Người Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Việt
Vietnamese people.png.
từ trái sang phải: Trẻ em ở miền trung Việt Nam, Nguyễn Huệ, Nguyễn Trãi, Hàm Nghi, Hồ Chí Minh, Ông đồ viết chữ, Thiếu nữ mặc áo dài, Võ Thị Sáu, Võ Nguyên Giáp, Hồ Thị Chỉ, Ngô Bảo Châu.
Tổng số dân
77 triệu
Khu vực có số dân đáng kể
 Việt Nam 73.594.427 (2009)[1]
 Cộng hòa Séc (dân tộc thiểu số)[2] 60.931 (2010)[3]
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ 1.642.950 (2007)[4]
 Campuchia 600.000[5]
 Pháp 250.000[6]
 Đài Loan 200,000 - 400,000 (2014)[7]
 Úc 174.200 (2001)[8]
 Canada 151.410 (2001)[9]
 Lào 100.000
 Malaysia 87.000[10]
Flag of Germany.svg Đức 83.526 (2004)[11]
 Anh Quốc 55.000 - 70.000[12][13]
 Ba Lan 45.000
 Nhật Bản 41.136 (2008)[14]
 Nga 36.225[15]
 Trung Quốc 30.000
 Philippines 27.600
 Thái Lan 19.876
 Na Uy 18.333 (2006)[16]
 Hà Lan 18.000 (2007)
Flag of Finland (bordered).svg Phần Lan 4.000[17]
 Bungary 1.500
Ngôn ngữ
Tiếng Việt
Tôn giáo
Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáoTín ngưỡng dân gian[18][19][20]
Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và các tôn giáo khác.
Dân tộc thiểu số có liên quan

Người Việt hay người Kinh là một dân tộc hình thành tại khu vực địa lý mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Đây là dân tộc chính, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam và được gọi chính thức là dân tộc Kinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường. Người Kinh sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước.[21] Còn nếu tính theo kiều bào ở ngoài nước thì người Việt định cư ở Hoa Kỳ là đông nhất.[4]

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết dân tộc Kinh, những người Việt đầu tiên là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là "cùng bọc" (hay còn gọi là Đồng bào) và "đồng bào" là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc.

Nguồn gốc

Có hai luồng quan điểm về nguồn gốc của người Việt. Một số học giả tin rằng người Việt đầu tiên dần dần chuyển từ quần đảo Indonesia thông qua bán đảo Mã Lai và Thái Lan cho đến khi họ định cư trên các cạnh của sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ[cần dẫn nguồn] bằng cách lần theo con đường của các công cụ đá từ cuối Thế Pleistocen (600,000-12,000 trước Công nguyên), trên Java, Malaysia, Thái Lan và phía bắc Miến Điện. Những công cụ bằng đá được cho là các công cụ con người đầu tiên được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ tin rằng vào thời điểm này Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi ở miền bắc Miến Điện và Trung Quốc, tạo ra một rào cản băng giá mà cô lập người dân Đông Nam Á. Một số khác cho rằng người Việt đầu tiên vốn là một bộ tộc gốc Mông Cổ ở Tây Tạng, di cư xuống phía nam từ thời đồ đá cũ[cần dẫn nguồn]Nhóm dân tộc này định cư tại vùng Bắc Bộ, thượng nguồn sông Hồng ngày nay và tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Nhóm bộ tộc này cung có sự tương đồng rất lớn về nhân chủng, văn hóa với các tộc người ở phía Nam Trung Quốc - mà sử Trung Quốc còn gọi là cộng đồng Bách Việt.

Vào năm 257 TCN An Dương Vương thành lập vương quốc Âu Lạc, tại miền Bắc Việt Nam bây giờ. Vào năm 208 TCN vua nước Nam ViệtTriệu Đà tiến đánh Âu Lạc, tiêu diệt An Dương Vương. Triệu Đà hợp nhất Âu Lạc với các lãnh thổ tại miền cực nam Trung Quốc thành vương quốc Nam Việt.

