam kỳ. Là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài. Dưới triều Minh Mạng có nhiều cuộc nổi dậy diễn ra: Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam. Triều đình đã phải đối phó vất vả với những cuộc nổi dậy ấy.

Ngoài việc trừ nội loạn, Minh Mạng còn chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài. Ông đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước trở thành một đế quốc hùng mạnh. Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao; và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang (Phnôm Pênh ngày nay) thành Trấn Tây thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và đã gây nhiều bất bình với dân chúng ở đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra. Do không có thiện cảm với phương Tây, Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc với họ. Ngoài ra, vì Minh Mạng không thích đạo Cơ Đốc của phương Tây [cần dẫn nguồn], nên ông đã ra chiếu cấm đạo và tàn sát hàng loạt tín đồ Cơ Đốc giáo.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽), còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu (阮福晈) là con trai thứ tư của vua Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu Trần Thị Đang. Ông sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi, tức 25 tháng 5, 1791 tại làng Tân Lộc, gần Sài Gòn, giữa cuộc Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1787-1802).[3]

Thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Con thứ hai của Gia Long là hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh mất sớm năm 1801. Do thái tử Cảnh là người con chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Công giáo từ Pháp nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long không chọn cháu đích tôn của mình (con Cảnh) làm người người kế vì sợ những ảnh hưởng của Pháp tới triều đình.

Mặc dù có nhiều đình thần phản đối nhưng vua Gia Long vẫn quyết chọn Nguyễn Phúc Đảm làm người kế vị. Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Gia Tô và không có cảm tình với người Pháp – tư tưởng này giống với Gia Long. Năm 1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hoà để quen với việc trị nước.

Trị vì đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu tiên sau khi Gia Long mất (1820)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm Kỷ Mão (đầu năm 1820), vua Gia Long qua đời. Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng (明命). Bấy giờ ông đã 30 tuổi nên rất am hiểu việc triều chính.[1] Nhiều lần sau buổi chầu, ông cùng một vài quan đại thần ở lại để bàn việc, hoặc hỏi về các sự tích xưa, hoặc hỏi về những nhân vật cùng phong tục các nước khác.[1]

Nguyễn Thánh Tổ được xem là một vị vua siêng năng, luôn thức khuya dậy sớm để xem xét công việc, có khi thắp đèn đọc sớ chương ở các nơi gởi về đến trống canh ba mới nghỉ.[2] Ông thường bảo với các quan:

Lòng người, ai chả muốn yên hay vì chuyện sinh sự để thay đổi luôn, lúc trẻ tuổi còn khoẻ mạnh mà không biết sửa sang mọi việc, đến lúc già yếu thì còn mong làm gi được nữa. Bởi thế trẫm không dám lười biếng bất kỳ lúc nào.

[1][2]

Thật vậy, trong suốt thời gian trị vì của mình, vua Minh Mạng đã thay đổi rất nhiều việc, từ nội trị, ngoại giao cho đến những cải cách xã hội cùng những việc trong dòng họ.[2]

Quốc hiệu Đại Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đại kỳ của vua Minh Mạng.
Tiền Phi long) thời vua Minh Mạng 1833

Minh Mạng đã xin triều đình Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên triều đình Mãn Thanh không chính thức chấp thuận. Đến ngày 15 tháng 2 năm 1839, nhận thấy Mãn Thanh suy yếu, Minh Mạng đã chính thức công bố quốc hiệu Đại Nam. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.

Quan chế và tổ chức chính quyền trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng tiền cổ với bốn chữ "Minh Mạng thông bảo"

Trong việc dùng người Minh Mạng chú trọng cả tài, đức và đặc biệt là học vấn.[2] Ông cho rằng người không học thì không rõ pháp luật, lỡ khi xử đoán sai thì pháp luật khó dung, như thế sẽ làm hại dân. Việc dùng người không ngoài mục đích muốn yên dân. Muốn yên dân thì quan phủ huyện không được phiền nhiễu dân, tham nhũng.[2] Vì vậy, nhà vua đã nghiêm trị nhiều viên quan tham nhũng.[2] Từ thời Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia làm chánh và tòng 2 bậc. Trừ khi có chiến tranh, loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (văn) vừa trị vì tỉnh vừa chỉ huy đội quân của tỉnh nhà.[4] Minh Mạng còn định mức lương bổng cho quan lại, định tiền gạo cho mỗi cấp cùng thời hạn lãnh lương. Ngoài ra ông còn cấp tiền dưỡng liêm để tranh sự tham nhũng của quan lại.[1][2]

Từ cuối năm 1831 Minh Mạng cho bỏ các dinh, trấn mà thành lập các tỉnh.[1], Năm 1632 cả nước có 31 tỉnh, gồm:

  • Bắc Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 13 tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Nguyên.
  • Trung Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 12 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận
  • Nam Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 06 tỉnh: Phiên An (năm 1836 đổi tên thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên

Nhà vua đặt các quan Tổng đốc (đối với tỉnh lớn) hoặc Tuần phủ (đối với tỉnh nhỏ), riêng tỉnh Thừa Thiên là Phủ doãn; và các quan Bố Chính sứ, Án sát cùng Lãnh binh để trông coi mọi việc tại từng tỉnh. Trong triều, các cơ quan điều khiển cũng đổi mới, Thị Thư Viện được đổi thành Văn Thư Phòng vào năm 1820, rồi thành Nội Các vào năm 1829. Năm 1830, ông đặt ra Cơ Mật viện để trông coi những việc quốc quân trọng yếu.[1] Ông đã cho thành lập Tôn Nhân Phủ, điều hành các Hệ, Phòng trong việc kê khai nhân thế bộ, cấp dưỡng và từ tế cũng như kiểm soát và đàn hạch trong quốc tộc.[1]

Đối với vùng thượng du và các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số, chủ yếu là 6 ngoại trấn của Bắc Thành cũ, nhà vua quyết định nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829, ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (tù trưởng dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương "…thanh liêm, tài năng, cần cán làm dân tin phục" làm Thổ tri các châu, huyện. Tiếp đó, các châu huyện miền núi cũng được phân chia lại để phù hợp với diện tíchdân số của mỗi vùng. Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ nhằm khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi. Nhà vua còn nghĩ đến việc giúp lư chuyển tiền bạc,[1] tránh cho người đi xa khỏi mang theo nhiều tiền,[1] như vào năm Bính thân (1836) đặt ra "Giao Tứ Vụ"[1]Cao Bằng để chuyển đổi tiền bạc, cơ quan này có nhiệm vụ như ngân hàng ngày nay.[1]

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Mạng rất quan tâm đến mặt quân sự. Nhiều lần, ông thân hành ra thao trường để chứng kiến việc luyện tập của quân đội. Ông lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng tới việc quân cốt tinh nhuệ, không cốt đông, giảm bớt số lượng người cầm cờ từ 40 xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500 người).[5]

Theo Việt Nam sử lược, quân đội thời Minh Mạng gồm bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Bộ binh gồm kinh binh và cơ binh. Kinh binh được chia làm doanh, vệ đội, đóng ở Kinh thành hoặc đóng ở các tỉnh. Mỗi doanh có 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 người, có đội trưởng và suất đội cai quản. Vũ khí của mỗi vệ gồm 2 khẩu thần công, 200 khẩu điểu thương và 21 ngọn cờ. Cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia làm cơ và đội. Cơ có các quản cơ, đội có các suất đội cai quản. Tượng binh chia làm đội, mỗi đội có 40 con voi. Ở Kinh thành có 150 con, ở Bắc Hà có 110 con, ở Gia Định có 70 con, ở Quảng Nam có 35 con, ở Bình Định có 30 con, ở Nghệ An có 21 con, ở Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa mỗi nơi có 15 con, ở Quảng Trị, Phú Yên, Bình ThuậnNinh Bình mỗi nơi có 7 con.

Ông còn cho lập đồn ải ở những nơi hiểm yếu trong nước, còn ngoài biển thì lập pháo đài. Ông rất chú trọng đến thuỷ quân, các vùng hải đảo đều được đánh mốc giúp cho sự lưu thông dễ dàng.[1] Thuỷ quân có 15 vệ, chia làm 3 doanh do quan đô thống cai quản, mỗi doanh được quan chương vê cai quản.

