Người Miến
| Bài viết này có chứa các ký tự Myanma. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Myanma. |
| Tổng dân số |
|---|
|
c. 30.000.000 |
| Khu vực đông người sinh sống |
| Myanma |
| Ngôn ngữ |
| Tiếng Myanma |
| Tín ngưỡng |
| Thượng tọa bộ |
| Nhóm dân tộc liên quan |
| người Yi, Nakhi, người Tây Tạng và ở mức độ ít hơn người Bodo và Karen |
Người Miến (tiếng Myanma: ဗမာလူမျိုး; chuyển tự Latinh: ba. ma lu myui:; phiên âm quốc tế: [bəmà lùmjó]) là sắc tộc đông nhất ở Myanma, với tổng số khoảng 30 triệu người, chiếm 80% dân số cả nước. Người Miến, nói chung, tóc đen thẳng, da sáng. Người Miến nhiều khi được gọi là người Myanma. Tuy nhiên, cách gọi này không rõ ràng, bởi vì những công dân Myanma không thuộc sắc tộc Miến cũng được gọi chung là người Myanma.
Người Miến nói tiếng Myanma - một ngôn ngữ mà phần lớn từ vựng là từ đơn âm tiết và có thanh điệu, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến. Phần đông (90%) người Miến theo Phật giáo Thượng tọa bộ. Tổ tiên người Miến di cư từ Vân Nam hiện đại tới phần lưu vực sông Ayeyarwady ở Thượng Miến cách nay khoảng 1200–1500 năm. Họ dần thay thế người Môn và người Pyu làm sắc tộc thống trị ở lưu vực sông Ayeyarwady. Ở Myanma hiện nay, người Miến sinh sống chủ yếu ở lưu vực sông Ayeyarwady từ trung lưu xuống phía nam, lưu vực sông Sittaung, vùng ven biển. Nhiều người Miến định cư ở nước ngoài, nhất là Vương quốc Anh và các nước nói tiếng Anh khác.
Trong lịch sử, các triều đại của người Miến liên tục thống nhất và cai trị Myanma.
Người Myanma có quan hệ gần với người Rakhine.
Tham khảo[sửa]
- Khin Myo Chit (1980). Flowers and Festivals Round the Burmese Year.
- Tsaya (1886). Myam-Ma, The Home of the Burman. Calcutta: Thacker, Spink and Co. tr. 36–37.