Người La Hủ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
La Hủ/Lạp Hỗ

Kayaw woman with her child.jpg

Tên khác:
Ladhulsi, Kawzhawd
Tổng số dân
711.500 (ước)[1]
Khu vực có số dân đáng kể
Trung Quốc: Vân Nam (410.000)
Myanma
Việt Nam (6.874)
Thái Lan (25.000)
Lào (15.618)
Ngôn ngữ
tiếng La Hủ
Tôn giáo
Vật linh, Phật giáo, Kitô giáo

Người La Hủ, còn có các tên gọi khác như Xá Lá Vàng, Cò Xung, Khù Sung, Khả Quy; trong đó La Hủ hay Ladhulsi (La Hủ tộc) hay Kawzhawd là những tên tự gọi. Người La Hủ sinh sống tại Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, MyanmaLào.

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc La Hủ là một trong số 54 dân tộc của Việt Nam.

Ở Việt Nam có khoảng 6.874 người La Hủ (1999) sinh sống ở huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu), gồm 3 nhóm địa phương: La Hủ Sư (La Hủ vàng), La Hủ Na (La Hủ đen) và La Hủ Phung (La Hủ trắng).

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người La Hủ ở Việt Nam có dân số 9.651 người, cư trú tại 16 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Tuyệt đại đa số gười La Hủ cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (9.600 người, chiếm 99,47% tổng số người La Hủ tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Thái Nguyên (20 người), các tỉnh còn lại có không nhiều hơn 10 người[2].

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Hủ cũng là một trong số 56 dân tộc được chính thức công nhận của Trung Quốc với tên gọi là Lạp Hỗ (tiếng Hán: 拉祜族 Lāhùzú; Hán-Việt: Lạp Hỗ tộc). Ở Trung Quốc người La Hủ sống ở tỉnh Vân Nam với hơn 410.000 người.

Tại các quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, họ còn sinh sống ở Thái Lan, MyanmaLào. Có khoảng 25.000 người La Hủ ở Thái Lan và họ là một trong số 6 bộ tộc miền núi chủ yếu của nước này. Ở Lào, theo số liệu năm 1985, có 15.618 người La Hủ sinh sống.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ của người La Hủ gần nhất với ngôn ngữ của người Di, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến của hệ ngôn ngữ Hán-Tạng. Chữ viết của tiếng La Hủ sử dụng bộ chữ cái Latinh.

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia người La Hủ sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy và săn bắn, hái lượm. Công cụ lao động chủ yếu là con dao, chiếc cuốc. Từ vài chục năm nay, người La Hủ đã phát triển cây lúa nước và lúa nương làm nguồn lương thực chính và dùng trâu cày kéo. Đàn ông La Hủ đan ghế, mâm, chiếu, nong nia, v.v. bằng mây rất giỏi và đa số biết nghề rèn.

Hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong gia đình La Hủ, chỉ có con trai mới được thừa hưởng tài sản của cha mẹ. Theo phong tục La Hủ, trai gái được tự do yêu nhau và quyết định hạnh phúc của mình. Sau lễ cưới, chàng rể phải ở gia đình nhà vợ 2-3 năm, sau đó mới được đưa vợ về ở hẳn với mình. Phụ nữ La Hủ sinh nở tại buồng ngủ của mình. Sau 3 ngày đứa bé được đặt tên, nếu trong 3 ngày đó, nhà có khách thì người khách này được mời đặt tên cho đứa bé.

Tục lệ ma chay[sửa | sửa mã nguồn]

Người chết được chôn trong quan tài độc mộc. Trên mộ không dựng nhà mồ, không có rào bảo vệ.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Hủ có trên một chục điệu múa khèn. Thanh niên thích thổi khèn bầu. Các bài hát tuy thường dùng tiếng Hà Nhì nhưng có nhịp điệu riêng, trong đó từng ngày được xác định theo chu kỳ 12 con vật (hổ, thỏ, rồng, chấy, ngựa, cừu, gà, chó, lợn, sóc, trâu).

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Hủ lập bản trên sườn núi. Thực hiện định canh định cư, một số bản chuyển xuống địa bàn thấp hơn. Từ chỗ nhà cửa tạm bợ, nay họ đã làm nhà ở bền chắc hơn, phần lớn là nhà trệt với vách bằng phên. Trong nhà, bàn thờ tổ tiên và bếp bao giờ cũng đặt tại gian có chỗ ngủ của chủ gia đình.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Nam giới La Hủ mặc quần áo giống như các dân tộc khác ở vùng Tây Bắc. Phụ nữ mặc quần, ngày thường mặc áo dài xuống tới cổ chân, ngày lễ tết mặc thêm áo ngắn. Ở cổ áo, nẹp ngực, ống tay có thêu hoặc đáp vải các màu, có đính thêm xu bạc, xu nhôm và các bông chỉ đỏ.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Matisoff, James A. (2006). English-Lahu Lexicon. Google Books: Nhà in Đại học California. tr. xi–xii. 
  2. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.