Đinh điền và thuế khóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thuế đinhthuế điền cơ bản cũng theo như vua Gia Long đã định. Theo Việt Nam sử lược, chỉ có năm Bính thân (1836), đất Nam Hà đạc điền xong, tính ra được hơn 630.075 mẫu và định lại các thứ thuế điền thổ ở đó. Còn như số dân đinh và điền thổ trong nước, thì theo số bộ tổng cộng lại được 970.516 suất đinh và 4.063.892 mẫu ruộng và đất.

Đối với những người Hoa sang lập ấp ở Đại Nam (gọi là Minh Hương), triều đình có lệnh rằng mỗi người 1 năm phải nộp 2 lạng bạc và được miễn giao dịch. Những người già yếu và khuyết tật phải chịu 1 nửa.

Đối với những người nhà Thanh sang Đại Nam buôn bán, người nào có vật lực thì 1 năm phải đóng 6 quan tiền; ai không có vật lực thì phải nộp một nửa, hạn cho 3 năm, thì chiếu lệ thu cả thuế.

Theo Việt Nam sử lược, Minh Mạng còn đặt lệ đánh thuế muối. Mỗi ruộng muối 1 năm phải nộp bằng muối từ 6 phương đến 10 phương. Mỗi phương nộp bằng tiền thì phải nộp từ 3 tiền đến 4 tiền 30 đồng. Còn các thuế mỏ, thuế sản vật,… thì cơ bản cũng theo lệ Gia Long đã định, chứ không thay đổi gì mấy.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bản thân vua Minh Mạng cũng là một học giả, đã từng làm thơ, soạn sách văn học, khuyến khích biên soạn các loại sách sử, nhất là các sách sử, địa. Nhiều người soạn sách mới, dâng sách cũ đều được nhà vua ban thưởng và khuyến khích. Các bộ sách quý như: Gia Định thành thông chí, Lịch Triều Hiến Chương loại chí,… đều ra đời dưới thời Minh Mạng. Các con của ông, điển hình như Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Tuy Lý Vương Miên Trinh và Tương An Quận Vương Miên Bửu,…, đều là những nhà văn, nhà thơ xuất sắc, và đều nổi tiếng dưới các triều vua Thiệu Trị, Tự Đức sau này.

Để xã hội có qui củ cùng nề nếp, nhà vua cho thống nhất việc đo lường và thống nhất y phục.[1] Năm Bính thân (1836) phủ huyện được cấp các cân mẫu, rồi năm Kỷ hợi (1839) được cấp các loại thước mộc, thước may, thước đo ruộng.[1] Về y phục ông từng bảo: "Ngày nay nước nhà cương thổ đã hiệp nhất thì chính trị, phong tục lẽ nào khác biệt".[1] Bởi thế, nên nhiều đạo dụ được ban bố để y phục ở miền Bắc và miền Nam giống nhau.[1]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Là người tinh thông Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến nền khoa cử, học vấn. Nhà vua thường nói:

Đạo trị nước phải gây dựng nhân tài.

—Minh Mạng[1]

Năm 1821, ông đặt chức Tế tửu và Tư nghiệp, năm 1822 mở lại thi Hội, thi Đình.[2] Ông còn cho đặt đốc học ở thành Gia Định, ông giao trọng trách cho nhà giáo Nguyễn Trọng Vũ người Nghệ An, giữ chức Phó Đốc học chăm lo việc học hành ở Nam Bộ. Bấy giờ, ở Gia Định có Trịnh Hoài Đức là người có học vấn cao nên được nhà vua tin dùng, phong làm Hiệp Biện Đại học sĩ, Thượng thư Bộ Lại kiêm Thượng thư Bộ Binh.[2]

Minh Mạng còn đặt ra lệ rằng ai được thăng quan, bổ nhiệm đều phải lên kinh gặp vua trước khi nhậm chức.[2] Đây là cơ sơ để nhà vua kiểm tra đức độ, năng lực và khuyên bảo điều hay lẽ phải, cốt sao cho lợi ích nước nhà.[2]

Năm 1836, ông cho thành lập "Tứ dịch quán" để dạy ngoại ngữ (tiếng Pháp, Xiêm).

Vua Minh Mạng muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông chỉ toàn là những hủ nho lạc hậu, không giúp đỡ được nhà vua trong một kế hoạch nào làm cho quốc phú, dân cường.[6] Ông đã nói rằng:

Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ cái hư sáo khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó. Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau dần dần đổi lại.

—Minh Mạng[6]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Minh Mạng, việc khẩn hoang rất được khuyến khích. Nhà vua cho quan lại mộ dân lập những ấp mới ở trong Nam cũng như ngoài Bắc, khiến cho việc phân phối ruộng đất được hợp lý. Ngoài ra, ông còn hoàn chỉnh hệ thống đê điềuBắc Bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoang ven biển Bắc Bộ, lập các huyện Kim Sơn và Tiền Hải. Ở Nam Bộ, công cuộc khai hoangthuỷ lợi cũng được đẩy mạnh. Minh Mạng còn thử nghiệm giải pháp bỏ đê phía nam Hà Nội, đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)[1][2]

Năm 1832, vua Minh Mạng khai mở ngành tơ tằm Đại Nam.[7]

Ông còn ban dụ cho lập nhà dưỡng tế ở các tỉnh để giúp đỡ những người tàn tật, nghèo khổ, già cả và hoặc không nơi nương tựa.[1] Triều đình cũng bắt quan lại ở các tỉnh phải xuất lúa giống ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau, nhằm làm cho nông nghiệp không bị đình trệ và việc mất mùa không ảnh hưởng trong các năm sau.[8]

Kỹ thuật công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo bao gồm: máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu.[9] Cụ thể là năm 1834, với sự đồng ý của Minh Mạng, Nguyễn Văn Túy chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng nước mang tên Thuỷ hoả kí tế.

Trong các năm 18371838, theo kiểu mẫu phương Tây, thợ thủ công Nhà nước đã chế tạo được máy cưa văn gỗ, xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng,… và còn có cả xe cứu hỏa.

Đặc biệt là vào năm 1839, dựa trên các kiểu mẫu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trịnh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi. Năm sau (1840), Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểu mới tân tiến và sửa chữa một chiếc bị hỏng. Điều đáng tiếc là mọi việc dường như bị đình lại sau đó.[10]

Xét xử công thần quá cố[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lê Văn DuyệtLê Chất

Vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) vốn có nhiều hiềm khíchtư thù[11]. Dù không ưa Lê Văn Duyệt nhưng ông không dám[12] làm gì, do công lao và uy quyền quá lớn của Lê Văn Duyệt với triều đình.

Năm 1833, Lê Văn Duyệt qua đời, con nuôi là Lê Văn Khôi (? – 1834) nổi loạn chiếm thành Phiên An (tức thành Gia Định), Minh Mạng trong khi đánh dẹp cuộc nổi dậy này vẫn thường ban trách Lê Văn Duyệt.

Năm 1835, sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi, Minh Mạng bèn làm án Tả quân, giao cho nhóm nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Tả quân có sáu điều, có bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ, một tội phải sung quân. Bản án quyết định truy đoạt quan chức, phá bỏ quan quách giết thây. Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc bằng và bị xiềng xích, phía trên khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: Đây chỗ tên lại cái lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước[13]; các ngôi mộ cha mẹ của Lê Văn Duyệt bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia.

Sang năm sau (1836), Minh Mạng lại sai đình thần làm án Lê Chất (1769 – 1826), một công thần từ thời Gia Long, đã qua đời năm 1826. Bài dụ về tội trạng của Lê Chất như sau:

...Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết...

Vậy cho Tổng đốc Bình Phú Võ Xuân Cẩn san phẳng mộ của hắn, khắc bia dựng lên trên đề to mấy chữ "Chỗ này là nơi Lê Chất phục pháp" để làm gương cho kẻ gian tặc muôn đời. Còn vợ hắn là Lê Thị Sai… cùng con là Lê Cẩn, Lê Trương, Lê Thường, Lê Kỵ, đều… trảm giam hậu. Lại tịch biên gia sản, được hơn 12.000 quan tiền, giao tỉnh chứa cả vào kho.