Phân bố

Bài chi tiết: Nguyễn HoàngNam tiến

Trên thế giới

Vào thế kỷ 16, một số người Việt di cư về phía bắc vào Trung Quốc. Tuy đã bị ảnh hưởng Trung Hoa nhiều hơn, con cháu những người này vẫn còn nói tiếng Việt và được công nhận là một dân tộc thiểu số tại Trung Quốc. (Xem thêm bài Người Kinh (Trung Quốc).

Trong thời Pháp thuộc, một số người Việt làm công nhân đồn điền, khai mỏ tại Tân Đảo[22] (nay là Nouvelle-Calédonie và Vanuatu)... Ngoài ra còn một số cộng đồng người Việt ở Réunion, Haiti... thành lập từ những chí sĩ yêu nước bị đày ải. Tại Xiêm, Trung Quốc, Lào, Cao Miên cũng có khá nhiều người Việt sinh sống. Cũng trong thời kỳ này, một số người Việt yêu nước đã sang Xiêm, Trung Quốc, Liên Xô... thành lập các tổ chức cách mạng nhằm tránh sự bắt bớ của chính quyền thuộc địa tại Việt Nam.

Khi thực dân Pháp rời khỏi Việt Nam vào năm 1954, một số người Việt di cư sang Pháp, gần 900.000 người từ miền Bắc di cư vào miền nam.

Sau Chiến tranh Việt Nam, gần 1 triệu người Việt di tản và vượt biên. Phần lớn những người này tái định cư tại Bắc Mỹ, Tây ÂuÚc. Tại Hoa Kỳ có một cộng đồng người Mỹ gốc Việt khá lớn.

Tại Việt Nam

Tuy gốc từ miền Bắc Việt Nam, người Việt đã Nam tiến và chiếm đất đai của vương quốc Chiêm Thành qua thời gian. Hiện nay họ là dân tộc chính trong phần lớn các tỉnh tại Việt Nam.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Kinh ở Việt Nam có dân số 73.594.427 người, chiếm 85,7% dân số cả nước, cư trú tại tất cả 63 tỉnh, thành phố. Các tỉnh, thành phố có số lượng người Kinh lớn nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh (6.699.124 người), Hà Nội (6.370.244 người), Thanh Hóa (2.801.321 người), Nghệ An (2.489.952 người), Đồng Nai (2.311.315 người), An Giang (2.029.888 người)[1].

Người Kinh là dân tộc đa số tại Việt Nam, tuy nhiên tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, người Kinh lại là dân tộc thiểu số: Lào Cai (212.528 người, chiếm 34,6% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Hòa Bình (207.569 người, chiếm 26,4% dân số toàn tỉnh, người Mường là dân tộc đa số ở Hòa Bình, chiếm 63,9%), Sơn La (189.461 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh, người Thái là dân tộc đa số ở Sơn La), Lạng Sơn (124.433 người, chiếm 17,0% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Hà Giang (95.969 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Điện Biên (90.323 người, chiếm 18,4% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Lai Châu (56.630 người, chiến 15,3 dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Bắc Kạn (39.280 người, chiếm 13,4% dân số toàn tỉnh, người Tày là dân tộc đa số ở tỉnh này), Cao Bằng (29.189 người, chỉ chiếm 5,76% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số).[1]

Đặc điểm kinh tế

Có thể nói nền kinh tế mạnh nhất là nền nông nghiệp lúa nước. Nền văn minh lúa nước đã được khai sinh từ rất ngàn đời xưa và đạt được trình độ nhất định. Nền nông nghiệp phát triển cũng nhờ một phần vào sự đào đê, đào nương. Ngoài nghề nông nghiệp, người Kinh cũng làm một số các nghề khác ví dụ như chăn nuôi gia súc, làm đồ thủ công... Là những nghề đòi hỏi sự khéo léo cao![21]

Món ăn yêu thích

Người Kinh có truyền thống ăn trầu cau, hút thuốc lá, nước vối, nước chè, hút thuốc lào, các loại cơm, cháo, xôi, mắm tôm, thịt chó, trứng vịt lộn.[21]