Nhà sử học Trần Trọng Kim bình luận về việc làm án các công thần đã chết này trong sách Việt Nam sử lược như sau:

Quan quân bình xong giặc Lê Văn Khôi rồi vua Thánh Tổ sai phá thành Phiên An đi, xây lại chỗ khác và ngài xuống chiếu định truy tội Lê Văn Duyệt và tội Lê Chất. Cứ bình tĩnh mà xét, thì chẳng qua là vua Thánh Tổ vốn có ý không ưa hai ông ấy, rồi đình thần lại nhân đó mà bới việc ra để chiều ý ngài, cho nên thành ra hai cái án thật là không đáng.

—Trần Trọng Kim[14]

Dẹp loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Nguyễn nói chung và thời Minh Mạng nói riêng cho thấy các cuộc nổi dậy của nông dân và các tầng lớp khác bùng nổ dữ dội. Theo sử gia Phạm Văn Sơn, các cuộc nổi dậy ở Bắc Hà suốt Trung, Nam, Bắc dưới triều Minh Mạng (kể từ 1822) có nhiều nguyên nhân:[15]

A) Về phía ngoại bang, nước Tiêm La vấn giữ thái độ về vấn đề Chân Lạp nên ngoài mặt tuy êm dịu nhưng bên trong Tiêm La vẫn tìm cơ hội để quấy rối Việt Nam.
B) Ngoài Bắc, một phần nhân tâm còn luyến tiếc Lê triều, vẫn chờ dịp nổi lên chống triều Nguyễn và khôi phục lại dòng họ Lê.
C) Bọn quan lại hay nhũng nhiễu dân chúng, dèm pha nhau, tâng công, nịnh hót mà vua lại thường không minh, nhất là đối với kẻ công thần, nhiều người trung lương đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, nước tất nhiên phải sinh loạn do đó ngoại quốc mới dám dòm ngó vào.

Tại Bắc Hà[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1822, Minh Mạng thứ 2, tại Bắc Hà có tới 254 cuộc nổi dậy của nhân dân diễn ra. Tiêu biểu là các cuộc nổi dậy của Phan Bá VànhNam Định, Lê Duy LươngNinh BìnhNông Văn VânTuyên Quang. Quân triều đình phải vất vả lắm mới dẹp được các cuộc nổi loạn này.

Phan Bá Vành[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Việt Nam sử lược, năm 1826Nam ĐịnhPhan Bá Vành cùng với Võ Đức Cát và Nguyễn Hạnh khởi binh đánh phủ Trà Lý và Lân Hải, giết quan thủ ngự Đặng Đình Miễn và Nguyễn Trung Diễn. Quan trấn thủ Nam Định là Lê Mậu Cúc đem quân xuống đánh, nhưng cũng bại trận tử vong. Quan quân ở các trấn phải về tiễu trừ, bắt được Võ Đức Cát. Còn Phan Bá Vành và quân của mình thì chạy tan cả. Nhưng đến tháng chạp năm ấy, Phan Bá Vành và Nguyễn Hạnh liên kết với giặc Khách đi cướp ở ngoài biển, rồi lại đem quân về đánh phá ở huyện Tiên Minh và huyện Nghi Dương ở Hải Dương.

Thấy vậy, Minh Mạng bèn sai quan Tham biện Thanh HóaNguyễn Công Trứ, quan Tham biện Nghệ AnNguyễn Đức Nhuận đem binh thuyền ở Thanh Hóa, Nghệ An ra cùng với Hiệp trấn Bắc thànhNguyễn Hữu Thận đi dẹp loạn.

Tháng giêng năm Đinh Hợi (1827), Phan Bá Vành quay về đánh chiếm phủ Thiên Trường và phủ Kiến Xương, sau lại về vây quan quân ở chợ Quán. Phạm Văn LýNguyễn Công Trứ cho quân tới giải vây, Phan Bá Vành bại trận chạy về căn cứ ở Trà Lũ. Quân triều đình vây đánh, bắt được Phan Bá Vành và 765 thủ hạ[16].

Lê Duy Lương[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm Quý Tỵ (1833), ở Ninh BìnhLê Duy Lương, một hậu duệ của triều đại nhà Lê nổi lên, xưng làm Đại Lê Hoàng Tôn, cùng với các thổ ti Quách Tất Công, Quách Tất Tế, Đinh Thế Đức, Đinh Công Trịnh đem quân đi đánh phá các phủ huyện và chiếm giữ 3 châu huyện Lạc Thổ, Phụng Hóa và Yên Hóa. Sau đó, Lê Duy Lương cho quân đánh thành Hưng Hóa.

Hay tin, vua Minh Mạng cử quan Tổng đốc Nghệ TĩnhTạ Quang Cự cùng với Tổng đốc Thanh HóaNguyễn Văn Trọng đem quân ra Ninh Bình để đàn áp quân nổi loạn.

Lê Duy Lương ở Ninh Bình lâm vào thế cô, không chống nổi mấy đạo quân triều đình, chỉ đương được vài ba tháng thì bị bắt, đóng cũi giải về kinh trị tội. Còn nhóm Quách Tất Công, Quách Tất Tế thì cũng tan rã.

Sau đó, Minh Mạng truyền đem dòng dõi nhà Lê đi đày vào Quảng Nam, Quảng Bình, cứ chia cho 15 người ở 1 huyện và phát cho 10 quan tiền và 2 mẫu ruộng để làm ăn[16].

Nông Văn Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Khi quân triều đình đang dẹp loạn Lê Duy Lương ở miền Bắc, thì ở miền Nam Lê Văn Khôi nổi lên và chiếm giữ thành Gia Định. Theo Việt Nam sử lược, Lê Văn Khôi vốn là người Bắc, có họ hàng bà con ở mạn Tuyên Quang, Cao Bằng, bởi vậy Minh Mạng sai tìm bắt họ hàng của Khôi đem về Kinh xử tội. Bấy giờ, ở Tuyên Quang có anh vợ Lê Văn Khôi Khôi là Tri châu Bảo Lạc Nông Văn Vân, bị quan quân bắt bớ, bèn nổi lên xưng "Tiết Chế Thượng Tướng Quân". Nông Văn Vân bắt viên tỉnh phái thích chữ vào mặt rằng "Quan tỉnh hay ăn tiền của dân", rồi đuổi về[17].

Cuộc nổi loạn diễn ra từ ngày 2 tháng 7 năm 1833. Nông Văn Vân lập căn cứ ở Bảo Lạc, được nhiều tù trưởng và người dân tộc trong vùng hưởng ứng. Quân nổi loạn nhanh chóng mở rộng hoạt động ra các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên và chiếm các tỉnh thành. Hay tin, Minh Mạng cử Tổng đốc Nghệ Tĩnh là Tạ Quang Cự làm Tổng đốc đại thần, cùng với Lê Văn Đức, Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ thống lĩnh hàng chục vạn quân, hàng trăm voi chiến, ngựa chiến đàn áp. Cuối năm 1834, hoạt động của quân nổi loạn bị thu hẹp dần.

Ngày 11 tháng 3 năm 1835, Phạm Văn Điển cho quân phóng hoả đốt rừng Thẩm Bát, nơi Nông Văn Vân và quân nổi loạn ẩn náu. Theo Việt Nam sử lược, Nông Văn Vân chết cháy và đầu bị quân triều đình chém lấy rồi đem về kinh báo tin thắng trận[17].

Tại Nam Hà[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi (1833 - 1835) là một cuộc nổi dậy xảy ra vào thời vua Minh Mạng ở các tỉnh miền Nam Đại Nam.[18] Năm 1833, Lê Văn Khôi (vốn là con nuôi của Tả quân Lê Văn Duyệt) chiếm thành Phiên An và toàn bộ 6 tỉnh miền Nam,[19] giết tổng đốc Nguyễn Văn Quế và bố chính Bạch Xuân Nguyên rồi xưng làm "Bình Nam Đại Nguyên Soái".[20] Trong dịp này Lê Văn Khôi lấy danh nghĩa tôn phù một người con của Hoàng tử Cảnh (m. 1801) là An Hòa.[19] Bấy giờ, An Hòa đang ở Huế.[21]

Hay tin, vua Minh Mạng cho giết ngay chị dâu và các cháu để Lê Văn Khôi hết đường lợi dụng.[22][23]

Triều đình cử các tướng Tống Phúc Lương, Nguyễn Xuân, Phan Văn Thúy, Trương Minh GiảngTrần Văn Năng đem thuỷ bộ binh tượng vào đánh quân nổi dậy. Tháng 8 năm 1833, quân triều đình bắt đầu phản công và lấy lại các tỉnh Nam Bộ.[24] Một viên tướng của Lê Văn Khôi là Thái Công Triều đầu hàng triều đình. Quân nổi dậy thất thế, phải cầu cứu Xiêm La.

Năm 1834, quân triều đình đánh tan quân Xiêm, chiếm lại toàn bộ các tỉnh miền Nam và vây quân nổi dậy tại thành Bát Quái. Lê Văn Khôi bị cô lập, lâm bệnh rồi mất tại thành Phiên An. Con trai Lê Văn Khôi là Lê Văn Cù mới 8 tuổi[25] được cử lên thay. Tháng 9 năm 1835, quân triều đình hạ thành Phiên An.[26] Trong 6 người "chủ mưu" bị bắt giải về Kinh, có giáo sĩ người Pháp tên Joseph Marchand (Cố Du), một người khách tên Mạch Tấn Giai và Lê Văn Cù, con Lê Văn Khôi.[26]

Theo ông J. Silvestre, đến Huế thì giáo sĩ Joseph Marchand và năm người kia phải tội lăng trì. Điều này khiến cho Minh Mạng ngày cấm đạo Cơ Đốc một cách dữ dội hơn.[26]

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Với Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như vua cha, Minh Mạng chủ trương tiếp tục triều cồng và giữ quan hệ ngoại giao hữu hảo với nhà Thanh. Khi lên ngôi, ông đã nhận sự phong vương của vua nhà Thanh. Tuy nhiên, các vua Việt Nam thời nhà Nguyễn duy trì đường lối đối nội tự chủ. Theo nhận xét của giáo sư Yu Insun, các vua nhà Nguyễn chỉ xưng thần với nhà Thanh một cách hình thức, còn thực chất họ cho rằng họ bình đẳng với nhà Thanh.[27] Các phái đoàn đi cống của Việt Nam ngoài việc đưa đồ tiến cống còn thực hiện việc trao đổi mua bán sản phẩm không có trong nước, vì Trung Quốc không cho phép thương nhân Việt Nam sang Trung Quốc, còn Việt Nam duy trì lệnh cấm dân chúng xuất cảnh để ngăn chặn việc xuất lậu vật phẩm sang Trung Quốc như gạo, muối, vàng bạc, đồng, sừng trâu, ngà voi, v.v...

Việc duy trì quan hệ triều cống chỉ có ý nghĩa tượng trưng, vì đến cuối đời Minh Mạng, cứ bốn năm một lần nhà Nguyễn mới phải cử sứ sang cống, đồng thời nhà Thanh cắt giảm yêu cầu vật phẩm triều cống cho triều Tây Sơn và nhà Nguyễn chỉ còn phân nửa so với nhà Lê, nên giá trị vật chất không đáng kể.[28] Tuy nhiên các đoàn đi sứ đều được lệnh ghi chép cẩn thận tình hình bên Trung Quốc để báo cáo lại cho nhà vua. Các sứ thần không hoàn thành nhiệm vụ này đều bị trách phạt. Đây có lẽ là một phần lý do khiến vua Minh Mạng có thể nhận định đúng việc nhà Thanh ngày càng suy yếu, và dự đoán chính xác nhà Thanh sẽ thất bại trong cuộc xung đột với nước Anh một khi cuộc chiến tranh Nha phiến nổ ra[29].

Với Xiêm La[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Minh Mạng, giữa Xiêm La (Thái Lan, do nhà Chakri trị vì) với Đại Nam thường xảy ra chiến tranh. Năm 1827, quân Xiêm xâm lược Vạn Tượng, vua xứ này là A Nộ (Anouvong) chống không nổi, phải cầu cứu triều đình Đại Nam. Minh Mạng sai thống chế Phan Văn Thúy mang viện quân sang giúp nhưng bị quân Xiêm đánh bại. Năm 1828, Phan Văn Thúy và Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Khoa Hào tiếp tục đem 3.000 quân và 24 voi chiến đưa A Nộ về Trấn Ninh, rồi tiến vào Vạn Tượng (Vientiane) nhưng đạo quân Nhà Nguyễn – A Nộ lại bị quân Xiêm đập tan. Chán nản, vua Minh Mạng hạ lệnh bãi bỏ và chỉ phòng vệ ở vùng biên giới. A Nộ sau đó chạy về Trấn Ninh và bị bắt nộp cho quân Xiêm.[30]

Quân Xiêm được đà đánh dấn vào các miền phụ cận Quảng Trị. Thống chế Phạm Văn Điển cùng Tham tán Quân vụ Lê Đăng Doanh cùng với các đạo quân Nguyễn ở Lào phải đi ngăn quân Xiêm, đằng khác gửi thư trách cứ họ. Xiêm La trả lời khiêm nhượng rồi rút quân. Tuy vậy, họ vẫn ngấm ngầm giúp Chân Lạp nổi lên chống triều đình Nguyễn hoặc lấn lướt Vạn Tượng và các xứ quy phục triều đình.

Năm 1833, theo lời kêu gọi của Lê Văn Khôi, Xiêm La mang quân vào nội địa Nam Hà và Chân Lạp, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh bại năm 1834.

Với Ai Lao[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Minh Mạng, lãnh thổ Đại Nam rộng lớn hơn cả.[31] Nhiều vùng ở Ai Lao đã xin thuộc quyền bảo hộ của Đại Nam. Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị đều được sáp nhập và trở thành các châu, phủ của Đại Nam.[31]

Với Chân Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi phá được quân Xiêm, Trương Minh Giảng cùng Tham tán Lê Đại Cương lập đồn Đại Nam gần Nam Vang (tức Phnôm Pênh) để bảo hộ Chân Lạp (Campuchia).

Cuối năm Giáp Ngọ (1834), vua Nặc Ông Chân của Chân Lạp qua đời mà không có con trai nối dõi, nên quyền bính chuyển sang cho Trà Long và Lê Kiên - hai người Chân Lạp làm quan cho Việt Nam. Đến năm Ất Mùi (1835), Trương Minh Giảng lập con gái Nặc Ông Chân là công chúa Angmey tức Ngọc Vân công chúa lên làm quận chúa. Trương Minh Giảng đổi Chân Lạp thành Trấn Tây thành, rồi chia làm 32 phủ và 2 huyện, và đặt các chức quan cai quản mọi việc quân sự và dân sự.[31]

Do quan lại người Việt ở Chân Lạp làm nhiều điều ức hiếp, nhũng nhiễu dân Chân Lạp; do nhà Nguyễn bắt Ngọc Vân công chúa đem về Gia Định, đày Trà Long và Lê Kiên ra miền Bắc Đại Nam, dân Chân Lạp oán hận và nổi dậy chống quân Đại Nam ở khắp nơi. Em trai của Nặc Ông Chân là Nặc Ông Độn đã làm loạn với sự giúp đỡ của Xiêm La. Quan quân nhà Nguyễn đánh dẹp không nổi, nên sau khi vua Minh Mạng qua đời, quan quân Đại Nam phải bỏ Trấn Tây thành mà rút về An Giang.[31]

Với phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Minh Mạng không có thiện cảm với người châu Âu cũng như thái độ của người Á Đông trước đó, xem người Âu là bọn man di, là quân xâm lược.

Với những người Pháp đã từng giúp Gia Long trước kia, Minh Mạng tỏ thái độ lạnh nhạt nên khi ông Chaigneau trở lại Đại Nam không được trọng dụng nữa. Nhà vua cho Chaigneau hay rằng không cần phải ký thương ước giữa hai chính phủ, người Đại Nam vẫn đối xử tử tế với người Pháp là đủ, ông chỉ thoả thuận mua bán với người Pháp, nhưng không chấp nhận thành lập quan hệ ngoại giao chính thức với nước Pháp, quốc thư của Pháp xin cho Chaigneau làm Lãnh sự Pháp ở Việt Nam cũng không được Minh Mạng đếm xỉa đến.

Thời bấy giờ, Đại Nam là nước Á Đông đầu tiên mà Hoa Kỳ muốn thiết lập quan hệ ngoâi giao. Các năm 1832 và 1836, Tổng thống Hoa Kỳ Andrew Jackson đã gửi đại sứ Edmund Robert sang đàm phán với Minh Mạng về quan hệ mậu dịch song phương cả 2 nước nhưng đều không thành công. Chính sách thụ động này đã kìm hãm sự phát triển của Đại Nam.