Tổ chức cộng đồng

Theo truyền thống ngàn đời thì người Kinh sống theo làng. Nhiều làng họp lại thì thành một . Mỗi làng có thể có nhiều xóm. Nếu tính ra một thôn của miền Bắc thì bằng với một ấp của miền Nam. Trong các làng và xã đều có luật lệ riêng mà mọi người đều phải thi hánh. Các làng thường được che chắn bằng cách trồng tre hoặc xây cổng kiên cố. Mỗi làng đều có nơi hội tụ và thờ lạy chung. Một số làng có đình thờ thành hoàng làng, là người được coi là thần bảo hộ của làng. Vào thời xưa thì phụ nữ bị cấm không được đến đình làng.[21]

Văn hóa

Văn học của người Kinh đã từng tồn tại từ ngàn đời và được truyền miệng qua truyển cổ, ca dao, tục ngữ... Nghệ thuật phong phú như ca hát, âm nhạc, điêu khắc, hội họa, múa, diễn xướng... Hàng năm thì theo truyền thống các làng đều tổ chức hội làng với các sinh hoạt cộng đồng. Từ ngàn xưa thì người Kinh do chuyện ảnh hưởng từ Trung Quốc nên đã dùng chữ Hán nhưng sau này tự tạo chữ viết riêng là chữ Nôm[21] Bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ 16 với sự truyền giáo từ phương Tây, các giáo sĩ thấy việc cần dùng chữ cái Latin để ghi lại âm giọng tiếng Việt là cần thiết. Rồi từ đó đã xuất hiện chữ Quốc Ngữ và được sử dụng rộng rãi ngày nay.[23] Ngoài các giá trị vật chất, người Việt còn có những giá trị tâm linh như việc thờ cúng tổ tiên, giỗ và các lễ hội như Tết. Các tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Công giáo Rôma, đạo Cao Đài...[21]

Nhà cửa

Phong cách và hình dạng nhà cửa tùy theo từng vùngmiền. Chủ yếu là nhà đươc xây dựng bằng những vật liệu sẵn có như cỏ khô, rơm rạ, tre nứa. Nhà điển hình là nhà lá 3 gian hoặc 5 gian. Tuy nhiên do điều kiện thời tiết khí hậu nên nhà cửa ở miền trung và miền nam có chút ít khác biệt nhưng nhìn chung vẫn là kết cấu nhà 5 gian. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân nên nhà ở đã có sự thay đổi cả về kết cấu và vật liệu xây dựng. Hầu như nhà nào cũng có phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn và nhà bếp (đôi khi phòng ăn và nhà bếp là một).[21]

Trang phục

Trang phục Việt Nam đa dạng và muôn màu qua khăn áo, váy, quần, khố, mũ, nón, trang sức...[21]

Trang phục nam

Nói chung người Việt Nam dù ở Bắc, Trung hay Nam đều có cách mặc gần giống nhau. Các loại quần áo như áo ngắn mặc với quần lá tọa ống rộng, quần có cạp hoặc dùng dây rút. Thời xưa thì đàn ông để tóc dài, búi tó, hoặc thắt khăn đầu rìu,... Vào các lễ hội đặc biệt thì mặc áo dài khăn đống, mùa áo đơn giản không có văn hoa. Chân thì đi guốc mộc.[21]

Trang phục nữ

Trang phục truyền thống trong đám cưới của người Việt

Vào thời xưa thì phụ nữ người Kinh ai cũng mặc yếm. Váy thì váy dài với dây thắt lưng. Các loại nón thông thường như thúng, ba tầm... Trong những ngày hội thì người phụ nữ thường mặc áo dài. Các thiếu nữ thì hay làm búi tóc đuôi gà. Các đồ trang sức truyền thống như trâm, vòng cổ, hoa tai, nhẫn, vòng tay mang phong cách tùy theo từng vùng. Phụ nữ Nam Bộ thường mặc áo bà ba với các kiểu cổ như tròn, trái tim, bà lai với các khăn trùm đầu. Nón lá có thể nói là nón được sử dụng rộng rãi nhất cho phụ nữ thời xưa do nó có thể tự làm và che nắng rất tốt.[21]