Việc cấm đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh hành hình giáo sĩ Pierre Borie năm 1838

Minh Mạng cũng không thích đạo Công giáo (lúc này gọi là Đạo Gia-tô) của châu Âu. Từ khi lên ngôi, ông đã có ý không cho người ngoại quốc vào giảng đạo ở trong nước. Đến năm Ất Dậu (1825), khi chiếc tàu Thetís vào cửa Đà Nẵng, có giáo sĩ tên Rogerot ở lại đi giảng đạo khắp nơi, Minh Mạng khi ấy mới ra dụ cấm đạo, và truyền cho quan quân phải khám xét các tàu thuyền của ngoại quốc ra vào cửa bể. Trong dụ nói rằng:

Đạo phương Tây là tà đạo, làm mê hoặc lòng người và huỷ hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo.

—Minh Mạng

Ông còn sai tìm nhiều giáo sĩ ở trong nước đem về kinh đô Huế để dịch sách Tây ra tiếng Việt, nhằm mục đích ngăn các giáo sĩ giảng đạo ở chốn hương thôn.[26]

Theo Việt Nam sử lược, lúc bấy giờ không phải một mình nhà vua ghét đạo Công giáo mà thôi, phần nhiều các quan cũng đều một ý cả, cho nên sự cấm đạo ngày càng khắc nghiệt thêm. Nhưng mà dẫu cấm thế nào đi nữa, trong nước vẫn có người đi giảng đạo, Minh Mạng lại ra dụ lần nữa truyền cho tín đồ Công giáo phải bỏ đạo, và ai bắt được giáo sĩ đem nộp thì sẽ được thưởng. Năm ấy ở kinh đô có môt giáo sĩ phải tội giảo, và ở các địa phương cũng rối loạn vì sự bắt và giết giáo sĩ.

Từ năm 1822, trong Nam ngoài Bắc có rất nhiều cuộc nổi dậy, nhà vua cho là dân đạo theo giúp các đạo quân nổi dậy, sự cấm đạo lại càng khắc nghiệt hơn. Từ năm Giáp Ngọ (1834) đến năm Mậu Tuất (1838), có nhiều giáo sĩ và giáo dân bị giết, nhất là từ khi bắt được Joseph Marchand (Cố Du), một giáo sĩ tham gia vào cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi. Các giáo sĩ phương Tây đã so sánh Minh Mạng với Nero - một hoàng đế La Mã đã bách hại hàng loạt các tín đồ theo đạo.[32][33] Tuy nhiên, các giáo sĩ phương Tây vẫn liều chết để truyền đạo cho được, có người còn phải đào hầm ở dưới đất hàng mấy tháng để truyền đạo.[26]

Theo Việt Nam sử lược, từ năm 1838, vua Minh Mạng cảm thấy không thể nào cấm được các giáo sĩ truyền đạo Công giáo trong nước, ông bèn sai sứ sang Pháp để điều đình với triều đình Pháp về việc này. Song khi sứ thần Đại Nam tới nơi, Hội Thừa sai Paris xin vua Louis Philippe I đừng tiếp. Sứ Đại Nam phải trở về, khi về đến Huế thì Minh Mạng đã qua đời.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1841, Minh Mạng lâm bệnh nặng.[2] Lúc lâm chung, ông gọi quan đại thần Trương Đăng Quế[34] đến bên giường dụ rằng:

Hoàng tử Trường Khánh công lấy về ngôi thứ là hàng trưởng, lấy về đức, về tuổi nên nối ngôi lớn. Ngươi nên hết lòng giúp sức rập, hễ việc gì chưa hợp lẽ, ngươi nên lấy lời nói của ta mà can gián. Ngươi trông mặt ta, nên ghi nhớ lấy.

—Minh Mạng

Sau đó, ông cầm tay con trưởng là Trường Khánh Công Nguyễn Phúc Miên Tông trối trăng:

Trương Đăng Quế thờ ta đến 21 năm, trọn đạo làm tôi, một lòng công trung, bày mưu dưới trướng, ra sức giúp việc ngoài biên, thực là một người công thần kỳ cựu của triều đình. Ngươi nên đãi ngộ một cách ưu hậu, hễ nói thì phải nghe, bày mưu kế gì thì phải theo, ngày sau có thể được thờ vào nhà thế thất.

—Minh Mạng[35]

Nói rồi, vua Minh Mạng qua đời ngày 28 tháng 12 năm Canh Tý, tức ngày 20 tháng 1 năm 1841 tại điện Quang Minh,[1] hưởng thọ 50 tuổi, ở ngôi 21 năm, miếu hiệuThánh Tổ (聖祖).

Thụy hiệu do vua Thiệu Trị đặt cho ông là Thể Thiên Xương Vận Chí Hiếu Thuần Đức Văn Vũ Minh Đoạn Sang Thuật Đại Thành Hậu Trạch Phong Công Nhân Hoàng đế (體天昌運至孝淳德文武明斷創述大成厚宅豐功仁皇帝), gọi tắt là Nhân Hoàng đế (仁皇帝).[1]. Lăng của ông là Hiếu Lăng, tại làng An Bằng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Ông được thờ ở Tả Nhất Án Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng)

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đời sống riêng tư, người ta cũng phải ngạc nhiên về sức cường tráng của ông. Không có tài liệu cho biết chân dung và thể lực của ông như thế nào, chỉ biết ông có nhiều vợ và rất đông các phi tần. Có một bài thuốc bổ dương mang tên Minh Mạng thang được quan Thái y căn cứ vào thể chất và sinh hoạt của ông để lập ra thang thuốc rượu.

Ông không đặt hoàng hậu, mà chỉ cao nhất là Hoàng quý phi. Tá Thiên Nhân hoàng hậu (tước vị được phong sau khi mất) húy Hồ Thị Hoa, còn có tên là Thật,[1] sinh 1791. Bà qua đời năm 1807, 13 ngày[1] sau khi sinh hạ Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Miên Tông (tức vua Thiệu Trị sau này). Lăng của bà hiệu là Hiếu Đông Lăng, phía tả lăng Thiệu Trị, tại làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

Sách Minh Mạng chính yếu chép: Năm Minh Mạng thứ sáu, mùa Xuân, tháng giêng, trong Kinh Kỳ ít mưa, nhà vua lấy làm lo, chỉ dụ cho quan Thượng Bảo Khanh là ông Hoàng Quỳnh rằng:

Hai ba năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp. Trẫm nghĩ tự đâu đến thế nhưng chưa tìm ra nguyên nhân, hoặc là trong thâm cung cung nữ nhiều âm khi uất tắc mà nên như vậy ư? Nay bớt đi, cho ra 100 người, ngõ hầu có thể giải trừ thiên tai vậy.

Ngoài bà Hồ Thị Hoa, các bà vợ được biết của ông [36]:

  1. Tuệ Khiết Hiền phi Ngô Thị Chính (慧潔賢妃吳氏正; 1792 - 1843), người huyện Đăng Xương, Quảng Trị, là con của Chưởng Cơ Ngô Văn Sở, mẹ họ Nguyễn. Năm 1820 được phong làm Hiền tần, rồi dần được tấn phong Hiền phi. Khi mất, mộ ở làng Châu Chử (Hương Thủy, Thừa Thiên). Bà là phi tử được sủng ái nhất của vua Minh Mạng. Bà sinh được 5 hoàng tử và 4 công chúa.
  2. Đoan Lệ Gia phi Phạm Thị Tuyết (端麗嘉妃范氏雪; ? - 1812), người Tuy Viễn, Bình Định; con gái của ông Phạm Văn Chẩn , được truy phong Quang Lộc Tự Thiếu Khanh. Năm 1821 được tặng làm Tu nghi, ban đầu thờ ở Hồ Phạm Nhị Tần từ, sau dời thờ riêng ở Gia Phi từ. Bà sinh được một hoàng tử là Nguyễn Phúc Miên Định.
  3. Uyển Thục Trang tần Trần Thị Tuyến (婉淑莊嬪陳氏綫; 16 tháng 12, 1791 - 4 tháng 1, 1852), người Phú Lộc, Thừa Thiên; con gái của Trần Công Nghị, được truy tặng Vệ úy. Bà vào hầu vua năm Kỷ tỵ (1809) lúc vua còn nơi tiềm để.
  4. Đoan Liệt Thục tần Nguyễn Thị Bảo (端烈淑嬪阮氏宝 ; 7 tháng 9, 1801 - 12 tháng 9, 1851), người Bình Chương, Gia Định, con quan tư không Nguyễn Khắc Thiệu. Năm 1814, bà được vào hầu Minh Mạng khi ngài còn ở tiềm để. Sau bà được tấn phong là Thục tần. Bà sinh được 4 hoàng tử và 3 công chúa. Nguyên lúc trước bà được phong Thục tần nhưng phạm lỗi nên bị thu lại sách phong, khi bà mất con trai bà là Tùng Thiện Vương dâng sớ cầu khẩn xin lại, lời lẽ trong sớ hết sức thống thiết nên vua Tự Đức động lòng đặc ân cấp lại.
  5. Uyển Thuận Huệ tần Trần Thị Huân (婉顺惠嬪陳氏薰), người Diên Khánh, Quảng Nam, con gái của ông Trần Văn Hùng (được truy tặng Vệ Úy). Năm sinh và mất của bà không rõ. Bà sinh được 6 Hoàng tử và 9 Công chúa.
  6. Hoa Diễm An tần Hồ Thị Tùy (华琰安嬪胡氏绥; 1795 - 23 tháng 11, 1839), người tổn Bái Ân, (Triệu Phong, Quảng Trị); con gái của ông Hồ Văn Chiêm, được truy tặng Cẩm Y vệ Hiệu úy, mẹ bà họ Lâm. Năm 1810, bà được vào hầu Minh Mạng nơi tiềm để. Khi ông lên nối ngôi vào năm 1820, bà được phong Tài nhân, rồi năm 1824 phong Mỹ nhân, năm 1829 phong Tiệp dư và năm 1836 phong An tần. Bà được nhà vua sắc phong cho lập từ đường để thờ gọi là Ý Thục từ. Đến năm 1870 bà được rước về thờ tại nhà thờ của Tương An Quận vương con trưởng của bà. Tẩm bà ở làng Cư Chính, (Hương Thủy, Thừa Thiên). Bà sinh được 3 Hoàng Tử và 1 Công Chúa.
  7. Tĩnh Nhã Hòa tần Nguyễn Thị Khuê (静若和嬪 阮氏珪), người Phúc Lộc, Gia Định, là con gái của Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn thủ thỉnh Quảng Yên.
  8. Thục Tắc Lệ tần Nguyễn Thị Thúy Trúc (淑則麗嬪阮氏翠竹), người Bình Sơn, Quảng Nghĩa, con gái của Phó Vệ úy Nguyễn Gia Quý.
  9. Tịnh Nhu Tiệp dư Lê Thị Ái (靖柔婕妤 黎氏爱 ; 17 tháng 11, 1799 - 8 tháng 10, 1863), người An Triền (Phong Điền, Thừa Thiên) là con gái thứ ba của Cẩm Y Hiệu úy Trần Tiến Thành. Năm 1813, bà được truyền vào hầu Minh Mạng nơi tiềm để, sung vào hàng cung nhân. Năm 1820, được phong là Tài Nhân, năm 1824 phong Mỹ nhân, năm 1836 sách phong Tiệp dư. Bà vốn người chí hiếu, tư chất trung hậu. Vua Tự Đức từng khen: "Lê tiệp dư tiên triều tư chất trung hậu, mọi việc trong cung cư xử hợi lệ". Khi mất, táng tại Dương Xuân Thượng (Hương Thủy, Thừa Thiên). Bà sinh được 3 Hoàng Tử và 2 Công Chúa.
  10. Dao Thụ Tiệp dư Nguyễn Thị Viên (瑤受婕妤阮氏媛), người Phong Điền, Thừa Thiên; là con gái của Thiếu bảo Quận công Nguyễn Văn Khiêm. Năm sinh và mất không rõ. Bà sinh được 2 Hoàng Tử và 3 Công Chúa.
  11. Đoan Tịnh Tiệp dư Nguyễn Thị Trường (端静婕妤阮氏觴), người Phong Điền, Thừa Thiên; là con gái của Cẩm Y Vệ Hiệu úy Nguyễn Hữu Trạc.
  12. Trang Thuận Quý nhân Lương Thị Nguyện (莊顺貴人 梁氏原; 18 tháng 10, 1800 - 9 tháng 12, 1871), người Phù Mỹ, Bình Định, con gái của ông Lương Đình Súy. Bà sinh được 1 Hoàng Tử và 2 Công Chúa.
  13. Quý nhân Cái Thị Trinh (貴人蓋氏貞), người Hải Lăng, Quảng Trị, bà là con gái của ông Cái Văn Hợp. Bà sinh được 1 Hoàng Tử là Nguyễn Phúc Miên Túc và 2 Công Chúa là Nguyễn Phúc Hòa Thục và Nguyễn Phúc Vĩnh Gia.
  14. Quý nhân Đỗ Thị Tùng (貴人杜氏松).
  15. Quý nhân Đỗ Thị Tâm (貴人 杜氏沁; 27 tháng 9, 1804 - 12 tháng 4, 1863), em gái Quý nhân Đỗ Thị Tùng.
  16. Quý nhân Lê Thị Lộc (貴人黎氏祿).
  17. Mỹ nhân Nguyễn Thị Bân (美人阮氏彬).
  18. Mỹ nhân Đoàn Thị Thụy (美人段氏瑞).
  19. Tài nhân Đinh Thị Nghĩa (才人丁氏義).
  20. Tài nhân Trần Thị Tiền (才人陳氏錢).
  21. Tài nhân Nguyễn Thị Tính (才人阮氏性).
  22. Tài nhân Đỗ Thị Cương (才人杜氏剛), em gái Quý nhân Đỗ Thị Tùng và Đỗ Thị Tâm.
  23. Tài nhân Trần Thị Thanh (才人陳氏青).
  24. Tài nhân Trần Thị Trúc (才人陳氏竹).
  25. Tài nhân Bùi Thị Sơn (才人 裴氏山).
  26. Cung nhân Đặng Thị Yểu Điệu (宮人 鄧氏窈妙).
  27. Cung nhân Trần Thị Nhã (宮人 陳氏雅).
  28. Cung nhân Phan Thị Viện (宮人 潘氏媛).
  29. Cung nhân Cao Thị Diệu (宮人 高氏妙).
  30. Cung nhân Lý Thị Cầm (宮人 李氏琴).

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Mạng đã có tới 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa.[1]