Hôn nhân gia đình

Theo truyền thống thì người đàn ông là trụ cột gia đình. Các đứa con đều lấy họ cha và được coi là nối nghiệp tông đường. Dòng họ của bố là "họ nội" còn dòng họ bên mẹ là "họ ngoại". Đứa con trai đầu thường là người giao cho trọng trách nhiều nhất trong gia đình. Mỗi họ đều có chỗ thờ họ và người trưởng họ sẽ lo việc chung. Cháu trai của đời con trai đầu được gọi là "cháu đích tôn". Hôn nhân chỉ được chấp nhận dưới dạng một chồng một vợ.[21] Quan hệ đồng tính hiện chưa được chính phủ chấp nhận tại Việt Nam.[24][25] Việc cưới xin thì thưởng phải đi qua các nghi thức truyền thống của người Việt. Người Kinh coi trong sự trinh trắng và đức hạnh của người con gái và còn quan tâm đến gia thế của họ.[21]

Đánh giá

Những đánh giá về người Việt Nam hiện đại (thế kỷ 20-21) đã được một số học giả trong và ngoài nước đưa ra trong các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, các tiểu luận hay các công trình nghiên cứu xã hội học và dân tộc học. Các đánh giá này được nêu tại những thời điểm lịch sử khác nhau, bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, trong đó có một phần đáng kể về vai trò và tính hai mặt, ưu và nhược điểm trong tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán người Việt trong tiến trình phát triển của dân tộc. Các tổng kết dựa trên các nghiên cứu còn một số khác là nhận định cá nhân hay suy diễn logic của các học giả nổi tiếng. Tính hai mặt của người Việt Nam đã được đa số các học giả thừa nhận và khẳng định trong các công trình nghiên cứu về tâm lý, văn hóa, xã hội và lịch sử dân tộc. Những đặc điểm phổ biến trong tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán của người Việt mà các tác giả đã chỉ ra cũng không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của những điều kiện xã hội cùng với sự giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng, học thuật với thế giới.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă â Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2012.
  2. ^ Người Việt được công nhận là dân tộc thiểu số tại Séc - Nguoi Viet duoc cong nhan la dan toc thieu so tai Sec - DVO - Báo Đất Việt
  3. ^ Cizinci podle typu pobytu, pohlaví a státního občanství - k 31. 5. 2010
  4. ^ a ă Vietnamese American Population Estimates United States Census Bureau. truy cập ngày 30/6/2009
  5. ^ CIA - The World Factbook
  6. ^ Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Tạp chí Quê hương, 11/01/2005, 15:39:46 PM
  7. ^ Vietnamese in Taiwan fear an anti-Vietnam backlash may soon ensue
  8. ^ 1301.0 - Year Book Australia, 2005
  9. ^ Population by selected ethnic origins, by province and territory (2006 Census)
  10. ^ Afghani, Tajik of Afghanistan Ethnic People Profile
  11. ^ Statistisches Bundesamt Deutschland - Startseite
  12. ^ “Vietnamese Community in Great Britain”. Runnymede Trust. Truy cập 19/12/2008. 
  13. ^ http://www.oecd.org/dataoecd/18/23/34792376.xls
  14. ^ [1]
  15. ^ http://www.perepis2002.ru/ct/doc/TOM_04_03.xls
  16. ^ Immigrants and Norwegian-born to immigrant parents - SSB
  17. ^ Người Việt ở Phần Lan náo nức chuẩn bị Tết Mậu Tý - Tiền Phong Online
  18. ^ Hữu Ngọc: Phật giáo phù hợp với tư tưởng người Việt
  19. ^ Vietnam Tourism - Tôn giáo và tín ngưỡng Hiện nay, số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước.
  20. ^ SNIE 53-2-63, "The Situation in South Vietnam, 10 July 1963, President Diem, his family, and a large proportion of the top leaders of the regime are Roman Catholics, in a population that is 70 to 80 percent Buddhist
  21. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “thông tin chi tiết về người Kinh”. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012. 
  22. ^ Người Việt ở Tân đảo và hành trình xa xứ, Quang Lễ, Báo Công an nhân dân, 14/02/2010
  23. ^ “Quốc Ngữ”. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012. 
  24. ^ “Hôn nhân đồng giới”. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012. 
  25. ^ “Hôn nhân đồng tính ở Việt Nam - Khi nào Nhà nước công nhận?”. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012. 

Liên kết ngoài