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Phúc Miên Tông
  2. Nguyễn Phúc Miên Chính
  3. Nguyễn Phúc Miên Định
  4. Nguyễn Phúc Miên Nghi, Ninh Thuận Quận Vương, sinh 30 tháng 12,năm 1810; mất 12 tháng 8 năm 1874.đã có tới 74 người con, gồm 34 con trai và 40 con gái.
  5. Nguyễn Phúc Miên Hoành sinh 13 tháng 7,năm 1811; mất 23 tháng 12 năm 1835.đã có tơi 11 con trai.
  6. Nguyễn Phúc Miên Áo
  7. Nguyễn Phúc Miên Thần
  8. Nguyễn Phúc Miên Phú
  9. Nguyễn Phúc Miên Thủ
  10. Nguyễn Phúc Miên Thẩm
  11. Nguyễn Phúc Miên Trinh
  12. Nguyễn Phúc Miên Bửu
  13. Nguyễn Phúc Miên Trữ
  14. Nguyễn Phúc Miên Hưu
  15. Nguyễn Phúc Miên Hựu
  16. Nguyễn Phúc Miên Vũ
  17. Nguyễn Phúc Miên Tống
  18. Nguyễn Phúc Miên Thành
  19. Nguyễn Phúc Miên Tề
  20. Tảo thương [37]
  21. Nguyễn Phúc Miên Nghi
  22. Nguyễn Phúc Miên Long
  23. Nguyễn Phúc Miên Tích
  24. Tảo thương
  25. Tảo thương
  26. Nguyễn Phúc Miên Cung
  27. Nguyễn Phúc Miên Phong
  28. Nguyễn Phúc Miên Trạch
  29. Nguyễn Phúc Miên Liêu
  30. Nguyễn Phúc Miên Mật
  31. Nguyễn Phúc Miên Lương
  32. Nguyễn Phúc Miên Gia
  33. Nguyễn Phúc Miên Khoan
  34. Nguyễn Phúc Miên Hoan
  35. Nguyễn Phúc Miên Túc
  36. Nguyễn Phúc Miên Quang
  37. Nguyễn Phúc Miên Tuấn
  38. Tảo thương
  39. Tảo thương
  40. Nguyễn Phúc Miên Quân
  41. Nguyễn Phúc Miên Kháp
  42. Nguyễn Phúc Miên Thăng
  43. Nguyễn Phúc Miên Tịnh
  44. Nguyễn Phúc Miên Thể
  45. Nguyễn Phúc Miên Dần
  46. Tảo thương
  47. Nguyễn Phúc Miên Cư
  48. Nguyễn Phúc Miên Ngôn
  49. Nguyễn Phúc Miên Sạ
  50. Tảo thương
  51. Nguyễn Phúc Miên Thanh
  52. Nguyễn Phúc Miên Tỉnh
  53. Nguyễn Phúc Miên Sủng
  54. Nguyễn Phúc Miên Ngô
  55. Nguyễn Phúc Miên Kiều
  56. Nguyễn Phúc Miên Miêu
  57. Nguyễn Phúc Miên Lâm
  58. Nguyễn Phúc Miên Tiệp
  59. Nguyễn Phúc Miên Quãng
  60. Nguyễn Phúc Miên Uyển
  61. Nguyễn Phúc Miên Ôn
  62. Nguyễn Phúc Miên Tru
  63. Nguyễn Phúc Miên Khê
  64. Nguyễn Phúc Miên Ngữ
  65. Nguyễn Phúc Miên Tả
  66. Nguyễn Phúc Miên Thiện
  67. Nguyễn Phúc Miên Thất
  68. Nguyễn Phúc Miên Bảo
  69. Nguyễn Phúc Miên Khách
  70. Nguyễn Phúc Miên Thích
  71. Nguyễn Phúc Miên Điều
  72. Nguyễn Phúc Miên Hoang
  73. Nguyễn Phúc Miên Chí
  74. Nguyễn Phúc Miên Thân
  75. Nguyễn Phúc Miên Ký
  76. Nguyễn Phúc Miên Bàng
  77. Nguyễn Phúc Miên Sách
  78. Nguyễn Phúc Miên Lịch

Công chúa[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Phúc Ngọc Tông
  2. Nguyễn Phúc Khuê Gia
  3. Nguyễn Phúc Uyển Diễm
  4. Nguyễn Phúc Lương Đức
  5. Nguyễn Phúc Quang Tĩnh
  6. Nguyễn Phúc Hoà Đức
  7. Nguyễn Phúc Trình Đức
  8. Nguyễn Phúc Nhu Thuận
  9. Nguyễn Phúc Nhu Thục
  10. Nguyễn Phúc Đoan Thuận
  11. Nguyễn Phúc Đoan Trinh
  12. Nguyễn Phúc Vĩnh Gia
  13. Nguyễn Phúc Đoan Thận
  14. Nguyễn Phúc Nhàn Thận
  15. Nguyễn Phúc Gia Trinh
  16. Nguyễn Phúc Gia Tiết
  17. Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ
  18. Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh
  19. Tảo thương
  20. Nguyễn Phúc Thục Thận
  21. Nguyễn Phúc Thục Tĩnh
  22. Nguyễn Phúc Trang Tĩnh
  23. Nguyễn Phúc Trang Nhàn
  24. Nguyễn Phúc Gia Thuỵ
  25. Nguyễn Phúc Trinh Thận
  26. Nguyễn Phúc Trinh Nhàn
  27. Nguyễn Phúc Tường Hoà
  28. Nguyễn Phúc Tường Tĩnh
  29. Nguyễn Phúc Nhàn Thục
  30. Nguyễn Phúc Nhàn Trinh
  31. Nguyễn Phúc Thuỵ Thận
  32. Nguyễn Phúc Thuỵ Thục
  33. Tảo thương
  34. Nguyễn Phúc Tĩnh Hoà
  35. Tảo thương
  36. Nguyễn Phúc Lương Trinh
  37. Nguyễn Phúc Gia Trang
  38. Nguyễn Phúc Gia Tĩnh
  39. Nguyễn Phúc Thục Tuệ
  40. Nguyễn Phúc Nhàn Tĩnh
  41. Nguyễn Phúc Nhàn An
  42. Nguyễn Phúc Tĩnh An
  43. Nguyễn Phúc Thục Tư
  44. Nguyễn Phúc Nhu Nghi
  45. Tảo thương
  46. Nguyễn Phúc Phương Trinh
  47. Nguyễn Phúc Hoà Thận
  48. Nguyễn Phúc Hoà Nhàn
  49. Nguyễn Phúc Nhan Huệ
  50. Nguyễn Phúc An Nhàn
  51. Nguyễn Phúc Nhu Hoà
  52. Nguyễn Phúc Hoà Trinh
  53. Nguyễn Phúc Lương Nhàn
  54. Nguyễn Phúc Trinh Hoà
  55. Nguyễn Phúc Lương Tĩnh
  56. Nguyễn Phúc Trinh Tĩnh
  57. Tảo thương
  58. Nguyễn Phúc Nhu Tĩnh
  59. Nguyễn Phúc Tĩnh Trang
  60. Nguyễn Phúc Trinh Nhu
  61. Nguyễn Phúc Trinh Thuỵ
  62. Nguyễn Phúc Trang Tường
  63. Nguyễn Phúc Phúc Tường

Minh Mạng thường dặn các con rằng:

Phàm con nhà giàu sang ăn ngon mặc đẹp không quen vất vả thì đến lúc làm việc làm chẳng nổi. Trẫm từ ngày lên ngôi coi chầu xét việc đến khi xế bóng mới nghỉ, dầu ở cung cũng xem xét các sớ chương ở các nơi gởi về. Trẫm nghĩ có siêng năng thì việc mới thành nên chẳng dám nhàn rỗi. Các con còn trẻ có sức mạnh nên tập làm việc chớ ham chơi bời, biếng nhác.

[1]

Đế hệ thi và Phiên hệ thi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đế hệ thi

Năm 1823, Minh Mạng đã làm bài Đế hệ thi và 10 bài Phiên hệ thi để quy định các chữ lót đặt tên cho con cháu các thế hệ sau. Bài Đế Hệ Thi gồm 20 chữ, dùng làm chữ lót tên cho mỗi thế hệ từ vua Minh Mạng trở về sau.

MIÊN HƯỜNG ƯNG BỬU VĨNH
BẢO QUÝ ĐỊNH LONG TRƯỜNG
HIỀN NĂNG KHAM KẾ THUẬT
THẾ THOẠI QUỐC GIA XƯƠNG

Ghi Chú: HƯỜNG - kỵ húy HỒNG. THOẠI - kỵ húy THỤY

Vua Minh Mạng cũng ban cho dòng họ của các con vua Gia Long 10 bài phiên hệ thi[38]

Chữ lót của mỗi đời dùng một chữ trong bài thơ, nhưng tên ở mỗi đời thì phải dùng một bộ trong ngũ hành theo thứ tự: thổ, kim, thủy, mộc, hỏa và trở lại, vì thế tên của tất cả đời thứ nhất dùng bộ thổ.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Quang, Đặng Việt Thuỷ và Đặng Thành Trung, Minh Mạng là người được Gia Long lựa chọn truyền ngôi, không chỉ vì năng lực mà còn vì hy vọng gửi gắm vào ông thực hiện chính sách thoát khỏi ảnh hưởng và âm mưu áp chế của người Pháp[39][40], bởi khi còn sống, Gia Long đã chịu ơn người Pháp và không thể ra mặt giải quyết những mâu thuẫn giữa nhằm thoát khỏi ảnh hưởng đó.[41]

Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim nhận định về Minh Mạng như sau:[42]

Trong đời vua Thánh Tổ làm vua, pháp luật, chế độ, điều gì cũng sửa sang lại cả, làm thành một nước có cương kỷ. Nhưng chỉ vì ngài nghiêm khắc quá, cứ một mực theo cổ, chứ không tùy thời mà biến hóa phong tục; lại không biết khoan dung cho sự sùng tín, đem giết hại những người theo đạo, và lại tuyệt giao với ngoại quốc làm thành ra nước Nam ta ở lẻ loi một mình.

Đã hay rằng những điều lầm lỗi ấy là trách nhiệm chung cả triều đình và cả bọn sĩ phu nước ta lúc bấy giờ, chứ không riêng chi một mình ngài, nhưng ngài là ông vua chuyên chế một nước, việc trong nước hay dỡ thế nào, ngài cũng có một phần trách nhiệm rất to, không sao chối từ được. Vậy cứ bình tình mà xét, thì chính trị của ngài tuy có nhiều điều hay, nhưng cũng có nhiều điều dở; ngài biết cương mà không biết nhu, ngài có uy quyền mà ít độ lượng, ngài biết có dân có nước mà không biết thời thế tiến hóa. Bởi vậy cho nên nói rằng ngài là một ông anh quân thì khí quá, mà nói rằng ngài là ông bạo quân thì không công bằng. Dẫu thế nào mặc lòng, ngài là một ông vua thông minh, có quả cảm, hết lòng lo việc nước, tưởng về bản triều nhà Nguyễn chưa có ông vua nào làm được nhiều công việc hơn ngài vậy.

Theo Giáo sư Phan Huy Lê: Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, cải cách của vua Lê Thánh Tông năm 1471 và cải cách của vua Minh Mạng năm 1831 – 1832 là hai cải cách hành chính có qui mô toàn quốc và đạt hiệu quả cao nhất.[43]

Tuy nhiên, đánh giá về việc cải cách chính quyền của Minh Mạng, nhà sử học Văn Tạo cho rằng: cũng giống như vua cha Nguyễn Ánh, Minh Mạng đi theo con đường Nho giáo của trường phái Tống Nho (đạo Nho thời Tống) mà nhà Lê trung hưng áp dụng - chứ không theo trường phái Minh Nho (đạo Nho thời Minh) tiến bộ hơn - mà các chúa Nguyễn trước kia từng áp dụng. Mục tiêu của Gia Long cũng như Minh Mạng chủ yếu nhằm củng cố vương quyền chứ không chăm lo phát triển kinh tế - xã hội theo xu hướng thời đại[44].

Văn Tạo cho rằng:

Minh Mạng muốn trở thành một Lê Thánh Tông trong thời đại mới, nhưng thời đã khác thì sự nghiệp cũng khác. Thời của Lê Thánh Tông cũng sau những cuộc khủng hoảng toàn diện từ cuối thời Trần sang thời Hồ và đã được các vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Nhân Tông bước đầu giải quyết. Mặt khác, thời của Lê Thánh Tông là lúc chế độ phong kiến Nho giáo ở Việt Nam còn đang có tác dụng tích cực trong xây dựng cơ chế hành chính "pháp trị" thay cho cơ chế "nhân trị" theo Phật giáo hình thành từ thời Lý Trần. Còn thời của Minh Mạng là lúc chủ nghĩa tư bản phương Tây đã phát triển, tìm đường bành trướng sang phương Đông.

Xã hội Nho giáo phong kiến gốc rễ là của Trung Quốc, nhưng tới nhà Thanh đã đi vào bế tắc, trì trệ và suy yếu, phải nhượng bộ trước sự xâm phạm và cướp bóc của phương Tây. Việt Nam cũng không thoát khỏi tình trạng đó. Nhà Thanh kỳ thị Minh Nho (vì nhà Minh là kẻ thù), quay lại áp dụng Tống Nho; nhà Nguyễn phỏng theo đó áp dụng, cho nên hoài bão trở thành "Lê Thánh Tông mới" của Minh Mạng chẳng những không đúng mà còn không được

[45].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư Gia tộc Nguyễn Phước 2006
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Báo Bình Dương - Minh Mệnh: Vị vua năng động và quyết đoán
  3. ^ Theo Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược quyển 2 (Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr. 152), Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr. 269); Võ Văn Tường, Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam (Nxb VH-TT, Hà Nội, 1994, tr. 383) và Vương Hồng Sển trong Sài Gòn năm xưa cũng đã cho biết theo dật sử thì Hoàng tử Đảm đã sinh ra nơi hậu liêu chùa Khải Tường vào năm Tân Hợi (1791) giữa cơn tị nạn binh Tây Sơn.[1]
  4. ^ Nguyễn Thế Anh - Kinh tế & Xã hội VN dưới các vua triều Nguyễn NXB Văn học tr.47
  5. ^ Nhiều tác giả, Những vấn đế lịch sử triều Nguyễn, tr. 75
  6. ^ a ă Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, tr. 420
  7. ^ Vua Minh Mạng mới là vị Tổ ngành than
  8. ^ Nguyễn Thế Anh - Kinh tế & Xã hội VN dưới các vua triều Nguyễn, NXB Văn học trang 124-125
  9. ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 327
  10. ^ Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phạn Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam - tập 1, NXB Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh 2005, tr. 451.
  11. ^ Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam (7) (06/09/2007 04:56:00)
  12. ^ "Theo Đại Nam liệt truyện chính biên thì khi làm tổng trấn Gia Định Thành, Lê Văn Duyệt uy quyền to lắm mà lòng người cũng kính phục nên vua Minh Mạng tuy trong lòng căm ghét nhưng cũng không dám làm gì".
    Mộ tả quân Lê Văn Duyệt hiện ở đâu?, báo Tuổi Trẻ, 21/05/2006
  13. ^ Nguyên văn chữ Hán: 權奄黎文悅服法處 (Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ)
  14. ^ Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1964, tr.455 - 446
  15. ^ Việt Sử toàn thư, Phạm Văn Sơn, tr. 421
  16. ^ a ă Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 183
  17. ^ a ă Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 184
  18. ^ Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ 19, NXB TP.HCM, 2002, tr. 229 - 256
  19. ^ a ă McLeod, tr.30.
  20. ^ Lê Văn Khôi
  21. ^ Việt sử toàn thư, tr 421
  22. ^ Việt sử toàn thư, tr 422
  23. ^ Sử Pháp của C. B Maybon có chép chuyện này.
  24. ^ Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu, bản điện tử của Đại học An Giang, tr. 85.
  25. ^ Nguyễn Q. Thắng (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam) ghi là Lê Văn Câu, Sách Sài Gòn - TP.HCM do Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt chủ biên, ghi là Lê Văn Cù. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược ghi 7 tuổi
  26. ^ a ă â b c Kể chuyện các vua Nguyễn
  27. ^ lịch sử quan hệ Việt Nam-Trung Quốc thế kỷ 19, thực và hư, Yu Isun
  28. ^ Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 207, tr. 41b~42a
  29. ^ Đại Nam thực lục, II, quyển 212, p. 33b
  30. ^ Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, tr. 424
  31. ^ a ă â b Trần Trọng Kim, Việt Nam lược sử, Chương III: Thánh Tổ, tr. 191
  32. ^ Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, tr. 432
  33. ^ Trong số đó có cả Thánh Phêrô, vị Giáo hoàng đầu tiên (bị xử tử năm 64).
  34. ^ Trương Đăng Quế (1793 - 1865) là thầy học của các hoàng tử con vua Minh Mạng.
  35. ^ Đại Nam thực lục, tập 5, trang 889
  36. ^ [2]
  37. ^ Mất khi còn nhỏ, chưa kịp đặt tên
  38. ^ một số hoàng thân mất sớm, không có con nên không được ban
  39. ^ Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn, tr 662
  40. ^ Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung, sách đã dẫn, tr 287-288
  41. ^ Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn, tr 665
  42. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 192
  43. ^ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Chống tham nhũng bắt đầu từ trên
  44. ^ Văn Tạo, sách đã dẫn, tr 222, 249
  45. ^ Văn Tạo, sách đã dẫn, tr 222-223

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007). Đại Nam thực lục chính biên, Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục
  • Nhiều tác giả (2007). Sài Gòn xưa và nay, Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ
  • Nguyễn Đắc Xuân (2004). Kiến Thức Về Triều Nguyễn Huế Xưa, Việt Nam: Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Tôn Thất Bình (2001). 12 danh tướng triều Nguyễn, Việt Nam: Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Tôn Thất Bình (2006). Kể Chuyện Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn, Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ
  • Nguyễn Khắc Thuần (2004). Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam, Tái Bản Lần Thứ 10, Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục
  • Phạm Khắc Hoè (1986). Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn, Việt Nam: Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, bản điện tử
  • Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình sử học Việt Nam, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
  • Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]